Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Múa phong tục, múa tôn giáo Khơme Nam Bộ

Chủ Nhật, 09/11/2014 11:37 GMT +7
NSND. Lê Ngọc Canh
(Hội Nghệ sĩ Múa Việt Nam )

 
1. Múa Phong tục
 
Múa trong đám cưới (Pithi-Apea-Pipêan)
 
Múa trong đám cưới có nhiều điệu khác nhau theo một trật tự, được quy định bởi luật tục của người Khơme, thành hệ thống bài múa hát, tổ khúc múa. Người điểu khiển, thực hiện nghi thức múa hát trong đám cưới là ông Maha vừa là thầy cúng, vừa sắm nhiều vai diễn múa hát và là người dẫn chương trình. Trong múa đám cưới có khi tập thể bạn bè, họ tộc cùng tham gia múa hát, tạo cho không khí đám cưới vui tươi lành mạnh, họ vỗ tay, lắc mông, lắc vai hò hát.
 
Đám cưới của người Khơme đồng bằng sông Cửu Long thường từ tháng 10 đến tháng 4 âm lịch, trước tết năm mới, đám cưới của người Khơme phải qua một quy trình trật tự nhất định.

Lễ Si-slu-dâk (ăn trầu cau - dạm ngõ)
Lễ Si-sla-kân-sèng (lễ ăn hỏi)
Lễ Si-sla-banh Cheabpeak (lễ xin cưới)

Trong nghi lễ đám cưới của người Khơme có những điệu múa quan trọng:

Múa mở rào
Múa rắc hoa cau
Múa quét chiếu
Múa cắt tóc
 
Múa mở rào
 
Múa đầu tiên là múa nghi thức mở rào (Rôm bơk rô băng):
 
Vào ngày giờ đã định, bên nhà gái biết bên nhà trai sắp đến rước dâu, nên gài cổng lại bằng những nhánh gai để ngăn không cho vào. Việc rào kín cổng này có tượng trưng cho một ý đẹp là “cô gái còn trinh tiết”. Theo quy ước, đoàn nhà trai đến đây dừng lại, ông Maha phải đứng ra nói xin mở rào. Lời qua lời lại mà rào vẫn còn nguyên, lúc ấy ông Maha mới múa xin mời vào (đoàn nhà trai sang nhà gái có cả dàn nhạc đệm, nhạc múa ăn ý với nhau thật nhuần nhuyễn, cùng với nét mặt diễn cảm của ông Maha trông sao vừa kiên nhẫn khi ông múa tay không, vừa thiết tha khi ông muốn nói...). Múa tổ hợp mở rào gồm bốn tổ hợp múa với đạo cụ và tay không: Múa tay không, múa roi, múa dao (kiếm), múa vái ông Tà và biểu cảm gặp nhiều khó khăn. Nhưng cuối cùng cũng tỏ ra cương quyết khi ông múa gươm đòi cho được “mở rào”. Nghĩa là “điệu múa mở rào” phải được ông Maha thực hiện bao lần thật trôi chảy thì rào mới được mở cho đoàn nhà trai vào nhà.
 
Múa rắc hoa cau
 
Vào buổi sáng giờ tốt ngày thứ ba của đám cưới. Giờ tốt gọi là Yôk-pê-lea. Người Khơme cho rằng có ba giờ tốt, đó là giờ chim bay, giờ thấy được chỉ bàn tay, giờ mặt trời mọc, do nhà gái chọn giờ. Nhà gái làm một bàn thờ đặt ở sân nhà, gọi là trời đặt vật phẩm để cúng và làm lễ buộc chỉ cổ tay cho cô dâu, chú rể (chol day). Cô dâu, chú rể ngồi bên nhau, trước “bàn trời” ông Maha làm lễ, rồi múa rắc hoa cau. Rắc hoa cau lên người cô dâu, chú rể, rồi vừa đi vừa múa, vừa rắc hoa cau trên đường đến phòng tân hôn.
 
