Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa nghệ thuật Chăm trong mối quan hệ qua lại hai chiều giữa văn hóa các dân tộc anh em

GS. TSKH Phan Đăng Nhật | Thứ Sáu, 27/06/2014 15:42 GMT +7
 Với quan điểm khuyến khích các dân tộc anh em chủ động phát huy mạnh mẽ văn hóa nghệ thuật của mình trong mối quan hệ nhiều chiều, chúng ta sẽ phát hiện, phát huy muôn vàn giá trị văn hóa có tầm cỡ quốc gia và quốc tế.



ĐẶT VẤN ĐỀ
 
         Hầu như ai cũng nói và viết: Việt Nam là một quốc gia đa sắc tộc, văn hóa Việt Nam là “một vườn hoa nhiều hương sắc”. Nhưng khi hành xử cụ thể thì không phải ai cũng làm đúng tinh thần trên. Theo tôi có 2 biểu hiện sai chính:
 
         -Cứ mặc nhiên coi như văn hóa Việt Nam chỉ có văn hóa Kinh, 53 dân tộc anh em không có vai trò gì cả. Đáng tiếc, điều này lại xẩy ra ở các bậc “lão tướng”  về văn hóa, đã từng viết hàng chồng sách văn hóa và rao giảng về văn hóa Việt Nam khắp trong và ngoài nước. Sách của các vị viết và giảng  là:
 
         *Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam.
         *Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam.
         *Cơ sở văn hóa Việt Nam
 
         Trong các sách và bài giảng đó, cái được gọi là “văn hóa Việt Nam” không bao gồm văn hóa các dân tộc thiểu số. Thực tế là không ai có thể bao hêt mọi lĩnh vực, hơn nữa văn hóa DTTS lại khó và ít người nghiên cứu. Vậy chỉ cần các tác giả minh bạch  ghi trên sách là “ văn hóa người Kinh/ hoặc người Việt”, và thưa rõ với độc giả phần mình còn thiếu khi viết về văn hóa Việt Nam.
 
         -Bao cáo chính trị Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần thứ ba (ngày 10-9-1960) ghi: “Đảng và Nhà nước cần phải có kế hoạch toàn diện và lâu dài phát triển kinh tế và văn hoá ở miền núi, làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số."
 
         Qua luận đề này, một lần nữa chứng minh sự quan tâm tận tình, sâu sắc của Đảng và Nhà nước đối với DTTS. Tuy nhiên , phải chăng, xétt về “toàn diện” , cả  “ kinh tế và văn hóa” , miền xuôi luôn luôn đi trước miền núi mà phải chăng còn có chiều ngược lại và có sự ảnh hưởng qua lại hai chiều ?        
                                                                   *
Trong bài này chúng tôi bàn về vị trí vai trò văn hóa DTTS qua trường hợp người Chăm, được cụ thể hóa trong các mục sau:
 

Theo hanh Niên Online, ngày 1.7.2014, Ban quản lý Di tích và du lịch Mỹ Sơn (Quảng Nam) cho biết dự án “Nghiên cứu và trưng bày lưu động tại cộng đồng: Vết tích văn hóa Chăm trong văn hóa người Việt tại một số ngôi làng khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng” đã chính thức khởi động với đợt sưu tầm, nghiên cứu tư liệu hóa các lễ hội, nghi thức và gặp gỡ nghệ nhân ở một số ngôi làng, di tích nổi tiếng.

Chương trình do Ban quản lý Di tích và du lịch Mỹ Sơn và Bảo tàng điêu khắc Chăm (Đà Nẵng) phối hợp triển khai, kéo dài từ tháng 6.2014 đến tháng 2.2015.

Dự án do UNESCO tài trợ, trong khuôn khổ chương trình Dự án nâng cao năng lực bảo tồn, bảo tàng các di sản ở Campuchia, Lào, Việt Nam.

Kết thúc đợt sưu tầm, tư liệu hóa các lễ hội, nghi thức…, các nhóm nghiên cứu của dự án sẽ triển khai trưng bày giới thiệu công chúng để tạo sự hiểu biết của cộng đồng về quá trình tiếp biến, cộng cư giữa người Việt/Kinh và Chăm.

Những địa chỉ tập trung nghiên cứu gồm: các lăng Bà Thu Bồn, phường Rạnh, phường Chào, Mạc Thị Giai và di tích Hương Quế, miếu Bà Chiêm Sơn… (Quảng Nam), di tích ở Khuê Trung, Phong Lệ, Quá Giáng, An Sơn… (Đà Nẵng).

