Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn hóa:

 

Nghệ thuật dân tộc Việt Nam trên đất Mỹ

GS Hoàng Chương | Thứ Tư, 09/10/2013 16:19 GMT +7

(Văn Hiến)—Phần I: TỪ NEW YORK ĐẾN CHATANOOGA

Sau những ngày đêm hoạt động sôi nỗi và vất vả ở hai trường đại học William Smith và Keuka College thuộc bang New York, chúng tôi không được nghỉ mà phải chuẩn bị tiếp tục lên đường tới địa điểm mới ở tận phía đông nam nước Mỹ. Chắc có lẽ sắp tạm biệt TP. Geneve, tạm biệt ngôi nhà đầy kỷ niệm mà tối qua chúng tôi đều không sao ngủ được…

Từ sáng sớm vợ chồng giáo sư Jack Harist đã tới tiễn chúng tôi. Đối với những người làm nghề biểu diễn sân khấu thì, lúc chuyển địa điểm là vất vả nhất, nào là hành lý cá nhân, nào là nhạc cụ—trống kèn, đạo cụ biểu diễn và phục trang, cồng kềnh, lủng củng. Giáo sư Harist cũng xắn tay áo khuân vác giúp cho hai nữ nghệ sĩ. Người phương Tây bao giờ cũng giúp đỡ phụ nữ, khác với Việt Nam, đôi khi nam giới lại đùn đẩy việc nặng cho nữ giới. Chuẩn bị xong, Giáo sư Harist lại đưa chúng tôi tới nhà hàng quen thuộc trong thành phố Geneve để ăn sáng. Mỗi người tự chọn món ăn và thức uống cho mình rồi cùng nhau vừa ăn vừa trò chuyện về những chuyến đi tiếp theo. Cô chủ quán thấy người quen năm trước nên rất nhiệt tình tiếp đãi chúng tôi chẳng khác gì người Việt mình.

Ăn xong, chúng tôi lại tranh thủ dạo mấy vòng, chụp ảnh ngắm nhìn những hàng cây lá vàng, những ngôi nhà quen thuộc ở TP Geneve xinh đẹp, nơi đã ghi bao kỷ niệm khó quên. Nắng vàng rọi xuống càng làm cho mặt hồ Geneve lung linh, huyền ảo. Tôi chưa thấy hồ nước nào dài mấy mươi dặm và rộng lút tầm nhìn như cái hồ ở TP. Geneve này. Chúng tôi đã đi lại nhiều lần trên con đường cao tốc chạy theo ven hồ gần 50 cây số nối liền hai trường đại học Keuka và William Smiht. Mặt hồ lúc nào cũng trong xanh và êm ả, soi bóng những cây phong lá vàng rực cùng với cỏ cây, hoa lá, là môi trường lý tưởng; vì thế mà từ thầy giáo đến học trò đều yêu trường, gắn bó với ngôi trường của mình để học để đào tạo ra những trí thức, những tài năng tương lai….

Ông bà Giáo sư Harist ôm hôn thắm thiết, tạm biệt chúng tôi như tạm biệt người thân trong gia đình. Chúng tôi cũng lưu luyến tạm biệt ông bà và nói: Hẹn gặp lại ở Việt Nam. Ông bà Harist lại đáp: Hẹn gặp lại ở Geneve.

Giáo sư Nguyễn Thuyết Phong lái xe chạy chầm chậm theo con đường cao tốc ven hồ Geneve chừng 30 phút đã tới sân bay. Đây là sân bay tư nhân của ông Nelson Bowers nên không phải làm bất kỳ một thủ tục nào. Hai anh phi công Mỹ cao to và rất nhiệt tình chạy ra xe xách hành lý của chúng tôi đem chất lên máy bay.

Chiếc chuyên cơ nho nhỏ, xinh xinh vừa đủ cho đoàn chúng tôi ngồi chỉ còn thừa hai chỗ. Hai phi công ngồi trong buồng lái không có cửa ngăn cách, vì đây là máy bay riêng của ông chủ Nelson. Chiếc máy bay khởi động rất nhanh và cất cánh một cách nhẹ nhàng như con đại bàng sải cánh vươn mình lên bầu trời cao. Qua cửa sổ máy bay, tôi nhìn thấy đất nước Hoa Kỳ mênh mông bát ngát ruộng đồng, và sông ngòi và rừng núi….. tất cả được quy hoạch đâu đó đều ngay thắng rạch ròi, những đồng ruộng giống như những bàn cờ khổng lồ, không nham nhở, lộn xộn như ở nông thôn ta, vốn chưa quy hoạch theo khoa học, bắt buộc (ở Mỹ người có đất nhưng không được làm nhà ở, nếu chính quyền địa phương không cho phép và phải làm theo quy hoạch).

Sau hai tiếng rưỡi đồng hồ bay qua mấy bang ở phía đômg nam, chiếc máy bay nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay lớn trong TP. Chatanooga. Từ trên máy bay, tôi đã thấy ông Nelson đứng dưới một chiếc dù to, có người che vì trời đang mưa nặng hạt. Ông Nelson bắt tay ôm hôn tôi rồi mời tôi lên xe riêng của ông, còn mọi người thì đi một xe chung cùng với hành lý. Xe chạy một mạch chừng ba mươi phút thì tới khách sạn Ga Đường sắt. Ông Nelson giải thích lịch sử của KS này là vì cách đây gần 100 năm, nhà ga này với đoàn tàu đã có công trong sự nghiệp bảo vệ đất nước và xây dựng thành phố Chatanooga.