Múa rắc hoa cau không thể thiếu được trong đám cưới của người Khơme. Nhất là ngày rước dâu về nhà chồng. Hoa cau còn có ý nghĩa tượng trưng cho sự sinh sản và tính ngay thẳng. Đó là một ý đẹp, một điệu múa đẹp của đám cưới người Khơme.
 
Thực hiện múa rắc hoa cau là ông Maha (ông mai) dùng những động tác múa nhẹ nhàng tung hoa cau lên người cô dâu, chú rể trên đường đi đến buồng tân hôn. Múa rắc hoa cau là chúc mừng hạnh phúc của đôi trai gái sống hạnh phúc, bền vững.
 
Múa rắc hoa cau có sự kết hợp với những bài hát có ý nghĩa chúc mừng sự tốt đẹp, hạnh phúc, gồm những bài: Bông cau lớn, bông cau giữa, bông cau út.
 
Múa mở nắp trầu (Rôm bơ bai srây)
 
Điệu múa mô phỏng những động tác mời, chào mở nắp trầu. Ông Maha vừa đi vừa múa mời chào mọi người đến buộc chỉ cổ tay cho cô dâu, chú rể, chúc mừng họ thành vợ thành chồng (Rôm bơ bai srây). Sau đó tiến hành nghi lễ buộc chỉ cổ tay gọi là lễ Châng-đai, rồi múa hát với ba bông cau: “bông cau lớn, bông cau giữa, bông cau bé (bông cau út)” nhằm ca ngợi cô dâu chú rể xinh đẹp, hòa thuận, sống trọn đời với nhau.
 
Múa quét chiếu (Bôs-Kân-tel)
 
Theo tục lệ xưa truyền là mọi người đến dự cưới trước khi ra về, rời khỏi chiếu thường có để một vật quý gì đó cho ông Maha. Nên ông Maha vừa múa vừa thu nhận các tặng phẩm.
 
Nhưng có lẽ ý nghĩa quan trọng là ông Maha vừa múa vừa gập chiếu, cuốn chiếu và chiếu ấy sẽ trải lên giường cho cô dâu, chú rể.
 
Múa cắt tóc
 
Một điệu múa rất vui ngộ nghĩnh trong đám cưới của người Khơme. Môtip chủ đạo là phóng đại động tác cắt tóc trong đời thường thành động tác nghệ thuật múa. Những động tác đi lượn, nhìn, ngó, rửa mặt, cắt tóc, lượn kéo làm đẹp cho cô dâu, chú rể, dáng đi khom khom, hất chân phía sau, nhảy nhỏ làm cho điệu múa rất vui, rất hấp dẫn.
 
Những điệu múa phong tục, tín ngưỡng dân gian Khơme đã trở thành định ước, luật tục trong các nghi lễ cưới hỏi, trong phong tục tập quán của sinh hoạt cộng đồng.
 
Tuy là phong tục, tín ngưỡng nhưng bản chất, chất liệu đều hàm chứa múa dân gian Khơme rất đậm nét. Cũng có thể nói múa dân gian được ứng dụng phát triển trong múa tín ngưỡng, phong tục của người Khơme.
 
2.3. Hình thái múa tôn giáo
 
Văn hóa Khơme vùng Nam Bộ, gồm nhiều loại hình văn hóa, như văn hóa dân gian, văn hóa tín ngưỡng, văn hóa tôn giáo. Tuy có sự khác nhau, nhưng trong đời sống văn hóa cộng đồng người Khơme thì lại có mối quan hệ, đan xen với nhau khá chặt chẽ, có yếu tố đa dạng trong chỉnh thể thống nhất. Ví dụ như lễ hội cúng trăng (ók om Bók) hay tết cổ truyền Chol Ch’nam Th’mây, diễn ra ở gia đình và ở chùa. Chùa Khơme là trung tâm sinh hoạt văn hóa Phật giáo, nhưng cũng là trung tâm sinh hoạt văn hóa dân gian, sinh hoạt nghệ thuật dân gian.
 
Do vậy, hình thái múa tôn giáo cũng chịu tác động, ảnh hưởng của mối quan hệ văn hóa trên. Có thể khảo cứu tết cổ truyền Chol Ch’nam Th’mây để nhận biết mối quan hệ đan xen văn hóa của người Khơme.
 
