Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghệ thuật:

 

Nghệ thuật tranh, tượng đài ngoài trời ở Hà Nội sau 60 năm Thủ đô giải phóng - nhìn lại và suy ngẫm

Thứ Ba, 25/11/2014 14:24 GMT +7
 Ny San
                                                                                      
 
60 năm qua, Hà Nội đã dựng được một số tranh, tượng đài, phù điêu ngoài trời. Những tác phẩm nghệ thuật này đã miêu tả một số mốc son đáng nhớ gắn liền với lịch sử 1.000 năm của Thăng Long - Hà Nội. Trong đó, có giá trị nhất, nổi tiếng nhất là bức Tranh gốm sứ dọc theo đê sông Hồng đoạn qua Hà Nội đã được sách Kỷ lục Guines thế giới ghi nhận.
 

1. Tranh, tượng đài ngoài trời ở Hà Nội trước năm 1954
 
Khái niệm tượng đài và tượng đài đầu tiên được xuất hiện ở Hà Nội bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX. Trước đó, việc tưởng niệm các anh hùng dân tộc (những người đã có công trong các cuộc kháng chiến chống phong kiến phương Bắc xâm lược), thường là tạc tượng đưa vào thờ trong các đền, miếu, đình. Đến dịp ngày sinh, ngày mất/hóa, các tượng thờ này được đưa ra rước quanh làng.
 
Những tượng đài đầu tiên xuất hiện ở Hà Nội đa phần đều do người Pháp dựng nên, trong quá trình đô hộ và giao lưu văn hóa.
 
- Tượng Nữ thần tự do (được dân ta gọi là tượng Đầm xòe), là tượng đầu tiên dựng ở Vườn hoa Đốc Lý (nay là Vườn hoa Lý Thái Tổ, bởi có tượng Lý Thái Tổ dựng năm 2010), dựng năm 1889. Mục đích dựng tượng này người Pháp nhằm quảng bá cho tư tưởng “Tự do – Bình đẳng-Bác ái”. Nhưng việc làm của Pháp ở Việt Nam lại hoàn toàn ngược lại với chiêu bài mà Pháp đưa ra.
 
- Năm 1890, nhân dịp Quốc khánh Pháp (14/7), người Pháp cho dựng bức tượng Paul Bert – viên Toàn quyền Pháp tại Đông Dương tại vườn hoa Đốc Lý, và đổi tên Vườn hoa này thành Vườn hoa Paul Bert. Bức tượng viên Toàn quyền Pháp to bằng người thực, được dúc bằng đồng mang từ Pháp sang. Bức tượng thể hiện rõ tinh thần thực dân, miệt thị người Việt Nam qua việc mô tả. Paul Bert một tay cầm cờ Pháp, một tay giơ ra chỉ lên đầu một người An Nam búi tóc, mặc bộ áo cánh ngồi khúm núm dưới chân.
 
Một thời gian sau khi dựng tượng Paul Bert, bức tượng “đầm xòe” được người Pháp cho chuyển đến dựng ở Vườn hoa Bách Việt (tức Vườn hoa Cửa Nam – hay Place Neyret).
 
Tại Vườn hoa Paul Bert còn có tượng Renan – nhà văn, nhà sử học lừng danh người Pháp. Vị trí tượng quay mặt nhìn sang Nhà băng Đông Dương (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam).
 
- Ngày 23/5/1931, tại cảng Quai Clemenceau (tên thường gọi là Bến Phà Đen) ở đầu cầu Long Biên, ngày nay là đường Trần Nhật Duật, người Pháp dựng bức tượng Jean Dupuis. Jean Dupuis vốn là một nhà buôn người Pháp, chỉ đường cho các chiến thuyền Pháp xâm lược miền Bắc Việt Nam, mà nơi đổ bộ đầu tiên của thủy quân Pháp là Bến Phà Đen. Phía dưới pho tượng chân dung Jean Dupuis là phù điêu các chiến hạm Pháp cập Bến Phà Đen.
 