Để lưu giữ di tích và kỷ niệm cho các thế hệ mai sau, khi thành phố phát triển mở rộng người ta xây dựng một khách sạn lớn trên cái nền Nhà Ga năm xưa, nhưng phía sau vẫn để một con tàu nguyên đứng như một bảo tàng sống. Trên con tàu này mỗi vagong đều được trang trí thành phòng ngủ cao cấp và thành phòng ăn sang trọng để cho khách du lịch được nghỉ ngơi và thưởng thức món ăn ngon truyền thống trong một không gian lịch sử. Nhìn quang cảnh này, tôi nhớ tới Ga xe lửa Gia Lâm, nghĩ tới cây cầu Long Biên hiện tại và tương lai. Tương lai Ga Gia Lâm cũng sẽ trở thành bảo tàng, có khách sạn nhiều sao và Cầu Long Biên cũng có thể trở thành cây cầu Rồng lịch sử, thành một bảo tàng sống trên sông Hồng và thành địa chỉ văn hoá đặc biệt của Thủ đô Hà Nội…. Quả là đi một ngày đàng học một sàng khôn, học cách nghĩ, cách làm của con người trên đất nước phát triển, đất nước văn minh hàng đầu thế giới. Ở đâu họ cũng xây dựng những công trình lịch sử, những bảo tàng và di tích….. để cho con người hôm nay và ngày mai không quên quá khứ mà bảo vệ quê hương, đất nước mình.

Ông Nelson cho biết, ông là một thành viên trong Ban quản trị của Khách sạn này. Nhưng ông không cần sai nhân viên phục vụ mà tự tay mình cầm khoá đưa chúng tôi đến tận phòng ngủ. Thật là một cử chỉ hiếm thấy đối với một ông chủ đầy quyền lực ở đây. Điều này thật ít thấy ở Việt Nam ta trong thời kinh tế thị trường, người có tiền nhiều là người có quyền uy hơn hết không bao giờ tự lái xe và làm công việc của nhân viên.

Bữa cơm tối có nhạc sống. Đúng 7h ông Nelson đến tận khu nhà ở của chúng tôi đón mọi người đi ăn tối. Riêng tôi ông mời lên ngồi trên chiếc xe trần chở khách trong khuôn viên khách sạn, chạy thẳng tới cửa phòng ăn cho đỡ mỏi chân. Nhà hàng khá sang trọng có cả sân khấu biểu diễn nhạc sống. Chừng sau vài mươi phút chờ đợi, cô nhân viên nhà hàng bê tới cho mỗi người những đĩa thức ăn đầy ắp thịt đủ loại, bò, heo, gà, rau tươi. Thật khó mà nuốt cho hết những đĩa thức ăn béo ngậy trên bàn tiệc, đã thế nhạc nổi lên ầm ầm và các ca sĩ bắt đầu hát rất vang to, volum mở hết cỡ làm cho thực khách không sao nói chuyện được. Lối chơi âm nhạc này cũng đang phổ biến ở Việt Nam phù hợp với thị hiếu thời thượng. Thấy tôi không hào hứng với nhạc rock, nhạc ráp. Ông Nelson nói tôi cũng không thích loại nhạc ồn ào này, đau đầu lắm!

Quả thật bữa ăn bị tra tấn bằng âm nhạc, nên chẳng thấy ngon chút nào, trong khi đó thì những người Mỹ trẻ tuổi trong phòng ăn lại tỏ ra thích thú cứ vỗ tay cổ vũ cuồng nhiệt các ca sĩ. Để tránh tiếng ồn âm nhạc, ông Nelson mời tôi và GS Phong ra phòng khách để trao đổi công việc. Tham dự còn có mấy nhà doanh nghiệp trong tập đoàn của ông Nelson. Ông cho biết kế hoạch xây dựng một công ty sản xuất thuốc Tây bằng thảo dược tại TP. Hồ Chí Minh đang bị ách tắc về thủ tục hành chính nhưng không biết nguyên nhân, vì vậy mà phải nhờ tôi hỗ trợ để khai thông…

Tôi nghĩ ở Việt Nam hiện nay nhu cầu thuốc Tây ngày càng nhiều nên giá thuốc phi mã leo thang, làm cho người nghèo khốn khổ, như vậy mà có được một cơ sở lớn sản xuất thuốc Tây theo tiêu chuẩn Mỹ thì hay biết bao nhiêu. Vì vậy, hỗ trợ cho việc ra đời xí nghiệp sản xuất thuốc là chính đáng, nên tôi nhận lời giúp đỡ ông Nelson, nhưng vẫn băn khoăn vì chưa biết sẽ làm gì? và sự ách tắc thủ tục ở đâu?.

