Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Ngày xuân - Nhàn đàm về văn hoá đối nhân xử thế

Viện sĩ Hồ Sĩ Vịnh | Thứ Sáu, 04/10/2013 05:05 GMT +7
Truyền thống văn hiến dân tộc ta có nhiều kho báu. Một trong những kho báu giá trị đó là cách ứng xử đẹp, sang trọng, coi trọng giá trị tinh thần thường cao hơn giá trị vật chất: (Lời chào cao hơn mâm cổ; Vì tình, vì nghĩa không ai vì đĩa xôi đầy….). Song song với học thuyêt Nho giáo, nhân dân ta vẫn bảo tồn và phát huy chủ nghĩa nhân văn, với triết lý bình dân trong ứng xử với thiên nhiên,với xã hội và giữa con người với nhau. Đối với giới tự nhiên, cha ông ta thường khuyên con cháu tránh bắt chim non mà mắc tội, không được hái lộc để cây xanh trụi lá, khuyên thả chim thả cá vào dịp lễ hội, quy trong nhưng nơi “Đất lành chim đậu”, “đất thiêng, người hiền…”

 

Ngày nay, người ở đô thị thường hoài niệm “tâm lý màu xanh”, nhớ rừng chiều, quê cũ. Người ta liền nghĩ ra phương thức “kiến trúc cộng sinh” tức là đưa cảnh quan tự nhiên vào nơi nhà ở, nhất là Tết đến xuân về. Một khóm trúc quân tử, một chậu tùng trượng phu, một cây đào thế, một chậu mai vàng, mấy giỏ phong lan v.v… vốn để làm “xanh hóa” môi trường sinh thái, nói lên cảm xúc, hoài vọng của con người trước mây trời, mặt nước, cảnh quan, chim rừng, muông thú do thiên nhiên ban tặng. Mấy năm gần đây, một sáng kiến của Hội bảo vệ thiên nhiên môi trường chủ trương bảo tồn, tôn vinh cây di sản Việt Nam (có từ 100 tuổi trở lên) là hành xử văn hóa đáng hoan nghênh.

Thiên nhiên là một trong hai nguồn lực cơ bản của phát triển. Người ta nói, nếu nguồn lực con người (humman capital) là loại vốn đặc biệt, có khả năng tái sinh, là yếu tố đầu vào, là mục tiêu và trung tâm của phát triển, thì nguồn lực tự nhiên (naturel capital) là tài nguyên vô tận do thiên nhiên ban tặng: Rừng vàng, biển bạc, núi cao, sông sâu, đất đai phì nhiêu, kênh rạch chằng chịt v.v… Tài nguyên thiên nhiên còn là do con người sáng tạo, bồi đắp vì sự mưu sinh. Cái khéo của hóa công chưa bao giờ bị con người từ chối, trái lại, con người đã dùng sức lao động và trí tuệ thông minh của mình để “chung sống” với thiên nhiên, thân thiện hài hòa với màu xanh, khí trời, sương sớm bình minh, chiều tím hoàng hôn. Rừng Việt Nam được quốc tế đánh giá cao về đa dạng sinh học, chủng loại, họ, nhóm thực vật. Biển Việt Nam có chiều dài mấy nghìn cây số với nhiều cảng thị sầm uất, bãi tắm, địa danh du lịch sinh thái nổi tiếng,tạo một nền văn hóa biển quí giá. Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên chứa đầy mâu thuẫn. Con người thoát thai từ thiên nhiên, nhờ thiên nhiên mà sống và lao động, phát triển, thế mà con người lại đang tâm phá hoại rừng, biển, có lúc lại “tự hào” coi mình đã “chinh phục thiên nhiên”. Thực trạng đó đã gây nhiều thảm họa, nhất là trong thời đại công nghiệp hóa, khi khoa học, công nghệ phát triển, người ta đã dùng mọi phương kế để khai thác kiệt quệ thiên nhiên với mục đích chạy theo lợi nhuận và lợi ích cục bộ. Liên quan tới văn hóa ứng xử đối với môi trường tự nhiên và môi trường sinh thái, chúng tôi nêu hai hiện tượng đáng báo động đỏ. Con số 1728 vụ gây ô nhiễm môi trường sinh thái được Báo cáo Chính phủ tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa XIII (11/2011) nêu ra chỉ mới khởi tố khoảng 150 vụ. Các khu công nghiệp tập trung, các làng nghề, tình trạng ô nhiễm nước, không khí, đất đai trở nên cực kỳ nghiêm trọng. Người dân bức xúc kêu cứu tình trạng cuộc sống bị đe dọa: Một số làng gần nơi sản xuất công nghiệp có mức độ ô nhiễm cao, tuổi thọ trung bình của người dân thấp hơn 10 năm trước. Tại các làng nghề sản xuất, tái chế kim loại, chế biến nông sản tỉ lệ người mắc bệnh thần kinh, hô hấp, da liễu, điếc, ung thư, bệnh phụ khoa, bệnh tiêu chay, viêm da, hô hấp v.v… tăng lên rõ rệt. Ấy thế mà phía chủ thể gây tai họa lại “bình chân như vại”. Thậm chí là vô cảm, coi như vô can. Tăng trưởng kinh tế, tăng thu ngân sách mà không tính đến số kiếp con người là sự tăng trưởng thua thiệt. Nạn chặt phá rừng, đốt trụi nương rẫy, khai thác lậu khoáng sản, cướp đất công để kinh doanh bất động sản v.v… được các nhà quản lý, chính quyền địa phương bảo kê, dung túng làm càn, mặc dầu họ không phai không biết tác hại của nạn “chảy máu rừng”, đốt phá rừng là “ngõ cụt sinh thái” (imfasse écologique) gây nên những biến động khôn lường của thời tiết như nhiều năm nay, nhất là ở miền Trung nước ta.