-Văn hóa Chăm bổ sung những giá trị văn hóa nghệ thuật thời cổ sơ
-Văn hóa nghệ thuật Chăm làm giàu văn hóa nghệ thuật Việt những giá trị đặc sắc thời trung đại
-Văn hóa nghệ thuật Chăm chứng minh cơ tầng Đông Nam A bản địa phi Ấn, phi Hoa
 
TRIỂN KHAI
        
 I.Văn hóa Chăm bổ sung những giá trị văn hóa nghệ thuật thời cổ sơ
    
I.Yếu tố sông nước trong nghi lễ Chăm
 
Trong nghi lễ Chăm, yếu tố sông nước được hiện diện rộng rãi trên các mặt: đối tượng thờ cúng, mục đích thờ cúng, lễ vật dâng cúng và hành động lễ hội.

1.Hai vị thần thuỷ lợi được nhân dân khắp nơi tôn sùng là các vua-thần Pô Rômê và Pô Klong Garai. Pô Rômê có công  xây đập nước Marên (1627-1651). Đã bốn thế kỷ qua, chịu đựng với mưa bão ác liệt của vùng Ninh Thuận, đập Marên ngày nay vẫn bền vững, tưới nước cho cánh đồng trù phú Ninh Phước. Lời hát trong lễ cúng, ca ngợi công đức trên của Ngài:
 
Đắp đập dẫn nước là tài Pô Rômê
Đắp đập dẫn nước vào ruộng cho dân làng cày cấy
Nước về mở đập ào ra
Trai làng chất đá đắp đập ngăn sông
Nước chảy qua, trai làng bơi thuyền trên sông
Hoàng hậu tắm mình trong nước mát[1]
 
Vua- thần Pô Klong Garai có công đắp đập Nha Trinh (1151-1205), tại Ninh Sơn, Ninh Thuận. Chín thế kỷ qua, đập Nha Trinh vẫn bền vững trước phong sương, tưới nước cho cánh đồng Phan Rang nhiều nắng gió. Và sau đây là lời hát cúng thờ Ngài:

 Pô Klong Garai, thần thuỷ lợi
Ngài dựng tảng đá vĩ đại
Ngài ngăn sông đắp đập
Ơ giữa núi có dòng sông sâu
Dân làng phủ phục tôn vinh
Xây tháp tạc tượng thờ Ngài
 
Pô Ryak, thần sóng biển, cũng là một vị thần được sùng kính. Trong tiếng Chăm, pô là ngài, thần, ryak là sóng biển. Pô Ryak tên thật là Ja Themeng Key, từ bé vốn thông minh, ham học, lớn lên học bùa phép cứu dân cứu nước và trở thành cận thần của vua Pô Rômê. Khi chết (chết ở biển), Ngài hoá thành thần Biển với tên là Pô Ryak.
 
Cùng với Thần sóng biển, nhân dân thờ vị thần chèo thuyền Pô Tang Ahauk. Trong lễ cúng vị thần này , thầy bóng Ka in dùng đạo cụ mái chèo, múa điệu chèo thuyền trên biển, phụ hoạ theo lời hát bài thánh ca kể về sự tích Thần sóng biển, của thầy vỗ trống (Mư Duôn) (Anh 22).
 
2.Mục đích của việc thờ cúng các vị thần sông biển là cầu mưa, cầu nước. Lễ Palau Pasah (cầu đảo) được tổ chức vào tháng 4 lịch Chăm, mùa khô hạn , nắng nóng, người Chăm làm lễ này ở các cửa biển Lâm Ngư (xã Phương Hải, Ninh Hải), của biển Cà Nà (Phước Diêm, Ninh Phước) và cửa biển Mỹ Tân (Mỹ Tường, Ninh Hải). Trong lễ,   thầy Mư Duôn, vỗ trống Basanưng hát mời các vị thần sông biển đã nêu ở trên như : Thần chèo thuyền (Pô Tang Ahuak), Thần Biển (Pô Ryak), đặc biệt là Thần thuỷ lợi, Pô Klaung Garai và Pô Rômê.
Một mục đích quan trọng nữa là cầu ngư (“mưa thuận gió hoà, tôm cà đầy khoang”). Lời hát trong lễ cúng có đoạn:
 
Chúng con trước trả lễ sau dâng cúng thần
Cầu xin mưa thuận gió  hoà, tôm cá đầy khoang
Cầu thần xin con người, vật nuôi sinh sôi nẩy nở, bình an
Xin thần hãy hưởng lễ vật dâng cúng
Xin hãy phù hộ độ trì cho tất cả chúng con.
 