Ông Nelson nói: Tôi hoàn toàn tin tưởng vào uy tín và nhiệt tình của GS. Hoàng Chương, vì việc khó nhất là đưa chúng tôi vào Phủ chủ tịch gặp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết còn làm được thì, việc này chắc không khó bằng…. Mấy đồng nghiệp của ông Nelson tỏ ra rất vui vì tin tưởng vào sự giúp đỡ của tôi sẽ có kết quả. Dĩ nhiên đối với tôi, một người hoạt động về Văn hoá nghệ thuật thì những công việc ngoài nghề bao giờ cũng lạ lẫm và khó khăn, chẳng qua tôi thành công ở đâu đó là nhờ tấm lòng chân thành của mình đã làm cho những người có trách nhiệm cao dễ nhận ra và ủng hộ đấy thôi!

Sau một đêm ngủ ngon ở Khách sạn nhà Ga, chúng tôi dậy sớm ăn sáng rồi theo ông Nelson đến giới thiệu nghệ thuật cho một trường Tiểu học. Cũng như ở New york, ở Chatanooga trường học đều nằm ở ngoại ô và đều có một môi trường thiên nhiên tuyệt vời cách biệt hoàn toàn với sinh hoạt đô thị. Học sinh như một đàn chim non ngoan ngoãn theo hướng dẫn của những cô giáo, trật tự ngồi kín cả hội trường khoảng vài trăm chỗ, trong một không khí im lặng hoàn toàn. Sau mấy câu giới thiệu của người Hiệu trưởng, GS Nguyễn Thuyết Phong bước ra giảng về âm nhạc dân tộc Việt Nam. GS giảng giải rất cặn kẽ chi li và có tính khoa học, nhưng xem chừng những khán giả nhỏ tuổi thế này không hiểu mấy, nên không tỏ ra hào hứng. Chỉ đến khi được nghe hát dân ca, được xem diễn tấu nhạc cụ, nhất là được xem giới thiệu Tuồng thì những con chim non này mới tỏ ra thích thú và nồng nhiệt vỗ tay.

Thế mới biết quảng bá nghệ thuật dân tộc ra nước ngoài không phải là chuyện đơn giản, bởi luôn luôn phụ thuộc vào từng đối tượng, từng trình độ người thưởng thức.

Sáng hôm sau, ông Nelson lại đưa chúng tôi đến phục vụ cho một trường Trung học với hàng trăm khán giả học sinh ở độ tuổi biết thưởng thức nghệ thuật ở cấp độ cao hơn. Từ những bài hợp ca của tập thể đến đơn ca của GS. Phong, của Kiều Oanh và hát Xẩm của Mai Tuyết Hoa đều được khán giả trẻ vỗ tay nồng nhiệt và đến khi tôi xuất hiện với bộ trang phục tuồng lạ lẫm cùng với những động tác múa minh hoạ như uống rượu, ruốt râu, bắt ngựa, ngã ngựa, phi ngựa…. thì tiếng vỗ tay rào rào vang lên và khi Kiều Oanh kết thúc lớp diễn Hồ Nguyệt Cô hoá cáo, thì tiếng vỗ tay càng vang to hơn. Một cô giáo nói hay lắm giá chương trình kéo dài thêm thì tốt vì các cháu đang còn muốn được xem nghệ thuật Tuồng.

Là Trường đại học nên có hội trường lớn và sân khấu khá rộng như một nhà hát đẹp. Ở hậu trường có giàn nhạc, có piano, có kho phục.

Rời trường trung học, chúng tôi đến trường đại học Chatanooga để tiếp tục giới thiệu nghệ thuật cho thầy giáo và sinh viên ở đây.

trang biểu diễn và hệ thống âm thanh hiện đại. Rõ ràng ở đây người ta đầu tư rất tốt cho văn hoá học đường. Sinh viên ở bất kỳ môn gì cũng đều được làm văn hoá và hưởng thụ văn hoá nghệ thuật thường xuyên. Vì vậy mà khi chúng tôi giới thiệu nghệ thuật dân tộc Việt Nam thì cả thầy giáo và sinh viên đều tập trung xem trong tư thế vừa thưởng thức vừa nghiên cứu và hết sức trân trọng Nghệ thuật Việt Nam. Điều đó được thể hiện ở lòng hâm mộ của khán giả nữa, tiêu biểu là ông Nelson, một đại gia 66 tuổi mà suốt trong hai ngày hết trường này sang trường khác vẫn ngồi xem nghệ thuật Việt Nam và khi tôi diễn minh hoạ động tác uống rượu, trong đó có câu giả định: “Mời ngài Nelson uống rượu”…. thì ông nhanh chóng chạy lên sân khấu bê cốc rượu bằng gỗ của tôi để “uống”…. không chỉ một lần mà nhiều lần, gây sự hứng thú tột cùng trong người xem. Tính độc đáo và hấp dẫn của nghệ thuật Tuồng là như vậy…. nó có khả năng chinh phục bất kỳ dân tộc nào đối tượng nào. Đúng là nghệ thuật truyền thống Việt Nam có một sức mạnh tiềm tàng, nó là một vũ khí nhẹ nhưng có sức mạnh chinh phục con người.