Nhà triết học, nhà văn người Anh Francis Bacon (1561 - 1626) đã nói: “Muốn làm chủ thiên nhiên là phải vâng lời nó”, tức là khi đụng chạm tới đất đai, rừng biển, sông suối … các nhà chức trách phải có chủ trương đúng đắn, đồng bộ, vừa có lợi cho quốc kế, dân sinh, vừa không để ảnh hưởng xấu đến khí hậu vùng, phòng ngừa mọi tai biến sự “trả thù” của thiên nhiên. Văn hóa ứng xử được con người dự cảm về mối khoan hòa giữa tự nhiên và con người, giữa cảnh và tình thường được miêu tả trong nhiều tác phẩm nghệ thuật. Người bình dân quanh năm vất vả với miếng cơm manh áo vẫn nghĩ tới, dù là mơ hồ, về cảnh quan thiên nhiên xung quanh nơi ở, đường làng, ngõ xóm, cây đa, khóm trúc gắn với phong tục, tập quán, tín ngưỡng, đạo đức làm người.

II
Có nhiều chuyện để đàm đạo về văn hóa đôi nhân xử thê trong xã hội và trong từng cá nhân con người, trước nhất và nhiều bi kịch nhất là ở giới quan chức, giới doanh nhân mà Nghị quyết Trung ương IV vừa mới ban hành và đang đồng hành với dân chúng. Có người nói: Phê bình và tự phê bình là dấu hiệu văn hóa. Cho nên, phê bình việc sửa chữa được lỗi lầm cua ca nhân đừng tái phạm là tốt lắm rồi. Nhưng có những lý lẻ khác, chưa thông. “Tiền mất tật mang”. Khuyết điểm thì đa có quan chức, có tập thể chịu trách nhiệm chính trị trước dân, xin lỗi dân, nhưng còn tiền? Một ví dụ nhỏ, mà không nhỏ: Vinasine nợ 86.000 tỷ chay vào túi ai? Tất nhiên dân phải gánh vác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần ví Đảng ta là Đảng của trí tuệ, là đạo đức, là văn minh. Tính gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, mối quan hệ mật thiết giữa dân với Đảng là những dấu hiệu của văn hóa. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, khẩu hiệu: “Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến” phải chăng là tầm nhìn văn hóa trươc nhiêu vân đê kinh tê - xa hôi của những vị lãnh đạo trong thời chiến. Nhiều nhà lãnh đạo cao cấp đều coi công cuộc đổi mới là hiện tượng văn hóa. Trong các tôn giáo có phương châm “văn hóa hóa tôn giáo”, ta mới có phong trào “Tốt đời đẹp đạo, kính Chúa yêu nước”, v.v… Tất cả cách diễn đạt trên đều hàm nghĩa: sự hiện diện của nhân tố văn hóa trong mọi hoạt động xã hội là động lực của phát triển. Văn hóa trước hết là sự hiểu sâu lịch sử văn hóa dân tộc, lòng trắc ẩn với mọi số phận và mọi góc cạnh của đời người, là làm cho con người vươn dậy hành động. Xét theo nghĩa đó thì Đảng ta có bề dày văn hóa ứng xử của mình đối với tự nhiên, xã hội, con người. Phê bình và tự phê bình là quy luật của phát triển, là sự trưởng