Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Chủ Nhật, 24/02/2019 01:59

Bài viết:

 

Năm quan điểm văn hóa nhìn từ độ lùi thời gian

Hồ Sĩ Vịnh | Thứ Ba, 10/11/2015 09:15 GMT +7
Sau 55 năm Đề cương văn hóa Việt Nam - 1943 ra đời, Đảng đã công bố Nghị quyết chuyên đề văn hóa trong giai đoạn đầu đổi mới (Nghị quyết TƯ 5 khóa VIII - 1998). Khi đó, nội hàm văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng của Hồ Chí Minh, kết hợp với những vấn đề học thuật trong nước và thế giới, khái quát thành 5 quan điểm: văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực của phát triển; nền văn hóa đang xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc; nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng cộng sản lãnh đạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng; văn hóa là một mặt trận, xây dựng văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng.
 
Với đội lùi thời gian hơn một phần tư thế kỷ đổi mới, khi nước ta đang hội nhập sâu vào thế giới, chủ trương đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ quốc tế..., thì những quan điểm trên về cơ bản là chuẩn xác, được văn kiện các đại hội sau cho đến đại hội Đảng XI (2011) kế thừa. Trong điều kiện lịch sử của những thập kỷ đầu TK XX, hiểu quan điểm văn hóa, vận dụng tri thức văn hóa vào thực tiễn, cần có tầm nhìn khoáng đạt, tư duy thực tiễn nếu không muốn rơi vào tình trạng trì trệ, nghèo nàn của sức sáng tạo. Descartes, nhà triết học nổi tiếng Pháp TK XVII, đã chỉ ra: phương pháp tư duy thực nghiệm nghiên cứu một đối tượng nào cũng cần có cái nhìn bao quát thực tiễn quá khứ, hiện tại, tương lai, từ đó mà định ra phương pháp nghiên cứu để đem lại tri thức. Dưới đây là mấy kiến giải, tái nhận thức, có thể gây tranh biện, tìm đến sức thuyết phục số đông khi nghĩ về các quan điểm văn hóa.
 
1. Văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực của phát triển
 
Văn hóa trở thành nền tảng tinh thần vững chắc, sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển nên hiểu như thế nào? Tinh thần là khái niệm phản ánh vật chất, mang tính độc lập tương đối. Nếu nền tảng vật chất bao gồm các nhu cầu và hoạt động: ăn, ở, mặc, đi lại, lao động, sáng tạo và các nhu cầu thiết yếu khác, thì nền tảng tinh thần là lĩnh vực sáng tạo tinh thần: khoa học công nghệ, văn hóa nghệ thuật, giáo dục, dân trí, bồi dưỡng năng khiếu, khuyến khích nhân tài, tôn vinh danh nhân, nhu cầu thưởng thức các loại hình nghệ thuật, niềm tin tôn giáo... Văn hóa tự bản chất là một tập hợp rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực đời sống. Nhờ có tinh thần mà con người không chỉ phản ánh hiện thực mà còn cải biến nó. Có lúc, có nơi tinh thần biến thành sức mạnh vật chất, đi trước vật chất, mà ngày nay các chính khách gọi là quyền lực mềm. Quyền lực mềm có khi đi trước kinh tế, quân sự. Trong lịch sử giữ nước, cha ông ta đã vận dụng trí tuệ thông minh, ứng xử khéo léo, nghĩa cử hòa hiếu để biến tinh thần thành sức mạnh nội sinh. Sau khi đánh tan 29 vạn quân Thanh, để phòng ngừa tâm lý phục thù nước lớn, vua Quang Trung đã có những hành xử nhân đạo với kẻ thua trận được thể hiện trong Chiếu dụ giặc Tàu ô, Biểu đòi lại bảy châu xứ Hưng Hóa. Ở bài sau, lời lẻ nhã nhặn, lịch thiệp, nhưng về nguyên tắc thì dứt khoát không nhân nhượng. Việc dâng biểu cho vua Thanh diễn ra đồng thời với việc “các quan chức văn võ đến địa hạt Hưng Hóa lần lượt điều tra cho rằng, địa giới của bảy châu để đưa về đồ bạ của bản gốc”(1). Cảm kích trước thiện ý của vua Nam, Càn Long sai Tổng đốc lưỡng Quảng mang sâm sang biếu thân mẫu Quang Trung lúc bị ốm. Phương châm xử thế của Quang Trung là: ở bên cạnh nước lớn mà vẫn yên ổn. Còn sức mạnh nội sinh? Phải kể trước hết là chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự cường, tính cộng đồng cao, ý thức đồng thuận lớn, tính cần cù, cường độ lao động, truyền thống hiếu học, giá trị nhân văn truyền thống trong gia đình Việt: nhà, làng, nước (gia phong, lệ làng, phép nước).
 
2. Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
 
Khi biện giải quan điểm này, cần lưu ý hai điểm đặt ra trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nói tiên tiến là nói tư tưởng tiến bộ, lý tưởng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời là hiện đại hóa trong lối sống, thiết chế văn hóa. Hiện đại hóa không đồng nhất với phương Tây hóa, Mỹ hóa, sự đồng phục trong ăn, mặc, sự lạm dụng và tôn sùng lối sống xô bồ càn rởm của một phần xã hội phương Tây. Cần có những cơ chế, định thức bảo hiểm, tức là phải xây dựng, tổng kết hệ giá trị mới của tính cách dân tộc và sản phẩm sáng tạo. Bây giờ, nếu hỏi một bộ phận có trình độ dân trí tương đối về hệ giá trị mới (xã hội chủ nghĩa) của ta, chắc chắn sẽ lúng túng khi chưa có đáp số. Theo chúng tôi, hệ giá trị mới nảy sinh trên mảnh đất thời đại với thành tựu của các ngành công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kinh tế tri thức, công nghệ vật liệu đang đi vào mọi lĩnh vực đời sống, thì văn hóa cần phát triển theo phương châm: dân tộc hóa, khoa học hóa, dân chủ hóa, nhân văn, hiện đại. Giá trị mới cũng bắt nguồn từ bản sắc dân tộc, nhưng bản sắc không hoàn toàn là khái niệm bất biến. Điều quan trọng là giữ cho được tinh, khí, thần, hồn thiêng sông núi, hồn cốt của người Việt Nam. Khí trong văn hóa tinh thần của người Việt không có tính chất siêu hình, mơ hồ như trong Kinh dịch; khí là khí thế, khí huyết, vượng khí trong lao động sáng tạo. Đồng thời không bỏ lỡ cơ hội để học cái hay, cái đẹp của người, ngăn ngừa tâm lý bài ngoại, phục ngoại, sao chép của ngoại một cách vô cớ. Đây là cuộc đấu tranh triền miên giữa hành vi bảo vệ bản sắc dân tộc, chấp nhận đa dạng văn hóa, chống mọi dòng đục văn hóa thứ cấp, yếu tố phi nhân tính không phù hợp với truyền thống dân tộc: tâm lý, thị hiếu, tập quán, trình độ dân trí của nhân dân. Truyền thống không phải là cái bất biến. Có cái được kế thừa, nếu phù hợp với xu thế hiện đại, có cái mất đi do không có tiền đề bảo tồn, lại có cái tái sinh cả tiến bộ và lạc hậu. Tư duy nhân loại không ngừng phát triển. Tương đối hóa các thang giá trị là đặc điểm của văn hóa hậu hiện đại. Ngoài những giá trị cơ bản về logic là cái đúng và cái sai, nay thêm một giá trị nữa là xác suất (nói nôm na là vừa đúng vừa sai). Những hiện tượng tự phát này hiện nay xuất hiện bừa bãi: chuyện xem sao đoán mệnh, hái lộc, bẻ cành cây, xin lộc ấn các đền thiêng. Ở Tây Nguyên lâu nay vẫn bảo tồn lễ hội đâm trâu. Đó là một hủ tục, trái tự nhiên thường được một số nhà nghiên cứu quy cho ai phản bác như là sự thiếu tôn trọng truyền thống dân tộc ít người, mượn cớ là lễ hội giết trâu thay cho vật cúng dâng thần linh là người con gái đẹp buôn làng?! Ở miền xuôi, mươi năm gần đây lại xuất hiện lên đồng, hầu đồng dưới danh nghĩa là tín ngưỡng đạo Mẫu. Ngày trước, hiện tượng này nhằm mục đích thỏa mãn tín ngưỡng cá nhân, cầu tài, cầu lộc, giải trừ tai ách thì ít, mà vụ lợi thì không ít, biến sinh hoạt tâm linh thành hiện tượng hầu đồng được phục hồi tự phát. Thậm chí hiện tượng tiền phật hậu mẫu được các nhà sư mở phủ, trình đồng, coi mình là con nhang đệ tử của đạo Mẫu; hiện tượng một số chân đồng trộn lẫn hành vi thanh đồng với việc tôn thờ đức thánh Trần... Sự hỗn dung tín ngưỡng chăng? Không phải. Tôi đồng thanh với luận giải của nhà văn hóa Bùi Trọng Hiền trong một bài viết sắc sảo: “Thời nay, không phải vô cớ mà giới đồng bóng định danh khái niệm đồng đua nhằm chỉ hiện tượng đua đòi hám danh trong tín ngưỡng tứ phủ để khoe mẽ. Những vấn hầu tốn kém bạc tỉ linh đình là một trong những biểu hiện sống động của dạng này… Mọi quan hệ cung cầu mang tính chất thương mại giữa thủ nhang đồng đền, cung văn và chân đồng ngày càng phức tạp… mọi hiện tượng tốt xấu phát sinh tha hồ nở rộ như cho thuê quần áo hầu, người hầu dâng, múa phụ họa, làm đồ mã, viết sớ, quay phim, chụp ảnh…; đua nhau trùng tu bừa bãi với những vật liệu mới lạ, đắt tiền (phần lớn là của Tàu, Pháp, Nhật)... Những hiện tượng diêm dúa hóa di tích thực sự là vấn nạn của giới bảo tồn văn hóa…”(2). Tiếc thay, do nhẹ dạ cả tin, có thời ở Hà Nội không ít những thân đồng phải bán sạch gia sản để lo hầu thánh, còn hiện nay cũng có không ít quan viên cấp cao nhà nước không biết vô thức hay hữu ý đã “làm sang” cho một số buổi hầu đồng ở một vài phủ, đền, quanh Hồ Tây (Hà Nội) mà người viết bài này chứng kiến.
 