- Tại Vườn hoa Canh Nông (tức Vườn hoa Lê Nin hiện nay), Pháp đã dựng tượng đài lớn bằng đá hoa cương  với dòng chữ “Souvernir à nos heros” (Tưởng niệm các anh hùng của chúng ta) để kỷ niệm sự kiện quân Pháp chiếm được Thành Hà Nội. Nhóm tượng này miêu tả một tốp lính Pháp đang hùng hổ chĩa súng và đại bác nhằm thẳng vào Cột Cờ Hà Nội ở phía bên kia đường.
 
- Tại Vườn hoa Pasteur (đối diện tòa nhà của Viện Pasteur do Pháp xây dựng), dựng tượng bán thân nhà bác học Pháp L.I. Pasteur bằng đồng.
 
- Tại vườn hoa đối diện Phủ Khâm Sai (nay là Nhà khách Chính phủ), người Pháp cho dựng Đài phun nước. Nước được phun lên từ 08 con cóc đúc bằng đồng ở xung quanh bệ đài hình trụ vuông nên dân ta thường gọi là Vườn hoa con cóc (nay tên chính thức là Vườn hoa Diên Hồng).
 
Từ sau khi sự kiện Nhật đảo chính Pháp, đặc biệt là sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chỉ duy nhất tượng nhà bác học L.I. Pasteur và Đài phun nước con cóc là còn để lại và tồn tại đến nay, còn các tượng khác đều đã bị Hà Nội phá bỏ.
 
2. Tranh, tượng đài ngoài trời ở Hà Nội từ ngày giải phóng 10/10/1954 đến nay
 
Thủ đô Hà Nội giải phóng ngày 10/10/1954, nhưng phải đến năm 1966, nghĩa là 12 năm sau, Hà Nội mới tiến hành dựng tượng đài ngoài trời. Tượng đài đầu tiên được dựng là tượng Lý Tự Trọng đặt ở Vườn hoa Lý Tự Trọng (đầu đường Thanh Niên, đối diện đền Quan Thánh). Nhà điêu khắc Nguyễn Văn Tự là tác giả của tượng đài này. Lý Tự Trọng là một thanh niên tham gia cách mạng từ khi còn rất trẻ và đã anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ. Trong bối cảnh đế quốc Mỹ đã tiến hành chiến tranh bắn phá miền Bắc bằng không quân và hải quân, việc dựng tượng đài Lý Tự Trọng ở Thủ đô có ý nghĩa rất lớn trong việc động viên cổ vũ thanh niên  Hà Nội lên đường nhập ngũ và sẵn sàng chiến đấu.  Trên thực tế, sau khi khánh thành bức tượng Lý Tự Trọng, Vườn hoa Lý Tự Trọng trở thành nơi sinh viên, thanh niên sinh hoạt  văn hóa, chính trị. Các hoạt động noi gương Lý Tự Trọng liên tiếp được tổ chức, các lễ rước đuốc, nhập ngũ và sinh hoạt Đoàn, Đội đã diễn ra rất trọng thể trước tượng Lý Tự Trọng.
 
Về mặt nghệ thuật tượng đài ngoài trời, bức tượng Lý Tự Trọng được xem như mẫu mực của nghệ thuật điêu khắc tượng chân dung của giới điêu khắc miền Bắc lúc đó.
 
Tiếp sau Tượng đài Lý Tự Trọng, từ đó đến nay, Hà Nội đã dựng được một số tượng đài nữa, là:
 
- Các tượng đài trong Công viên Thống Nhất (tên cũ là Công viên V.I. Lê Nin): Công viên này rộng hơn 50 ha, đã được thành phố Hà Nội cho dựng khá  nhiều tượng người, như: Tượng đài Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi (tác giả Võ Văn Tấn), tượng người bắn cung, tượng hai trẻ em nô đùa, tượng phụ nữ ngồi đọc sách, …Cụm tượng đài mới nhất được dựng trong Công viên Thống Nhất (trên đảo Hòa bình) là tượng đài Bác Hồ và Bác Tôn (tượng đứng toàn thân).
 