thành của từng cá nhân, trước hết phải bắt đầu từ bước nhỏ cá nhân để đi đến bước lớn của xã hội. Không thể một lúc sửa chữa được toàn xã hội, nhưng có thể sửa chữa được lỗi lầm của từng cá nhân. Người ta gọi phê bình và tự phê bình là dấu hiệu văn hóa là ở nghĩa đó. Trong quản lý Nhà nước, từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng cặp khái niệm song đôi biện chứng: đức trị và pháp trị. Đức trị là dùng lý lẻ, tình nghĩa để thuyết phục, giáo dục, còn pháp trị là dùng luật - luật được coi là tối thượng. Ở Trung Quốc, trong xây dựng Đảng, Đảng Cộng sản quan tâm xây dựng phong cách Đảng. Nó là hiện tượng văn hóa. Nghiêm túc từ nội bộ Đảng ra ngoài quần chúng, từ trên xuống dưới, yêu cầu nghiêm khắc, kỷ luật và pháp luật được thi hành công khai, minh bạch. Những ai có chức có quyền phải biết vượt qua quyền lực và mọi dục vọng tầm thường mới nói tới chuyện phẩm chất, nhân cách. Đã là cán bộ lãnh đạo thì phải biết “tri túc”, biết chỗ dừng. Nếu con người bắt đầu sôi sục tham vọng vơ vét tài sản của dân, ham muốn công danh vô độ thì đó là con người vô văn hóa, thiếu nhân cách. Hiện tượng một số không ít đảng viên lãnh đạo trong bộ máy nhà nước dính líu chuyện mua quan bán tước, tham quyền cố vị cần được dư luận lên án, cần dùng những biện pháp phê bình và tự phê bình, nhưng trước hết phải có đinh chế, tổ chức để thanh tra, kiểm soát và ngăn chặn. Khi đã coi tham nhũng là quốc nạn, là kẻ thù của sự nghiệp đổi mới, thì phải có quốc sách, chứ không chỉ dừng lại ở những biện pháp. Tham nhũng, hối lộ vừa là hiện tượng xã hội, vừa là hành vi tâm lý. Phải làm cho con người biết sợ, biết xấu hổ, nhất là những kẻ vô liêm sĩ đang đứng trên bờ vực thẳm của vũng lầy sa đọa, đồng thời phải có những biện pháp phòng ngừa, răn đe số đông quan chức khác. Một nhà thơ đơi Đường, (Trung Quôc) La Ân trong bài Ngụ hoài có câu: Danh lợi ngoài thân chớ vội cầu/ Tước lộc có vui, nhưng vạ lớn. Kinh nghiệm chống tham nhũng ở một số nước trong khu vực cho thấy, chống tham nhũng, hối lộ la chông đai hoa, là việc làm quyết liệt, không ngừng, đồng bộ với trăm phương nghìn kế, cốt sao cho số đông công chức nhà nước không dám, không thể, không cần, không muốn tham nhũng. Ở Singapore khi Đảng nhân dân hành động lên nắm quyền từ năm 1959, ông Lý Quang Diệu đã bắt tay xây dựng chính phủ trong sạch, thành lập Ủy ban chống tham nhũng, lãng phí (Corrup Practices Intervigation Bureau ). Bấy giờ lương của thủ tướng Lý chỉ 3500 đô la Sing, còn các bộ trưởng từ 2500 lên 4500 với mục đích kiềm chế dục vọng của cấp dưới.