3. Xây dựng nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam
 
Quan điểm này là mẫu số chung hiện chứng: thống nhất - đồng thuận, chứ không phải không có mâu thuẫn, biến số, phát triển, truyền thống văn hóa của người Kinh và các dân tộc thiểu số đều có những giá trị, vật báu. Thống nhất mà không dựa trên cơ sở tự nguyện, dùng sức ép, lấy tiêu chí số đông để thẩm định cái khác biệt dẫn đến sự đoàn kết hình thức, thậm chí chủ nghĩa dân tộc lớn; đa dạng mà thiếu trong sáng về động cơ, không dựa trên quy luật thừa kế, thì văn hóa các dân tộc thường khó phát triển, thậm chí chệch hướng. Vai trò của ngôn ngữ dân tộc, sự bình đẳng trong ý thức và hành xử, tính khác biệt sáng tạo, tính đa dạng văn hóa cần được tôn trọng thực lòng, đúng mức. Trong đời sống, người ta thường nói các dân tộc thiểu số phấn đấu để tiến kịp dân tộc đa số chỉ mới đúng một nửa, còn nửa kia chưa chắc đã ai hơn ai. Ví dụ: Các buôn làng dân tộc thiểu số, vùng xa, vùng sâu nông thôn là nơi cất giữ vững bền những giá trị truyền thống, là con đê ngăn chặn có hiệu quả tệ sùng ngoại, lề thói bắt chước vô duyên, kệch cỡm lối sống một số trong giới trẻ, chống đỡ sự va đập với các loại hình nghệ thuật thứ cấp từ bên ngoài ùa vào trong bối cảnh toàn cầu hóa.
 
4. Xây dựng nền văn hóa toàn dân
 
Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó có đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng. Sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với văn hóa là quy luật tất yếu. Nhưng cần tô đậm mấy luận giải sau mà trước đây, do nhiều lẽ, phía lãnh đạo văn hóa, văn nghệ thường có chiều hướng áp đặt, có thời mang tiếng đảng trị: Đó là chưa thực sự coi trọng đặc trưng nghệ thuật và sáng tạo văn nghệ. Đây là lĩnh vực nhạy cảm, có tính độc lập tương đối, đòi hỏi sáng kiến cá nhân, tôn trọng cá tính sáng tạo của nghệ sĩ. Không nên lấy lập trường chính trị, ý thức chính trị làm tiêu chí để thẩm định tác phẩm, dễ dẫn đến hành xử máy móc, thô thiển. Về các nhà văn hóa, văn nghệ sĩ nên coi đường lối văn hóa của Đảng là ánh sáng, trí tuệ, định hướng cho con đường sáng tạo là mệnh lệnh của trái tim, đòi hỏi con tim rung động tối đa, bầu máu nóng chân thành của nghệ sĩ dù anh chị là đảng viên hay người chưa vào đảng. Cả hai hiện tượng trên dù với động cơ nào cũng nên được lưu tâm trong quá trình sáng tạo.
 