Thăm nhà Việt kiều Mỹ

Dù phải hoạt động quảng bá nghệ thuật và tiếp xúc xã giao liên miên, thậm chí không còn thời gian để đi tham quan và vào siêu thị, nhưng chúng tôi vẫn nhận lời đến thăm gia đình Nghệ sĩ ưu tú Cao Trọng Quế, người bạn vong niên của tôi ở Nhà hát Tuồng Đào Tấn—Bình Định. Nhà anh ở ngoại ô TP. Chatanooga (Đa số người Mỹ hiện nay đều thích ở ngoại ô để được hưởng không khí trong lành và được tiếp cận với thiên nhiên). Từ trung tâm thành phố chạy ô tô tới nhà Cao Trọng Quế mất khoảng nửa tiếng đồng hồ, qua những chiếc cầu hiện đại, những rừng cây lá vàng, lá đỏ cực đẹp và qua những bãi xe ô tô bày bán có tới hàng ngàn chiếc, trong đó có bãi xe của ông Nelson Bowers.

Nhà của Cao Trọng Quế là một biệt thự xinh xắn nằm trên một mô đất rộng thoáng mát, có ba ga ra ô tô, cho xe con gái, con rể và anh. Xung quanh nhà được bao bọc những hàng cây xanh đang chuyển sang màu vàng rực rỡ, một môi trường sống lý tưởng, không có tiếng ồn và khí thải. Trong nhà có nhiều buồng ở, buồng khách, nhà bếp và phòng luyện tập âm nhạc. Đúng là một biệt thự lý tưởng cho một gia đình sáu, bẩy người, vợ chồng Quế, vợ chồng con gái cùng một cháu ngoại và bà chị ruột của vợ anh sang giúp việc. Con gái anh có một cửa hàng thẩm mỹ gội đầu và làm móng chân tay. Chị Bông vợ của Quế nguyên là diễn viên của Nhà hát Tuồng Đào Tấn, nay cũng làm ở đây. Nhờ đông khách mà thu nhập cũng khá. Ngoài ra cậu con rể làm nghề xây dựng, lương cũng cao, nên đời sống không chật vật như một số gia đình Việt kiều khác. Quế rất hài lòng vì cuộc sống gia đình ổn định, con cái còn cho đi du lịch đó đây nữa.

Tuy vậy, anh vẫn thấy buồn vì mình như người thất nghiệp vì cái nghề âm nhạc Tuồng đã hơn 40 năm tôi luyện thành tài, nay không được phát huy. Vì thế mà Quế luôn suy nghĩ tới một ngày nào đó sẽ trở về quê hương, với sự nghiệp Tuồng của mình. Với tôi, Cao Trọng Quế coi là người đạo diễn, người thầy thân thiết của mình nên không dấu diếm điều gì khúc mắc mà phải rời nhà hát ra đi… Tôi khuyên Quế hãy quên đi những chuyện đời sáng tối, những con người tốt xấu… để giữ tấm lòng chung thủy với đất nước, với nghệ thuật Tuồng máu thịt của mình.

Bây giờ sống trên nước Mỹ, Quế không làm Tuồng được nữa thì làm thơ. Quế đã có tới vài chục bài thơ về Tuồng, trong đó thể hiện tấm lòng yêu da diết với Tuồng, với đồng nghiệp với đồng bào (khán giả) mà anh từng phục vụ. Đặc biệt Cao Trọng Quế tuy là nhạc công, nhưng rất thích đọc Tạp chí Văn hiến Việt Nam, tờ báo do tôi làm Chủ nhiệm. Anh nói, lúc còn ở Nhà hát Tuồng Đào Tấn, anh coi Tạp chí Văn hiến Việt Nam là sách gối đầu giường, vì nhờ nó mà anh nâng cao được trình độ hiểu biết về văn hoá dân tộc. Tôi thổ lộ muốn giao cho Quế làm đại diện của Tạp chí Văn hiến Việt Nam tại Mỹ. Quế rất vui vẻ nhận lời vì làm như vậy vừa được thường xuyên đọc Văn hiến Việt Nam vừa quảng bá Văn hoá Việt Nam cho Việt kiều Mỹ. Nhưng GS Nguyễn Thuyết Phong lại bảo “không nên làm”? vì thế mà Cao Ngọc Quế lại từ chối! Rõ ràng, tư tưởng con người rất phức tạp! Người ta nói vậy, nhưng không phải vậy!

Bữa cơm Việt Nam mà gia đình Cao Trọng Quế đãi chúng tôi quá linh đình như muốn bày tỏ tấm lòng của mình với những người đồng hương, đồng nghiệp. Cả gia đình Cao Trọng Quế hôm nay như được sống ở quê hương…

Thăm nhà một Đại gia Mỹ

Trong chương trình hoạt động ở thành phố Chatanooga, có buổi thăm nhà riêng của ông Nelson Bowers vào ngày cuối cùng trước khi quay về New york. Vì thế từ Hà Nội, tôi đã giao cho Kiều Oanh và Tuyết Hoa hai nghệ sĩ mang theo gạo tám thơm và bánh đa nem, cùng gia vị để làm bữa cơm Việt Nam thật ngon tại nhà ông Nelson, nhằm giới thiệu một nét văn hoá ẩm thực Việt Nam với những người bạn Mỹ. Đúng 6 giờ chiều, ông Nelson đến tận khách sạn đón chúng tôi tới nhà mình mà không cho biết đã bày tiệc sẵn.