3.Vật dâng cúng đặc biệt trong nghi lễ Chăm là vỏ ốc , vỏ hến. Hiện vật này có tính biểu tượng hơn là thực tế, nó biểu trưng cho các sản phẩm biển. Ba vỏ ốc, hến được đặt đặt trên một đĩa gạo, trước mặt bàn thờ tổ của bà Bóng. Lễ này không thể thiếu, được gọi là Bhah Kran. Ôc, hến chứ không phải cá. Phải chăng chúng tượng trưng cho sản  phẩm dễ bắt được, vào thời kỳ tối nguyên thuỷ lúc con người chưa có điều kiện bắt nhiều  cá.
 
4.Hành động lễ hội quan trọng và phổ biến là lễ tắm tượng. Người Chăm ở Ninh Thuận có 75 lễ hội. Các lễ đều qua 6 bước :
 
-Rước y phục tại đền.
-Mở cửa lăng tháp.
-Tắm tượng.
-Mặc y phục.
-Đại lễ.
-Hội
 Các lễ hội  đều có mục tắm tượng.
 
Lễ tắm tượng do ông Kathar (thầy kéo đàn kanhi) và bà Bóng (Muk Pajâu) thực hiện. Trong khi tắm các tượng thần, thầy kéo đàn kanhi hát lễ như sau:
 
Chúng con lấy nước từ con sông lớn
Đội về tắm cho thần
Thần là của Trời
Chúng con xin lấy khăn đẹp nhất
Lau mồ hôi trên mình, trên trán
Lau mồ hôi trên tay, chân của Ngài.
 
Trong lúc thầy Kathar kéo đàn kanhi hát lễ thì ông Camưney (người giữ đền, tháp) tưới nước thơm lên tượng thần. Nước được pha với cát lồi (một loại bọt biển đông đặc), rễ cây, trầm hương. Bà con dự lễ còn lấy nước thừa bôi lên đầu tóc để cầu may, cầu phúc lộc.
 
Nước có nhiều ý nghĩa biểu tượng. Một ý nghĩa quan trọng là thanh tẩy và đem lại cuộc sống. Dùng nước để tắm tượng là thực hiện các ý nghĩa trên. Hành động nghi lễ trên có tầm phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt là Nam A và Đông Nam A.
 
“Một công dụng không kém phần phổ biến là nước được dùng làm công cụ thanh tẩy theo nghi lễ; từ trong Đạo Hồi cho tới Nhật Bản, cũng như trong những nghi lễ của thầy phù thuỷ Đạo giáo thời xưa, việc rẩy nước phép, việc tắm gội có vai trò chủ yếu. Tại Ân Độ và khắp Đông Nam A, lễ tắm các tượng thánh vừa là việc tẩy uế, vừa nhắm tái tạo sức sống. Tuân Tử đã viết: bản chất của nước khiến cho nước có tính thanh khiết. Lão Tử dạy rằng, nước là thượng thiện.[2]
 
Tóm lại, các yếu tố sông/biển, nước xâm nhập và ngự trị trong nghi lễ Chăm. Đồng bào sùng kính các vị thần biển, thần sóng biển, thần mái chèo, các vua- thần thuỷ lợi có công lao lớn đắp đập đưa nước về đồng ruộng; khi hành lễ, đồng bào hát lời ca ngợi công đức của các vị thần trên và múa điệu chèo thuyền. Vật dâng cúng không thể thiếu lễ Bhah Kran   (gạo-sò). Một tiết mục nhất thiết phải thực hiện là tắm tượng, lấy nước tinh khiết tự con sông lớn tắm cho tượng thần để thanh tẩy và đem lại cuộc sống.
 
Nhưng trong nghi lễ Chăm,  sông nước không tồn tại đơn lập mà kết hợp với bộ phận đối sánh tương ứng là núi non.
 
II. Tư duy lưỡng hợp
 
II.1. Lưỡng hợp sông nước với núi non
 
 
Ơ trên đã nói về Thần sóng biển và sự tôn vinh Ngài. Nhưng một điều cần chú ý là Thần Biển (Pô Ryak) luôn được cúng ghép với thần Núi (Pô Nai). Đây là hai vị nhân thần có trong lịch sử. Hầu hết các làng đều cúng hai vị và cúng ở địa điểm bãi biển, đầu núi- một địa điểm tương ứng thích hợp với cả hai vị thần Núi và thần Biển. Khi cúng thần Núi Pô Nai, thầy vỗ trống Ginăng hát bài thánh ca, thầy Kain (thầy bóng) mặc lễ phục nữ màu đỏ, trùm khăn trắng, có đeo túi nhỏ trước ngực hình âm vật, tay cầm bông điệp (thuộc loại hoa phượng), vừa nhảy múa theo điệu trống kèn vừa, nhai bông điệp.
 