Luận điểm bổ sung coi đội ngũ tri thức đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến là hợp lý, hợp thời, hợp lòng dân. Từ thời trung thế kỷ, nhà thần học Thomas Aquinas có câu nói nổi tiếng “tri thức là sức mạnh” đã ảnh hưởng đến toàn bộ văn hóa phương Tây mấy trăm năm. Thời nay, Bill Gates, nhà tỷ phú hàng đầu Mỹ qua hành trình nhiều năm trong kinh doanh và hoạt động xã hội đã rút ra bài học đường đời: “tri thức là sức mạnh”. Trong triết học phương Đông, các nhà triết học thường tư duy bằng trực giác, nhìn mọi vật từ khuynh hướng vô cùng, thiếu khúc chiết. Tôn trọng truyền thống, học tập truyền thống được coi như một tiền lệ mỗi khi gặp những thách thức. Từ chỗ đó tạo nên một khuynh hướng mà học giới gọi là triết học hậu thoái về lịch sử (unephilosophie regressive de l’histoire)(3). Điều đó chỉ đúng một nửa, bởi nó dễ bị khuôn vàng thước ngọc, trói buộc. Tình thế đó đòi hỏi giới trí thức cần khai phóng tư duy độc lập, lật trở sáng tạo, tìm kiếm phương pháp bởi phương pháp sinh ra tri thức, đừng sợ tranh biện, cần có sự hoài nghi mang tính khoa học (doute scientifique) bởi nó tìm ra chân lý, mà chân lý là cụ thể.
 
Nhiều thập kỷ trước đây, không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh coi 5 phẩm chất trong đạo đức của người cán bộ là: trí, tín, nhân, dũng, liêm, mà số một là trí. Tôi hiểu trí là trí tuệ, tri thức, ánh sáng; tri và trí hỗn hợp là tri thức đa ngành, xuyên ngành, tri thức của phương pháp trong tư duy thực tiễn và tư duy suy định, tránh xa lối suy nghĩ sáo mòn, lối hành xử kinh nghiệm chủ nghĩa dẫn đến thảm trạng bảo thủ, trì trệ. Nhà toán học Mỹ gốc Áo Kyrt Godel có lần nói, mọi lý thuyết toán học dù mạnh, nếu phi mâu thuẫn thì không đầy đủ, không tự chứng minh được tính phi mâu thuẫn của mình. Mọi vấn đề nan giải trong vũ trụ, thiên nhiên, xã hội là những bài toán khó, cần đặt chúng vào phương trình và tìm cách giải. Ra đề sai thì hậu quả xấu đã đành; ra đề đúng, nhưng giải sai là không có đáp số chuẩn. Trong hơn một phần tư thế kỷ qua, đường lối đổi mới do Đảng đề xướng đã thu được một số thành quả về cởi trói phương thức sản xuất trước khi đổi mới chính trị, nhờ ra đề đúng, giải đúng nên hợp lòng dân, đưa lại chính sách an dân thời hậu chiến. Nhưng ở bình diện tổ chức, xây dựng Đảng, lĩnh vực giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ đảng viên, công chức, lớp trẻ lại bị buông lỏng. Sự tha hóa quyền lực, tha hóa lao động là hai hệ quả của nhà nước quan liêu, cồng kềnh do sự vận dụng thô bạo giáo điều quan điểm đấu tranh giai cấp vào việc đào tạo, sử dụng nhân tài, dù họ từ đâu, hình thành như thế nào miễn là họ trung thành với lý tưởng: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Kết quả là sự thua thiệt trong việc hội tụ trí thức tài năng.
 