- Tượng đài “Khắc sâu căm thù giặc Mỹ”, tưởng niệm những nạn nhân B52 của đế quốc Mỹ, tại phố Khâm Thiên. Năm 1973, một năm sau ngày Mỹ ném bom B52 hủy diệt Hà Nội, trong đó có phố Khâm Thiên (ngày 26/12/1972), Thành phố Hà Nội đã quyết định giữ lại một đoạn phố bị bom Mỹ phá hủy gần như hoàn toàn để tưởng niệm những người dân phố Khâm Thiên đã bị bom Mỹ giết chết. Tượng đài “Khắc sâu căm thù giặc Mỹ” (tác giả Nguyễn Văn Tự) đã mô tả một bà mẹ bế đứa con nhỏ trong tay chết đứng ngay trong đống hoang tàn của bom B52.  
 
- Cụm tượng đài “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh” (tác giả Kim Giao, dựng năm 1984) ở cạnh đền Bà Kiệu, hướng tượng nhìn thẳng ra đường Đinh Tiên Hoàng.
 
- Tượng đài V.I.Lê nin - lãnh tụ của giai cấp vô sản thế giới dựng tại Vườn hoa Canh Nông (cạnh đường Điện Biên Phủ, đối diện Cột Cờ Hà Nội và Bảo tàng Quân đội). Năm 1984, Hà Nội đón nhận tượng đài V.I.Lê nin do Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô trao tặng. Sau khi dựng tượng V.I. Lê Nin,  Vườn hoa Canh Nông được đổi gọi là Công viên V.I. Lê Nin. Theo đó, Công viên V.I. Lê nin (cạnh hồ Ha Le), đã lấy lại tên cũ là Công viên Thống Nhất.
 
- Tượng đài bác sĩ  A. Yesin (tượng bán thân bằng đồng): dựng tại Vườn hoa A.Yesin (cạnh Chợ Đống Cao).
 
- Tượng đài Anh hùng Hô xe Mácti Pê rét của dân tộc Cu Ba (tượng bán thân, bằng đồng) ở Vườn hoa Tao Đàn (cuối đường Lý Thường Kiệt, đối diện Thông tấn xã Việt Nam và Trường ĐH Tổng hợp Hà Nội).  
 
- Tượng đài Lý Thái Tổ (tượng toàn thân, bằng đồng): Tượng được dựng tại Vườn hoa Indira Grandi (vốn xưa là Vườn hoa Paul Bert dưới thời Pháp, sau đổi thành Vườn hoa Chí Linh. Khi dựng bức tượng bà Thủ tướng Ấn Độ Indira Grandi tại Vườn hoa Chí Linh, vườn hoa này đổi gọi là Vườn hoa Indira Grandi), nhân kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội, năm 2010. Sau khi dựng tượng đài Lý Thái Tổ tại Vườn hoa Indira Grandi, bức tượng bà Indira Grandi được dời về đặt tại Công viên Thành Công. Vườn hoa Indira Grandi được đổi gọi là Vườn hoa Lý Thái Tổ.
 
- Tượng đài bà Indira Grandi: Trước đó, tượng đài bà dựng tại khu vực tượng đài Lý Thái Tổ của Vườn hoa Lý Thái Tổ hiện nay. Sau khi nơi đây được thành phố quyết định dựng tượng vua Lý Thái Tổ, tượng bà Indira Grandi được di chuyển về dựng tại  Công viên Thành Công, theo đó, công viên này được đổi gọi là Công viên Indira Grandi. Công viên Indira Grandi nằm cạnh Tòa nhà Dầu khí Việt Nam (ngã tư Láng Hạ - Huỳnh Thúc Kháng) và hồ Thành Công.
 
- Tượng đài Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh (tác giả Vũ Đại Bình, dựng khoảng năm 2010) tại Vườn hoa Hàng Đậu (tên cũ là Vườn hoa Vạn Xuân).
 
- Tượng đài - phù điêu và bức tranh gò đồng mô tả hình ảnh cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội Mùa Đông năm 1946 (tác giả Nguyễn Chi Lăng) trước cửa chợ Đồng Xuân.
 