Lễ năm mới (Pithi Chol Ch’nam Th’mây)
 
Lễ năm mới hay là lễ vào năm mới là tết chính của người Khơme vùng đồng bằng sông Cửu Long, tổ chức vào đầu tháng “Chét” (tháng 7 lịch Khơme - Phật lịch Tiểu thừa), khoảng tháng 4 dương lịch. Bình thường tổ chức tết vào 13 tháng 4 dương lịch, năm nhuận tổ chức vào 14 tháng 4 dương lịch. Ví như Tết nguyên đán của người Việt.
 
Ngày đầu tiên của năm mới là ngày “Chol Sang Kran Th’mây”, ngày giữa gọi là Wonbớt (năm nhuận thì Wonbớt hai ngày), còn ngày cuối gọi là “Lơm Săk”...
 
Trong đêm giao thừa mọi nhà đốt đèn thắp hương làm lễ đưa “Têvôđa” là vị thần trời sai xuống chăm lo cho dân chúng trong một năm, hết năm lại đưa vị khác xuống thay công việc đó.
 
Họ cầu mong một năm mới mọi sự tốt lành, ấm no, hạnh phúc, mùa màng bội thu, mưa thuận, gió hòa.
 
Trong dịp Tết năm mới, người Khơme có tục đắp núi cát (Phnom-Khsach) theo hình tháp (Sthâup), quanh chính diện. Có chùa lại có tục đắp núi lúa (Pun-phnom-srâu). Vì người Khơme tin rằng núi có thể cản được những đám mây và cầu cho mưa đến. Liên quan đến việc đào ao, đắp núi để cản mây, chứa nước, tìm nguồn nước. Đắp núi cát, đắp núi lúa có nhiều dị bản khác nhau, nhưng đều chung ý nghĩa cầu mưa, cầu mùa cho mùa màng tốt tươi.
 
Lễ tết Chol Ch’nam Th’mây là tết cổ truyền, nhưng sau đêm giao thừa thì lại diễn ra ở chùa là chủ yếu. Những ngày tết cổ truyền diễn ra nhiều loại hình sinh hoạt văn hóa tại chùa, như trình diễn ca, múa, nhạc, sân khấu Dì Kê, Dù Kê, Rô Băm. Tết Chol Ch’nam Th’mây diễn ra ở chùa tương ứng như tết của người Việt diễn ra ở gia đình, rồi chuyển ra đình, miếu, nơi trình diễn văn hóa nghệ thuật và các loại hình văn hóa dân gian.
 
Trong dịp Tết năm mới ta lại bắt gặp những điệu múa đã được sử dụng trong lễ cúng trăng, đó là múa trống Xayam, múa dâng bông, múa đua ghe ngo cạn (Um-tuk-lơ-Kôk), múa rồng, múa sư tử, Rồm Lêu và sân khấu Rom Rô Băm, Dì Kê, Dù Kê.
 
Có thể nói Tết năm mới là hội mùa, hội múa hát của người Khơme vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà trung tâm tết, lễ hội là diễn ra ở chùa.
 
Lễ hội cúng trăng (ók om Bók)
 
Ngay lễ hội cúng trăng ók om Bók - lễ hội nông nghiệp cũng diễn ra ở chùa và trên sông. Trong lễ hội này cũng có sự tham gia của múa dân gian, như múa trống Xayam, múa đua ghe ngo cạn, múa dâng hương trong đám rước cùng với mô hình chùa (Loi prô tip). Mô hình chùa làm rất đẹp, màu sắc rực rỡ, đèn hoa lung linh được trag trí trong mô hình chùa. Một biểu tượng thiêng liêng cao quý, nơi gửi gắm nỗi niềm tâm linh của dân chúng.
 
Trong đám rước mô hình chùa còn có hình người và nữ cầm bông lúa với tư thế múa đặc trưng của người Khơme, các mô hình đèn hoa sen, đèn nến, cây bông lá ngọc cành vàng, mâm đặt các lễ vật về nông nghiệp và nhất thiết phải có cốm dẹt (Bon san peach) để cúng dâng thần mặt trăng. Tất cả các mô hình vật phẩm trên đầu có thắp nến và đặt trên các bẹ chuối, cây chuối.
 