Ông mời tôi và Mai Tuyết Hoa lên xe riêng của ông. Mai Tuyết Hoa nói tiếng Anh khá sõi nên ông Nelson rất thích nói chuyện với cô. Ông nói vui: nhà tôi ở trên đỉnh núi cao, bằng ống nhòm có thể nhìn thấy những Bang khác trên nước Mỹ… Quả vậy, xe ông chạy khỏi trung tâm thành phố rồi bắt đầu men theo đường uốn lượn leo dần lên núi mỗi lúc một cao. Suốt dọc đường đâu đâu cũng thấy những biệt thự ẩn dưới rừng cây trông rất thơ mộng. Đúng là người Mỹ không thích sống trong thành phố mà thích sống ở làng quê, ở núi đồi thông thoáng. Nhà ông Nelson trong một khuôn viên rộng hàng vài hec ta. Ông ở trong biệt thự cao 3 tầng, có bể bơi, sân thể thao và nơi nuôi chim thú. Nhà rộng tới hàng chục buồng, được trang trí rất công phu và mỹ thuật, trong đó có nhiều hình ảnh Việt Nam như những bức tranh thiếu nữ Việt Nam xưa mặc yếm để lưng trần và đầu quấn khăn đen. Ngay cả bồn tắm nặng hàng tấn bằng đá Non Nước (Đà Nẵng) ông cũng khuân về bày biện khá độc đáo tại Phòng riêng của mình.

Trong giá sách của ông có hàng ngàn tác phẩm nổi tiếng thế giới, trong đó có cả những quyển sách về Việt Nam như: Việt Nam đất nước con người, Múa rối nước… bằng tiếng Anh và nhiều hình ảnh khác. Biết ông có tấm lòng yêu quý Việt Nam nên khi tôi tặng cho ông bức tranh đá quý, hình bông sen tượng trưng tâm hồn Chủ tịch Hồ Chí Minh và con rối nước hình con trâu có chú mục đồng ngồi trên lưng thổi sáo, vợ chồng ông đều thích vô cùng. Duy chỉ một việc tổ chức một bữa cơm Việt Nam để mời ông bà và bạn ông thưởng thức thì các cô gái việt Nam phải đầu hàng vì trong nhà ông không có một dụng cụ và chất liệu nào để làm ra bữa cơm Việt Nam dù đã có chuyên gia nấu nướng Phan Tôn Tịnh Hải vả lại, ông đã thuê cả nhà hàng đến làm tiệc đãi chúng tôi và bạn bè ông. Để bù lại, G.S. Phong và các nghệ sĩ cùng đi đã đàn và hát những bài dân ca quan họ Việt Nam đậm chất chữ tình da diết, nhất là “mời rượu” thay vì “mời nước mời trầu”, làm cho ông bà Nelson và bạn bè của ông vô cùng thích thú.

Và hơn thế nữa, khi ông Nelson đề nghị Mai Tuyết Hoa độc tấu bài Dân ca Mỹ thì, không khí trong gia đình ông trở lên sôi nổi hẳn lên, bởi họ không ngờ cây đàn Nhị Việt Nam đơn sơ mà ngân lên được những giai điệu Mỹ quen thuộc đậm chữa tình sâu lắng.

Khi Mai Tuyết Hoa đàn thì người Mỹ đều hát theo và khi Tuyết Hoa dừng lại thì, các bạn Mỹ, hầu hết là trí thức và doanh nhân lại yêu cầu diễn tiếp. Đây là hiệu ứng nghệ thuật tự nhiên theo quy luật tình cảm con người, mà tôi đã quá quyen khi đưa các đoàn nghệ thuật Việt Nam đi biểu diễn ở nước ngoài. Điều ngạc nhiên và thích thú của người bản địa là được nghe người nước khác đàn, hát về âm nhạc nước mình. Chính vì thế mà các đoàn nghệ thuật Việt Nam đi biểu diễn ở nước nào đều phải “thủ” ít nhất một bài về nước đó thì mới gây được cảm tình trong người xem. Về trường hợp này rất đáng khen nhạc sĩ Mai Tuyết Hoa về tài năng và trách nhiệm đã bỏ công luyện tập sẵn để góp phần làm cho các bạn Mỹ hiểu Việt Nam hơn, yêu Việt Nam hơn. Rất tiếc trong các chương trình khác, Mai Tuyết Hoa lại không được trổ tài đúng lúc, mặc dù tôi biết tiết mục độc tấu dân ca Mỹ của Mai Tuyết Hoa sẽ là một điểm nhấn trong chương trình giới thiệu nghệ thuật Việt Nam với người Mỹ.

Vợ chồng ông Nelson tỏ ra hài lòng trong việc mở tiệc và mời bạn bè tới tiếp chúng tôi, những sứ giả đi quảng bá văn hoá Việt Nam trên đất nươc Mỹ.