- Tượng đài Quang Trung và phù điêu ở Công viên Gò Đống Đa (tác giả Vương Học Báo). Năm 1989, nhân dịp kỷ niệm 200 năm chiến thắng quân Thanh ở  Ngọc Hồi, Hà Nội cho dựng tượng đài Quang Trung – Nguyễn Huệ ở khu vực gò Đống Đa. Đây là tượng đài có kích thước lớn nhất ở Hà Nội, riêng tượng Quang Trung cao 14,6m, thể hiện Quang Trung đang chống tay vào đốc kiếm, hướng ánh mắt xa xăm. Phía sau tượng đài Quang Trung là phù điêu lớn dài khoảng 30m, chia làm 2 mảng, một bên mô tả cuộc tấn công theo thế rồng cuộn, làm quân giặc thua chạy tán loạn; một bên là cảnh vua Quang Trung và đoàn quân hiên ngang tiến vào Thăng Long cùng không khí đón Tết tưng bừng của người Thăng Long.
 
- Vườn hoa Ngọc Hồi (thuộc huyện Thanh Trì, cửa ngõ phía Nam Hà Nội, nằm cạnh đường Quốc lộ I A, cách Hà Nội hơn 10km): dựng tượng đài Chiến thắng Ngọc Hồi (tác giả Tạ Duy Đoán) được làm theo lối biểu trưng với hình tượng chắc khỏe của ba mũi tên đồng bay thẳng về phía Thăng Long.
 
- Tượng đài tưởng niệm Những chiến sĩ vô danh (tác giả Nguyễn Hồng Ngọc và Lê Hiệp) dựng ở Vườn hoa Bắc Sơn (cạnh Quảng trường Ba Đình). Tượng đài mô tả hình mái chùa lồng gắn với bia tưởng niệm.
 
- Tượng đài - phù điêu mô tả cảnh bệnh viện Bạch Mai bị bom B52 Mỹ phá hủy dựng ngay trên một khu nhà bị bom Mỹ tàn phá năm 1972 trong khuôn viên Bệnh viện Bạch Mai.
 
- Đài tưởng niệm các chiến sĩ cách mạng Nhà tù Hỏa Lò (tác giả Lê Liên và Khúc Quốc Ân) dựng trong phần còn giữ lại của Nhà tù Hỏa Lò làm di tích, sau khi khu nhà tù này được phá để xây dựng tòa nhà cao tầng. Tác phẩm mô tả những chiến sĩ cách mạng kiên cường, bất khuất trước gông cùm, các đòn tra tấn dã man của bọn cai ngục.
 
- Tượng đài Công nhân Việt Nam (tác giả Nguyễn Phú Cường) ở góc sân  mặt tiền Cung Văn hóa Hữu nghị Hà Nội.  Tác phẩm miêu tả hình ảnh công – nông – binh đứng dưới hai lá cờ Đảng và cờ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh được nhập lại thành hình dáng như một mũi tầu đang lướt sóng.
 
- Tranh gốm sứ trên đê sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội (tác giả Nguyễn Thu Thủy): Bức tranh với chất liệu gốm sứ trên nền tường của đê sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội miêu tả hầu hết những di tích, hiện vật, biểu trưng, địa danh tiêu biểu nhất của Hà Nội trên cả phương diện lịch sử và văn hóa. Bức tranh đã được ghi trong sách Kỷ lục Guines thế giới về thể loại tranh gốm sứ. Bức tranh hoàn thành đúng vào dịp Kỷ niệm Thăng Long – Hà Nội tròn 1.000 tuổi.
 
Ngoài các tranh, tượng đài – phù điêu do chính quyền TP Hà Nội chỉ đạo xây dựng đặt tại các con đường, công viên, khu di tích lịch sử - văn hóa của  thành phố trên đây, nhiều nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, trường học ở Hà Nội đã dựng tượng đài danh nhân hoặc đài tưởng niệm một sự kiện liên quan đến cơ quan, đơn vị trong khuôn viên cơ quan, đơn vị mình. Có thể kể đến:
 
- Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh dựng tại sân trước thềm giảng đường chính Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
- Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh (tác giả Nguyễn Vũ An) dựng tại khuôn viên Công ty Cơ khí Hà Nội. Tác phẩm dựng năm 2002, nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Công ty và kỷ niệm 9 lần Bác Hồ về thăm và giao nhiệm vụ cho cán bộ, công nhân nhà máy.
- Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh (tác gải Nguyễn Vũ An) tại Trụ sở Công an quận Hai Bà Trưng.
- Tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Công ty Bóng đèn phích nước Rạng Đông.
 - Tượng đài Thiếu tướng – Anh hùng Lao động Trần Đại Nghĩa (tác giả Tạ Duy Đoán) tại khuôn viên Viện Khoa học và Công nghệ Trần Đại Nghĩa.
 