III
Ngày xuân, là thời gian nhàn rổi, là cơ hội giúp con người suy nghĩ, bàn về văn hóa tâm linh khi tiếp xúc vơi lê hôi, đến thăm những vùng đất thiêng. Trong tín ngưỡng dân gian ở nước ta tính đến nay có khoảng 8000 lễ hội với qui mô to, nhỏ khác nhau. Lễ hội là hình thái tín ngưỡng có từ thời cổ đại, khi con người bất lực trước sức mạnh của thiên nhiên. Người ta biết rằng, những vị Thần, vị Thánh mà người lao động sùng kính, ngưỡng vọng không phải là ai khác hơn những người lao động lý tưởng, những bậc thầy nghề nghiệp, những tài năng đã chiến thắng thiên nhiên, những anh hùng dân tộc, đã đại thắng các thế lực xâm lược, giữ gìn bờ cõi. Lễ là niềm tin, là tín ngưỡng; Hội là vui chơi, ứng diễn nghệ thuật. Tín ngưỡng thường nhuốm màu tinh bí. Còn vui chơi, ca hát là chuyện thế tục. Vậy mà hai hình thái văn hóa mang hiện tượng đối nghịch: thiêng và tục, đạo và đời, duy lý và duy cảm, trí tuệ và tâm linh lại hòa quyện vào nhau tạo nên luồng giao hòa tâm linh giữa người với người, giữa người với Thần - Thánh, với vũ trụ. Lễ hội là hiện tượng tâm linh hướng tới cái Cao cả, cái Thiện, cái Mỹ. Hạt nhân hợp lý đã làm cho hai nghịch lưu hòa nhập vào một, làm cho đời sống văn hóa đương đại thêm phong phú, hữu ích. Từ quan niệm “Năng lực dự báo nhờ vào linh tính”, ta biết rằng ở cấp vi mô là số phận con người, ở cấp vĩ mô là cơ trời vận nước. Linh cảm, linh nghiệm, linh tính là tiền đề của năng lực dự báo. Có linh tính hay không? Linh tính là thuộc tính kỳ diệu của con người. Linh tính giúp nhà khoa học trong lúc khảo sát giới tự nhiên, các hiện tượng xã hội hay thế giới nội tâm con người để rút ra những kết luận thực tiễn khái quát một cách chính xác. Nhưng trên thực tế quá trình tư duy của con người không đủ sức giải thích được mọi hiện tượng tự nhiên, những khả năng mà lý tính bất lực, nên con người tìm đến những khả năng ngoài lý tính. Kết quả của quá trình tư duy ngoài lý tính không phải dễ dàng, nên không phải lúc nào, hiện tượng nào cũng đưa lại hiệu quả mong muốn.