II. TỪ CHATTANOOGA ĐẾN NEW YORK

Sau những ngày hoạt động quảng bá nghệ thuật dân tộc Việt Nam trong các trường trung học và đại học ở TP Chattanooga bang Tennesse, chúng tôi lại bay về New York để tiếp tục giới thiệu nghệ thuật tại Trường Đại học Hunter College theo chương trình đã định. Cách đây bốn ngày, khi chúng tôi đến thành phố Chattanooga lúc trời đang mưa nặng hạt, nhưng sáng hôm sau thì trời lại nắng ấm như mùa thu ở châu Âu và cho đến hôm nay lúc rời thành phố này, thời tiết vẫn đẹp như vậy. Những hàng cây hai bên đường nhuộm đậm một sắc vàng lóng lánh dưới ánh mặt trời, tạo nên những bức tranh thiên nhiên tuyệt mỹ. Thời tiết đẹp, cảnh vật đẹp, con người có nét văn hoá đẹp và tình hữu nghị đẹp ở đây như cứ muốn níu chân chúng tôi lại. Nhưng đã đến lúc phải tạm biệt Chattanooga, tạm biệt ông Nelson Bowers, người đã mời chúng tôi tới Chattanooga, tạm biệt khách sạn Tàu hoả lịch sử với nhiều kỷ niệm khó quên….

Đúng 8 giờ sáng, mặt trời chưa đủ sưởi ấm mặt đất, mà ông Nelson Bowers đã từ nhà ở tận trên đỉnh núi cao đến khách sạn tiễn chúng tôi. Ông mời tôi và nhạc sĩ Mai Tuyết Hoa lên xe riêng của mình. Còn GS Nguyễn Thuyết Phong thì vẫn tiếp tục lái chiếc xe bảy chỗ chở người và hành lý. Hơn 30 năm tự lái xe đi giảng dạy âm nhạc trên nước Mỹ, nên GS Phong rất thiện nghệ lái xe không cần ai phụ giúp. Trên đường ra sân bay, Mai Tuyết Hoa đề nghị ông Nelson cho ghé qua siêu thị để mua quà vì mấy ngày qua bận biểu diễn không có thì giờ đi Shopping. Ông Nellson không những đồng ý mà còn hướng dẫn cho các cô gái Việt Nam cách chọn hàng giảm giá cho hợp với túi tiền của những nghệ sĩ nghèo và nếu ai mua trúng hàng made in China thì ông bảo trả lại, hoặc bóc cái nhãn bỏ đi… Vì theo ông, đây không phải hàng hoàn toàn từ Trung Quốc mà là hàng sản xuất liên doanh với Mỹ chất lượng vẫn tốt chẳng qua người ta không thích chữ China mà từ chối đó thôi.

Cô thư ký của ông Nelson đi theo cho biết, ông chủ của cô chưa bao giờ đối với ai trọng thị và nhiệt tình như đối với các nghệ sĩ Việt Nam.

Vì đi máy bay riêng của ông Nelson không phụ thuộc vào giờ bay, nên ông Nelson lại thỉnh thoảng dừng xe hướng dẫn cho chúng tôi xem một số danh lam thắng cảnh và công trình văn hoá ở TP Chattanooga như một hướng dẫn viên du dịch mà ông chưa làm cho bất kỳ ai. Cử chỉ này càng chứng tỏ ông yêu Việt Nam như thế nào. Ông Nelson tiễn chúng tôi tới tận chân cầu thang máy bay và chờ cho đến khi máy bay cất cánh thì mới quay về nhà. Chúng tôi lưu luyến tạm biệt ông một người Mỹ rất yêu Việt Nam, hết lòng vì Việt Nam. Trời đẹp nên chiếc máy bay nhỏ nhẹ nhàng cất cánh và lướt gió trên bầu trời xanh thăm thẳm không vướng một áng mây. Qua cửa sổ máy bay, tôi lại có dịp quan sát đất nước Hoa Kỳ mênh mông rộng lớn, thấy cả con sông Mississippi dài nhất nước Mỹ với 6019 km đứng vào hàng dài nhất thế giới sau sông Nin, Châu Phi (6484km) và sông Amazon—Nam Mỹ (6516km), thấy những cánh đồng mênh mông được quy hoạch như bàn cờ…