3. Mấy nhận xét và kiến nghị
3.1. Mấy nhận xét về thực trạng tranh, tượng đài ngoài trời ở Hà Nội hiện nay
 
          60 năm qua, Hà Nội đã dựng được một số tranh, tượng đài, phù điêu ngoài trời. Những tác phẩm nghệ thuật này đã miêu tả một số mốc son đáng nhớ gắn liền với lịch sử 1.000 năm của Thăng Long - Hà Nội. Trong đó, có giá trị nhất, nổi tiếng nhất là bức Tranh gốm sứ dọc theo đê sông Hồng đoạn qua Hà Nội đã được sách Kỷ lục Guines thế giới ghi nhận. Tuy nhiên, nhìn lại 60 năm nghệ thuật tranh, tượng đài ngoài trời ở Hà Nội, có thể thấy các công trình nghệ thuật này thật nghèo nàn, chưa đáp ứng được nhu cầu cảnh quan của một thành phố, chưa tương xứng với Thủ đô ngàn năm văn hiến thành phố vì hòa bình.
 
3.1.1. Hà Nội chưa khai thác hết các địa điểm dựng tranh, tượng đài, phù điêu ngoài trời.
 
Tranh, tượng đài, phù điêu ngoài trời thường được các nước trên thế giới dựng tại các ngã 3, ngã 4, các bùng binh, các công viên, vườn hoa, quảng trường. Nhìn lại Hà Nội, cho đến nay, mới chỉ có các công viên, vườn hoa và bờ đê (đồng thời cũng là con đường) dọc sông Hồng là có các tranh, tượng đài, phù điêu hiện diện. Còn, hầu hết những vị trí đắc địa nhất, hiệu quả nhất (để phô diễn giá trị thẩm mỹ của tác phẩm tranh tượng, để làm đẹp cảnh quan khu vực, để nâng cao hiểu biết về lịch sử dân tộc,…) thì lại chưa có tranh, tượng đài, phù điêu nào. Đó là: các cửa ô của Thăng Long xưa, các quảng trường (Quảng trường CM tháng Tám trước Nhà hát Lớn Hà Nội, Quảng trưởng 1/5 trước Cung VH Hữu nghị Hà Nội, Quảng trường Đông Kinh nghĩa thục ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm, …), các ngã 3, 4, 5, 6. Phần lớn các vị trí đắc địa này là nơi dựng một vòng xuyến, ở giữa ngự một cột đèn chiếu sáng, và gần đây là sự xuất hiện của những cây cầu vượt bằng thép đầy tính thực dụng, tạm bợ ở một số ngã 4 ngã 5. Bao biện cho sự thiếu hụt, thấp kém thẩm mỹ này, không ít người đổ lỗi … tại Hà Nội “phố nhỏ, ngõ nhỏ”, không có không gian cho tượng đài. Trong khi những người làm mỹ thuật Hà Nội xót xa, tiếc nuối thì những người làm giao thông được ngợi khen, tung hô là có sáng kiến giải quyết nạn ùn tắc giao thông.
 
Thăng Long - Hà Nội xưa, có cửa hẳn hoi: Cửa Đông, Cửa Nam, Cửa Bắc, Ô quan Chưởng, Ô Cầu Dền, Ô Chợ Dừa,… Nay, người thì bảo Hà Nội có  5 cửa ô (“Năm cửa ô đoàn quân tiến về,…”), người thì bảo 8, thậm chí 12 cửa ô. Có nhiều ý kiến như thế, nhưng chúng ta không khó để xác định và từ đó ấn định những cửa ô chính để Hà Nội mở ra và ngược lại, các địa phương khác, bạn bè quốc tế vào/về Hà Nội. Sau khi xác định các cửa ô/cửa ngõ chính rồi, thì không thể không xây dựng một cái cổng. Nhưng cho đến nay, tất cả các con đường cửa ngõ Thủ đô (Hải Phòng lên / Đường 5, Thái Nguyễn xuống / QL3, Đại lộ Thăng Long, Quốc lộ I từ phía Nam ra,..) đều không có cổng, không có tranh, tượng đài, phù điêu, chứ nói gì đến Khải hoàn môn. Nhớ lại, để chuẩn bị kỷ niệm Hà Nội tròn 1.000 tuổi, Hà Nội đã có dự án xây Khải hoàn môn Hà Nội, đã tổ chức thi vẽ mẫu,… Vậy mà, đến nay, Hà Nội đã 1003 năm rồi, Khải hoàn môn Hà Nội vẫn chưa thấy đâu.
 