Tiếp theo , khi cúng thần Biển, Pô Ryak, thầy bóng Kain múa điệu chèo thuyền.
 
Xin lưu ý, sự hoà hợp nam/nữ không chỉ biểu hiện ở việc thờ ghép hai vị thần mà còn thể hiện ngay trong thân thể một vị thầy cúng. Trong y phục của thầy Kain có cả màu vải đỏ (nam-mặt trời) và màu trắng (nữ-mặt trăng). Thầy  (là nam giới) , mặc váy và đeo hình âm vật (nữ).
 
 
Ơ trên đã trình bày về tục tắm tượng. Tượng thần của người Chăm phải là bằng đá và chuyển hóa qua ba bước:
 
-Nguyên thuỷ không phải hình người mà một khối đá thiêng dựng đứng không hề  tô điểm. Đá thô, sản phẩm nguyên sơ của tạo hoá mới giữ được khí thiêng. “Đá đẽo gọt chỉ là tác phẩm của con người, làm cho sản phẩm của thượng đế mất thiêng, nó là biểu tượng của tác động của con người thay thế cho tác động của Tạo hoỏ.”[3]
 
-Tiếp theo là dạng thứ hai, ở đây phần trên của khối đá được điểm thêm mấy chấm và vạch vôi tượng hình  mắt, mũi , mồm.
 
-Cuối cùng, dạng thứ ba, đá mới được tạc thành hình người.
 
Tất cả ba dạng trên hiện đều tồn tại trong các đền tháp Chăm. Các đền nhỏ thường thờ tượng dưới dạng thứ nhất và thứ hai (Anh 14,15,32). Ơ các tháp lớn mới có dạng tượng thứ ba.
 
Vậy khởi nguyên, tắm tượng thực chất là tưới nước lên khối đá (thiêng) (Anh 26). Chúng ta thấy rõ mối quan hệ tương tác, tương hợp giữa nước và đá, một sự kết hợp âm/dương. Và chính hành động này có hiệu quả là đem lại sự sống, thanh tẩy,   phát huy bản chất thanh khiết , thánh thiện, của nước và đá.
  
Nếu  thân thể của thầy Kain có sự kết hợp giữ nam và nữ, thì thần Pô Ryak (thần Biển) là sự kết hợp của nước và đá. Thần vốn từ đá mà ra. Trong đoạn hát về tiểu sử của Ngài có câu:
 
Người ta có tài là do mẹ
Ngài hoá thân từ tảng đá ra đi.
 
Mối quan hệ khăng khít núi/nước cũng được biểu hiện ở thân thế của vị nữ thần núi Pô Nai .(Bà được phối tự đồng thời với Thần Biển-Pô Ryak). Bà vốn sinh từ cây gỗ và sống nơi “đá lớn rừng sâu chập chùng”:
 
Nàng sinh ra từ gỗ cây
Núi cao đá lớn rừng sâu chập chùng
Núi cao đá sắp chồng chồng
Thần dân gõ cửa cầu mong phước nàng
 
Nhưng bà lại đắm đuối say yêu biển cả , thường ngâm mình trong sóng nước:
 
Nhìn nàng chơi vơi sóng biển bao la
Dập dềnh tiếng sóng vỗ bờ
Nàng vẫn nằm say với sóng nước
Mặt trời ngả bóng sang chiều
Nàng vẫn còn mải mê với sóng biển
Sóng biển vỡ tung trắng xoá
Nàng ngửa mình trên tấm ván nhìn say
Từng cơn sóng vỗ ào ào
Nàng nhìn ngắm mãi sóng trào từng cơn
                                   (Trích bài hát lễ về Pô Nai)
 
Về lễ vật dâng cúng, chúng ta lưu ý đến một lễ vật có tính biểu tượng  đặc biệt là vỏ sò và ốc biển (ba chiếc[4]). Vỏ sò và ốc biển đặt trên một đĩa gạo, được gọi là lễ Bhah-Kran. Sự kết hợp gạo/sò là bắt buộc.Nếu gạo (bhah) là biểu trưng của hồn lúa , của cư dân làm nghề nông;  thì ba vỏ sò, ốc (kran) biểu trưng của hồn biển, của cư dân làm nghề biển. Gạo kết hợp với sò, hồn lúa với hồn biển, cư dân trồng lúa kết hợp với cư dân nghề biển. Hai bộ phận khác nhau nhưng hoà hợp tạo nên dân tộc Chăm với niềm tin được giàu có , no đủ , phồn thịnh.
 