Sau 2h30 phút, máy bay nhẹ nhàng hạ cánh xuống sân bay nhỏ gần TP Genneve, nơi cách đây 4 ngày chúng tôi xuất phát bay tới TP Chattanooga. Chúng tôi tiếp tục đi ô tô hướng về khách sạn Carter ở trung tâm New York. Trên con đường dài hàng trăm dặm, chúng tôi lại có cơ hội ngắm nhìn, tìm hiểu thêm về đất nước hùng mạnh nhất thế giới, có sức sống cao nhất và có ảnh hưởng hầu hết các nước trên toàn cầu, thông qua sức mạnh kinh tế, quân sự và văn hoá như phim ảnh, chương trình ti vi và McDonald mà ngày nay đã có mặt khắp các thành phố trên thế giới. Có thể nói McDonald, là một nét độc đáo của nước Mỹ. Trên đường, thỉnh thoảng GS Phong lại dừng xe để chúng tôi vào McDonald ăn uống và vệ sinh với giá rẻ và thuận tiện vô cùng: Bán nhanh, ăn nhanh, uống nhanh, (uống các loại nước không phải trả tiền).Trời càng về đêm càng lạnh, nhưng trong xe chúng tôi vẫn ấm áp tình người và đầy ắp tiếng cười bởi những câu chuyện tiếu lâm Việt Nam cả xưa lẫn ngày nay đều được thi nhau kể để quên con đường dài và làm cho GS Phong tỉnh ngủ khi lái xe. Càng vào sâu trung tâm TP New York thì càng đi chậm vì xe ô tô quá nhiều nên mãi tới 8 giờ tối mới tới khách sạn Carter. Đây là khách sạn lớn có tuổi đời gần trăm năm và có tới 700 buồng mà lúc nào cũng hết chỗ. Ông chủ của khách sạn là người Việt Nam tên là Trường. Anh Thắng Trần là cháu của nhà thơ Tế Hanh quen với ông Trường nên lấy chỗ cho chúng tôi ở mà không phải trả tiền. Nghe nói, có nhiều người Việt Nam tới ở đây cũng được ông Trường cho ở miễn phí. Ông coi việc giúp đỡ người đồng hương trên đất Mỹ cũng như góp phần ủng hộ đất nước là nghĩa vụ của mình. Tuy vậy cũng có người Việt Nam làm ăn khá trên đất Mỹ, nhưng không có tấm lòng như ông chủ khách sạn Carter, như trường hợp ông chủ hiệu phở Nha Trang, quê ở Khánh Hoà. Đây là cửa hàng phở khá lớn ở New Yok, thu hút rất đông người ăn, đa số là người Mỹ. Chúng tôi đến đây vừa để tìm hiểu xem món phở độc đáo của Việt Nam thu hút người Mỹ như thế nào, đồng thời cũng ăn cho đỡ nhớ cơm Việt sau gần 10 ngày chỉ ăn cơm Mỹ. Ông chủ quán trạc tuổi thất tuần biết tôi ở xứ mình nên chuyện trò rôm rả, nhưng khi thanh toán tiền một bát phở, ông vẫn lấy của chúng tôi bằng giá người Mỹ là 7 USD, tính ra tiền Việt Nam là 150 ngàn đồng. Thật là khủng khiếp đối với các nghệ sĩ nghèo như chúng tôi. Nhớ lại tháng 10 năm trước, chúng tôi vào ăn ở nhà hàng buffet Trung Quốc giành cho người cao tuổi từ 50 trở lên. Ở đây tha hồ ăn với hàng chục món ngon mà chỉ có 5USD. Gần như vậy, trưa hôm sau anh Thắng Trần chiêu đãi chúng tôi tại nhà hàng Nhật Bản cũng nhiều món ngon, nhưng cũng chỉ có 7 USD một người. Như vậy một bát phở Việt giá đắt hơn bữa cơm Tàu và cơm Nhật, nhưng thực khách vẫn đông. Vì phở là đặc sản ẩm thực Việt Nam được người nước ngoài ưa thích.

Sau bữa ăn ở nhà hàng Nhật Bản, chúng tôi vội tới Trường Đại học Hunter để tiếp tục giới thiệu nghệ thuật buổi cuối cùng.

Không như những trường đại học khác mà chúng tôi đã làm, ở đây lại bán vé. Có lẽ anh Thắng Trần người đứng ra tổ chức sự kiện này muốn thu để chi phí cho chúng tôi. Nhưng vì bán vé mà người xem không đông như ở các trường khác. Tuy vậy đây là những khán giả trí thức trong đó có hai vị tham tán và bí thư thứ nhất ở phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc rất quan tâm tới nghệ thuật dân tộc Việt Nam.

Chương trình giới thiệu nghệ thuật kết thúc, tôi hỏi khán giả ai có cảm tưởng và suy nghĩ gì về nghệ thuật truyền thống Việt Nam thì liền có mấy câu hỏi khá lý thú như: Nghệ thuật Tuồng đang được bảo tồn và phát huy thế nào trong thời đại toàn cầu hoá?
— Tuổi trẻ Việt Nam có thích Tuồng không?
— Tuồng có phải từ Kinh kịch Trung Quốc không?

Đây là những câu hỏi tôi thường gặp trong những cuộc giao lưu, phỏng vấn, hoặc toạ đàm nghiên cứu ở Việt Nam và ở nước ngoài, mà tôi đã giải thích có sức thuyết phục không những bằng lý thuyết mà còn kết hợp với thực tiễn đời sống nghệ thuật và minh hoạ nghệ thuật. Ví dụ muốn làm cho người chất vấn hiểu về sự khác biệt giữa nghệ thuật Tuồng Việt Nam và nghệ thuật Kinh kịch Trung Quốc thì phải dẫn chứng về tư liệu lịch sử, kết hợp với việc minh hoạ nghệ thuật Tuồng. Cụ thể là phải cho thấy được sự khác biệt ở chỗ nào trong âm nhạc và trong ngôn ngữ động tác biểu diễn giữa Tuồng Việt Nam và Kinh kịch Trung Quốc.

Khán giả tại Trường đại học Hunter tỏ ra rất thích thú và còn muốn được xem thêm nữa, nhất là hai vị ở phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp quốc. Tham tán Trần Văn Toanh và Bí thư thứ nhất Lương Hồng Phúc lên sân khấu chúc mừng, chụp ảnh với các nghệ sĩ và mời chúng tôi ngay chiều hôm đó đến thăm Phái đoàn và thăm cơ quan Liên hợp quốc. Đây là một cơ hội tốt, nên chúng tôi vội vàng sắp xếp công việc để được vào cái nơi mà những lần trước đến đây chỉ được đứng nhìn từ xa và chụp ảnh kỷ niệm!