3.1.2. Về đối tượng dựng tượng đài
 
Về cơ bản, tượng đài Hà Nội chia thành hai thể loại: Tượng chân dung nhân vật lịch sử và nhóm tượng, tượng mang tính chất biểu trưng.

Phần lớn tượng người được dựng trong các công viên, vườn hoa Hà Nội là các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa người nước ngoài. Số anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa người Việt Nam được dựng tượng ở qui mô do thành phố chỉ đạo rất ít, không đếm nổi trên đầu ngón tay của một bàn tay. Trong khi đối tượng này trong lịch sử hào hùng 4.000 năm của đất nước “vốn xưng nền văn hiến đã lâu” nhiều, nhiều lắm. Và, ngay chính tại các con đường, các phố Hà Nội mà họ được đặt tên, cũng không có tranh, tượng gì.  
 
Và, ngay cả khi Hà Nội đã được tôn vinh là “Thành phố vì Hòa bình”, song cho đến nay biểu tượng “Thành phố vì Hòa bình” Hà Nội vẫn chưa … chọn được chỗ để đặt.
 
3.1.3. Nghệ thuật và chất liệu tranh, tượng đài
 
Nghệ thuật tượng đài Hà Nội chịu nhiều ảnh hưởng nghệ thuật tượng đài Liên Xô trước đây, với phong cách hiện thực/tả thực là nổi trội. Những tranh,  tượng đài ở Hà Nội hiện có đều mang tính minh họa lịch sử (nhân vật, hay một chiến công,..), từ qui mô kích thước cho đến hình thức thể hiện, chưa có những tác phẩm mang tính biểu tượng “ý tại ngôn ngoại”, buộc người xem (đặc biệt là du khách nước ngoài) phải chiêm ngưỡng, phải suy nghĩ sâu để tìm sự đồng cảm, trên cả phương diện hình thức và nội dung tác phẩm.
 
3.2. Nguyên nhân của tình trạng trên
 
          Theo tôi, nguyên nhân chính của tình trạng trên là do lãnh đạo Hà Nội chưa quan tâm nhiều đến vấn đề cảnh quan, vẻ đẹp mỹ thuật của Thủ đô; mặc dù Hà Nội hô và giăng rất nhiều khẩu hiện xây dựng Thủ đô “Xanh – Sạch – Đẹp”.  Đối với khu phố cổ Hà Nội / 36 phố do đặc điểm kiến trúc Hà Nội thường là kiến trúc nhỏ, không có các đại lộ lớn, không gian vườn hoa hẹp, nên việc dựng tượng đài gặp nhiều khó khăn, đã đành, có thể đổ thừa được. Nhưng ở những khu đô thị mới, đặc biệt là Hà Nội mở rộng, trong qui hoạch, nội việc bắt buộc phải có quĩ đất cho sân chơi cho trẻ em, người ta cũng… quên, huống chi là không gian cho tranh, tượng đài.
 
          Trong cái lỗi ấy, không thể không trách cứ đội ngũ họa sĩ, nhà điêu khắc Hà Nội.  
 
          Nhạc sĩ Trần Tiến, một người Hà Nội gốc, có một bài hát “Hà Nội, những năm 2000”. Trong bài hát, ông mới mơ, Hà Nội không còn trẻ con lang thang,…. Chưa dám mơ đến Hà Nội đẹp tranh, tượng đài.
 
         Còn tôi… tượng đài ngoài trời ở Hà Nội - niềm tin và hy vọng, cho dù là Hà Nội, những năm 3000 !
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}