Mặt trái của văn hóa tâm linh là mê tín - dị đoan. Mê tín là lòng tin đến mê muội, cuồng si, thái quá; còn dị đoan là điều quái lạ, huyền hoặc do tin mà có. Do đâu mà có những hiện tượng tiêu cực trong tín ngưỡng, lễ hội? Lịch sử nhân loại cho ta biết rằng, lúc nào và ở đâu khoa học (đặc biệt là khoa học về nhân học) chưa phát triển, con người bất lực, hoài nghi trước sức mạnh của tự nhiên, mất lòng tin vào những kẻ nắm quyền lực (trong chế độ ta là sự quản lý vừa thiếu tri thức vừa buông lỏng, một số quan chức thiếu gương mẫu, trình độ dân trí thấp (mặc dầu ở họ trình độ học vấn không thấp)... thì nơi đó những hiện tượng mù quáng, tự phát trong lĩnh vực tín ngưỡng mọc lên như nấm sau mưa. Ngoài ra, cũng cần lùi lại lịch sử để nói đôi điều về ảnh hưởng của Đạo giáo đối với mê tín - dị đoan. Đạo giáo phát sinh ở Trung Quốc từ đời hậu Hán, đến các thời đại kế tiếp được coi là quốc giáo. Thời cổ đại, Đạo giáo có gốc ở quan niệm ma thuật, kỳ phương dị thuật, xem sao, bói rùa, đồng bóng, cúng quỷ, chữa bệnh bằng bùa phép. Giáo sĩ của Đạo giáo - gọi là pháp sư, có tài chữa bệnh, vẽ bùa, đốt cháy rồi hòa vào nước cho người bệnh uống thì khỏi (tên “phù thủy” có từ đấy). Vào Việt Nam, một nước nông nghiệp lạc hậu, với thế giới quan phong kiến kéo dài nhiều thế kỷ, Đạo giáo phát triển rất phức tạp. Có đạo giáo Thần tiên và đạo giáo phù thủy. Đạo giáo phù thủy diễn biến trong đời sống tâm linh rất nặng nề, hỗn tạp, kéo dài cho đến tận ngày nay, khi thời đại khoa học phát triển như vũ bão. Nhiều người dân vẫn theo, vẫn tin, mà không biết mình đang đi theo vết xe đổ của Đạo giáo phù thủy. Đủ biết, để an dân, an nghiệp cho người dân, để nước cường thịnh, thì việc đấu tranh xóa những hủ tục lạc hậu, không có căn cứ khoa học cần được tiến hành đồng bộ: giáo dục từ trong nhà trường, tuyên truyền nếp sống mới, ban hành những hình phạt từ thấp lên cao, và các chế tài hỗ trợ, đánh thuế nặng vào các loại hình sản xuất hàng hóa phục vụ hủ tục mê tín - dị đoan. Trước hết, tập trung vào mấy hiện tượng đã và đang diễn ra phổ biến hiện nay - từ “Đốt vàng mã”, “Xem sao đoán mệnh”, cho đến “Tục hái lộc đầu xuân”, tôn giáo, tín ngưỡng thường là nơi ẩn náu của những kẻ khủng hoảng niềm tin. Những hiện tượng vô luận, vô đạo diễn ra trong lễ hội thường biến thuần phong mỹ tục của dân đi về phía tà đạo. Có tâm linh hay không? Tâm linh là một trong bốn thuộc tính bền vững của con người: con người sinh học, con người xã hội, con người tâm lý, con người tâm linh. Để tâm linh trở thành giá trị thực cần khảo sát khai niêm nay. Tâm linh có hai nghĩa: khả năng đoán biết một biến cố sẽ xảy ra; tinh - khí - thần của người. Như vậy, khi ghép tâm linh vào văn hóa, thì khái niệm văn hóa tâm linh là hình thái văn hóa của một dân tộc người gồm: tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật nhân dân (folklore) và một phần của sáng tạo khoa học, nghệ thuật như sự thăng hoa, phút xuất thần, “tia chớp” cảm hứng sáng tạo, trí tuệ phát sáng của nhà khoa học và nghệ sĩ.

Những tháng trước Tết, nhân chuyến đi khảo sát văn hóa ở hai nước Singapore và Malaisia, chúng tôi rút ra bốn ý kiến bắt đầu chữ “L” trong tiếng Việt, có liên quan tới ba nội dung nói trên:

-  Luật: Pháp luật là đối tượng mang tính độc lập nhằm bảo vệ chế độ và an sinh cho dân.
-  Lương: Đảm bảo lương sống của đối tượng hương lương ở mưc chất lượng cao, đủ nuôi mình, nuôi người thân chưa đến tuổi lao động và có dư. Ở Sing, ngày từ năm 2000 trở đi, thu nhập bình quân đầu người là trên 22.000 USD, ngang với các nước nhóm G7.
-  Lễ: Xây dựng thiết chế dân chủ thực lòng, thực tâm; tôn trọng văn hóa ứng xử. Nền tảng của Lễ là chữ hiếu (gia đình); chư trung trung (với nước); chư trung thực (công việc); chư tin cậy (đối tác) v.v…
-  Lý là chân lý. Cái gì đúng thì làm, sai thì sửa. Dân và chính phủ có thể sai. Dân sai thì giáo dục, nâng cao dân trí. Chính phủ sai thì xin lỗi dân, thu hẹp quyền lực, thực hiện văn hóa từ chức, văn hoa miễn nhiệm; quyền lực phải được kiểm soát, chống tha hóa quyền lực. quyền lực tuyệt đối thường dẫn đến nguy cơ mất nước, mất dân ./.
Tháng 12 năm 2012.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}