Thăm Phái đoàn Việt Nam tại LHQ

Theo đúng hẹn, 3giờ chiều là chúng tôi tới cơ quan Liên hiệp quốc, nhưng đường phố New York đông nghịt xe ô tô, tốc độ như rùa bò nên tới nơi hơi muộn một chút. Cả hai anh Toanh và Phúc đón và đưa chúng tôi vào trụ sở phái đoàn của ta trong một toà nhà to lớn cao hàng chục tầng. Tiếp chúng tôi là Đại sứ Bùi Thế Giang, Phó trưởng đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc. Anh Giang quen biết tôi nên tiếp tôi và các nghệ sĩ cùng đi rất thân tình, trọng thị. Anh cho biết cơ quan của phái đoàn ta gần đây đã được mở rộng hơn, trong đó có cả cơ quan tổng lãnh sự quán, có nhiều ban, phòng chuyên môn nhưng làm không xuể khối công việc rất lớn, vì vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng cao, công việc càng nhiều.

Đại sứ Bùi Thế Giang cho biết, năm qua phái đoàn ta hoạt động có nhiều thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Về văn hoá, phái đoàn đã ủng hộ tích cực cho việc đón tiếp và biểu diễn thành công của dàn nhạc giao hưởng Việt Nam 120 người tại New York và Boston. Lần đầu tiên có tới gần một trăm đại sứ các nước tại Liên Hiệp quốc đến xem chương trình âm nhạc Việt Nam và đánh giá rất cao. Đại sứ Bùi Thế Giang nói: “Rất tiếc là phái đoàn ta không biết có đoàn nghệ thuật dân tộc Việt Nam do GS Hoàng Chương dẫn đầu để tổ chức giới thiệu tại Liên Hiệp quốc thì hay biết mấy, vì Tuồng và âm nhạc dân tộc Việt Nam là nét độc đáo của văn hoá Việt Nam mà bạn bè trên thế giới rất quan tâm tìm hiểu. Đặc biệt các phái đoàn các nước Đông Nam Á tại Liên hiệp quốc rất gần gũi Việt Nam và luôn luôn ủng hộ các hoạt động của Việt Nam trong đó có biểu diễn nghệ thuật”.

Đại sứ Giang căn dặn chúng tôi: “Nếu năm tới có chương trình sang Mỹ thì nhớ liên hệ với phái đoàn để chúng tôi hỗ trợ mà người trực tiếp là tham tán Trần Văn Toanh”. Đại sứ Bùi Thế Giang cùng chụp ảnh lưu niệm rồi đưa chúng tôi đi thăm cơ quan lãnh sự quán và thăm các phòng trong cơ quan phái đoàn. Xong tham tán Trần Văn Toanh đưa chúng tôi đến thăm hội trường, phòng họp của Liên Hợp quốc. Nhưng muốn vào đây thì phải làm đủ các thủ tục kiểm tra hộ chiếu, chụp ảnh, điểm chỉ, soi hành lý, vật dụng….. còn nghiêm ngặt hơn qua cửa khẩu sân bay. Anh Toanh cho biết, sau vụ 11/9/ 2001, an ninh ở Mỹ làm rất nghiêm ngặt bởi bọn khủng bố luôn rình rập…. Nhờ có tấm thẻ ngoại giao đặc biệt của tham tán Trần Văn Toanh mà chúng tôi được vào sâu trong hội trường, được ngồi ngay trên hàng ghế thứ hai, nơi phái đoàn Việt Nam ngồi và hơn thế nữa còn được lên đứng trên bục của Tổng thư ký Liên hiệp quốc để chụp ảnh. Đúng là chuyện trong mơ, nếu không phải là những sứ giả văn hoá dân tộc thì làm sao đến được những cái nôi của trí thức, của lực lượng yêu chuộng hoà bình của toàn thế giới làm sao đến được những trường đại học Mỹ để thuyết giảng về nghệ thuật sân khấu và âm nhạc truyền thống của dân tộc mình. Và, nếu không phải là sứ giả văn hoá dân tộc thì làm sao được phái đoàn Việt Nam tại Liên hiệp quốc đón tiếp và làm sao đến được chỗ thâm cung nhất của nhân loại là nơi làm việc, hội họp của Liên Hiệp quốc, nơi mà đất nước ta, nhân dân ta phải mất gần 40 năm phấn đấu mới có thể đến đây và giành được một vị trí xứng đáng trên trường quốc tế.

Kết thúc cuộc tham quan đặc biệt này chúng tôi vô cùng cảm ơn các anh ở phái đoàn Việt Nam tại Liên Hiệp quốc. Cảm động hơn hết là anh Lương Hồng Phúc bí thư thứ nhất, phải ngồi trông xe cho chúng tôi suốt mấy tiếng đồng hồ vì xe không có chỗ gửi, vì ở Mỹ không thể đỗ xe ngoài đường như ở Việt Nam. Tấm lòng của các anh thật cao cả khiến chúng tôi vô cùng cảm kích. Chúng tôi ôm hôn các anh và chia tay trong tình nghĩa quê hương Việt Nam sâu nặng khó quên. Liên hiệp quốc xa xôi trước đây thì bây giờ cảm thấy rất gần vì trong đó có phái đoàn Việt Nam, có những con người đồng hương rất nhiệt tình và rất tốt bụng.

 

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}