Đám rước mô hình chùa (Loi prô tip) được tiến hành tại khuôn viên của chùa rồi rước ra bờ sông, tất cả mô hình lễ vật trên đều thả trên dòng sông. Đồng thời lúc đó đốt đèn lồng tung bay trên không trung. Đèn lồng soi sáng để mời thần mặt trăng tiếp nhận những lễ vật, nỗi niềm tâm linh dâng lên đấng tối cao, cầu nguyện cho mùa màng tươi tốt, ấm no hạnh phúc.
 
Toàn cảnh lễ hội cúng trăng được kết thúc trên dòng sông như cảnh thần tiên với những chiếc đèn lồng màu sắc rực rỡ trên bầu trời lộng gió, lung linh trên trời cao và những ánh đèn lấp lánh kín trên mặt sông nước long lanh, êm đềm, gợn sóng lững lờ trôi.
 
Âm nhạc ngũ âm và những điệu múa rộn ràng, thánh thót như gửi theo gió, mây, nâng cánh bay cho những lễ vật trên sông bay lên trời xanh thăm thẳm kính dâng thần mặt trăng của cư dân nông nghiệp lúa nước.
 
Lễ hội cúng trăng (ók om Bók) thật tuyệt vời, ngoạn mục, một nét văn hóa đặc sắc của người Khơme vùng đồng bằng sông Cửu Long.
 
Tuy vậy, qua sự hiểu biết, sưu tầm điền dã cũng cho thấy hình thái múa tôn giáo, mà cụ thể là múa Phật giáo Khơme có một điệu múa dâng bông (dâng hoa) là thuộc hình thái múa tôn giáo (Phật giáo).
 
Múa dâng bông (dâng hoa)
 
Điệu múa này do nữ thực hiện, thường trình diễn trong các lễ hội chùa, với ý nghĩa tạ ơn, dâng lên Đức Phật những bông hoa thành kính, cầu ước Đức Phật ban phúc lành cho muôn dân. Điệu múa này thường trình diễn chính yếu vào dịp lễ Phật đản, lễ hội cúng trăng (ók om Bók), tết cổ truyền Chol Ch’nam Th’mây và đám rước có mô hình chùa trong các lễ hội.
 
Đạo cụ múa là những cành hoa, bình hoa làm bằng giấy rất đẹp, màu sắc rực rỡ thuộc loại lá ngọc cành vàng, thường là múa với bình hoa. Bình hoa thường đội trên đầu, hai tay giơ lên đỡ bình hoa. Khi một tay đỡ bình hoa, một tay múa, kết hợp với bước đi nhún nhẹ và xoay người sang bên phải, trái. Tiếp theo dâng bình hoa lên cao, đưa bình hoa ra phía trước, dâng lên, hạ xuống, rồi lại đội bình hoa lên đầu. Khi biến đổi, bình hoa vác trên vai, một tay đỡ bình hoa, một tay múa uốn bật cổ tay ra phía trước, kết một chân trụ khuỵu, một  chân đưa ra phía sau, hơi gập gói. Có lúc đặt bình hoa xuống, hai tay múa, quỳ hai gối, chân đưa ra phía sau, uốn người cong ra phía sau, hai tay uốn bật song song uốn theo hướng người ngả.
 
Như vậy múa dâng bông có nhiều tổ hợp múa biến đổi khác nhau, tạo ra điệu múa đẹp, thành kính dâng lên Đức Phật.
 
Nếu múa trong lễ hội, rước mô hình chùa, thì múa dâng bông đi phía trước mô hình chùa, múa diễu hành trong lễ hội thì tổ hợp múa đơn giản, vừa đi, vừa múa.
 
Như vậy múa dâng bông (dâng hoa) được trình diễn ở những không gian, hoàn cảnh khác nhau, đó là múa trong chùa và múa trong đám rước./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}