5. Văn hóa là một mặt trận
 
Theo quan điểm biện chứng lịch sử, đây là vấn đề quan thiết trong điều kiện chiến tranh chống xâm lược. Hồ Chí Minh hơn một lần nói về luận điểm này: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy (1951); văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng (31-8-1960); nhân sĩ phải là chiến sĩ (3-2-1960). Từ đó cho đến khi qua đời, dù cách diễn đạt khác nhau nhưng nội dung nói trên vẫn được Người giữ lại hồn cốt của người nghệ sĩ: đoàn kết, sáng tạo, phục vụ dân. Trong điều kiện lịch sử mới, khái niệm mặt trận dành cho văn hóa sẽ eo hẹp, có khi khó tập hợp tài năng từ nhiều phía, nhiều triết thuyết, kể cả những người trước đây chưa thiện cảm với ta, nay nhận ra chính tâm, chính nghĩa, nể phục một nền văn hóa có bề dày về giá trị nhân văn, chiều cao về lý tưởng yêu nước. Văn hóa truyền thống không chỉ có xu hướng nhập thế là học để đi thi, làm quan, mà còn hướng tới nhân nghĩa, hòa hiếu, đạo làm người, chính sách an dân, ưu việc nước. Trong các nền văn hóa tiền văn minh, giá trị lớn là đất đai; trong nền văn minh hiện đại là công nghệ cao; còn trong nền văn minh đang đến là trí tuệ con người, tri thức khoa học. Con người hoàn thiện mình trong môi trường văn hóa có chất lượng dính kết cao: dân chủ, sáng tạo. Chỉ có dân chủ hóa mới có thể hạn chế mảnh đất cỏ dại của sự dối trá, chỉ có sáng tạo mới là động lực của nền kinh tế tri thức. Những tiền lệ đó, minh triết đó đưa nền văn hóa ta không chỉ dừng lại ở mặt trận, ở sự pha trộn văn hóa ngẫu nhiên, mà tiến đến độ chín quá trình tích hợp văn hóa, chủ động hội nhập với khu vực và toàn cầu hóa. Để văn hóa phát triển rộng hơn, bao dung hơn mặt trận, cần có sự tin cậy giữa chính trị và văn hóa, sự bình đẳng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần, chống mọi áp đặt, đe dọa từ sự xâm lăng văn hóa.
 
Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi nên bổ sung thành quan điểm chiến lược. Đây là câu kết trong bài nói của Hồ Chí Minh tại Hội nghị văn hóa toàn quốc ngày 24-11-1946 ở Hà Nội. Muốn soi đường phải có ánh sáng và trí tuệ. Ánh sáng đó là ngọn lửa Prométhe ở phương Tây, là xã hội lý tưởng: văn và lễ trong Luận ngữ ở phương Đông. Văn là văn hóa làm giàu nội tâm con người trong xã hội có kỷ cương; lễ là hệ điều chỉnh cuộc sống và hành vi của một xã hội có luật pháp. Ở nước ta, văn hóa được thắp sáng bởi minh triết Việt, lý tưởng yêu nước, an dân. Văn hóa ở mỗi thời đại đều đặt ra một công thức cho xã hội. Công thức đó được diễn dịch như sau: văn hóa là mục đích, chính trị là phương tiện, văn hóa phải thấm sâu vào tâm lý, tâm trạng của quốc dân; văn hóa đáp ứng quyền hưởng thụ và đòi hỏi trách nhiệm công dân. Trách nhiệm đó là lấy tự do, độc lập làm gốc, lấy chính trừ tà, lấy tiên ưu, hậu lạc, tri kỷ, tri bỉ, tri túc trong mọi lĩnh vực, mọi điều kiện để không rơi vào vũng bùn danh lợi vì lòng tham không đáy của một số nhóm lợi ích hiện nay. Văn hóa nói cho cùng là cuộc hành trình không mệt mỏi đi từ cái tồn tại (exiter) đến cái thực thể (tồn tại độc lập) (être) (theo J.P.Sartre) được chúng tôi hiểu rộng là đi từ cái bất biến đến cái khả biến, từ văn hóa hiểu biết (học vấn) đến văn hóa được giáo dục (ứng xử), từ con người yếu đuối đến con người cường tráng theo triết học nhân bản của L.Feuerbach.
_______________
1. Nguyễn Lộc (tuyển, giới thiệu), Văn học Tây Sơn, Sở VHTT Nghĩa Bình, 1986, tr.109.
2. Bùi Trọng Hiền, Tản mạn về truyền thống văn hóa hỗn dung của người Việt, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 337, tháng 7-2012, các tr.8, 9, 10.
3. Nguyễn Thạch Giang, Hoa trái cuối mùa, tập cuối, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2011, tr.51.
 

Nguồn: Tạp chí VHNT số 346

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}