II.2. Lưỡng hợp  đực cái/âm dương-múa phồn thực
 
Mối quan hệ lưỡng hợp sông nước/núi non được  kiến lập trong hệ thống tư duy đực cái/âm dương của người Chăm.
Thần thì có thần đất, thần mẹ, nữ thần xứ sở (Pô Inư Nưgar),thuộc nữ tính; thần Trời, thần cha thuộc nam tính. Chiếu trải để cúng thần đất thì úp xuống, cúng thần Trời thì lật lên. Thịt dê dâng cúng phân biệt hai bộ phận, bộ phận từ  rốn trở lên thuộc về dương, để ở mâm cao, và bộ phận từ rốn trở xuống thuộc về âm, đặt cúng ở mâm thấp. Chuối cúng thần Trời (Pô) thì để ngửa, và cúng thần Đất (Yang) để sấp. Đất nước có bộ tộc Cau-vùng Núi; bộ tộc Dừa-vùng Biển. Nhà có nhà cái/ nhà đực. Tháp có tháp nước/tháp lửa.  Lịch có 4 can thuộc Trời/4 can thuộc đất. Bánh có bánh dài hình linga/bánh chữ nhật hình yoni…
 
Trong lễ cúng thần xứ sở (Pô Inư Nưgar), có mục múa phồn thực. Một người đàn ông khoẻ mạnh cầm 3 tượng hình dương vật, mỗi cái dài khoảng 20cm, múa nhún nhẩy như giao hợp, liên tục chấm dương vật xuống đất, tượng trưng cho việc giao phối đực /cái (bì nài/tano)-đất là cái.Sau đó, người đàn ông giao bộ đạo cụ dương vật cho bà Bóng, có nghĩa là trao đổi giữa dương và âm (Anh 41, 42).
 
Tất cả các bộ phận cặp đôi : đất/trời. cái/đực, mẹ/cha, nữ/nam, biển/ núi, nước/lửa, yoni/linga,….tuy hai nhưng kết làm một. Chúng là các yếu tố làm nên vũ trụ, thế giới, thần linh, xã hội, con người, tinh thần và vật chất. Phân-hợp là quy luật vận động của muôn vật, muôn loài. Có phân-hợp mới có sinh sản, trưởng thành, huỷ diệt để rồi tái sinh.
 
 
Tư duy lưỡng hợp in đậm trong thế giới quan người Chăm. Ngoài ra đây  là một quan niệm phổ quát ở nhiều dân tộc. Eveline Poree Maspero đã viết một công trình khoa học rất công phu, gần 1000 trang, với đề tài : “Nghiên cứu nghi lễ nông nghiệp Cămpuchia” Ơ phần kết luận, bà khẳng định, cơ sở văn minh các nước Đông Dương là tư tưởng lưỡng hợp (dualisme). Đó cũng là một trong những nguyên tắc cơ bản của tư tưởng Trung Hoa, lý thuyết âm dương: “Một    trong những cơ sở của nền văn minh mà chúng ta đã nghiên cứu (Campuchia và các nước Đông Dương) là tư tưởng lưỡng hợp, được xác định bởi các huyền thoại, nghi lễ và cấu trúc xã hội. Ngoài ra tư tưởng lưỡng hợp là một trong những nguyên tắc cơ bản của tư tưởng Trung Hoa dưới hình thức triết lý, sự đối lập giữa âm và dương. Tư tưởng này được hình thành đầu tiên, một cách rõ rệt trong sách Hy tử, mà có thể hoàn chỉnh từ cuối thế kỷ V trước công nguyên, vậy là chậm hơn nhiều thời kỳ mở đầu các triều đại Ngô, Thục, Ngụỵ, mà người ta xác định khoảng thế kỷ thứ VIII, đối với Ngô và Thục. Ngược lại, người Chu có cơ sở vũ trụ quan và xã hội quan  một sự ngũ phân thế giới, giải thích  thế giới bởi lý thuyết 5 yếu tố (ngũ hành), được giải thích trong sách Hương phương, có niên đại thế kỷ VIII trước công nguyên.
 
Cho đến ngày nay, tư tưởng Trung Hoa đã cố gắng tạo nên sự phù hợp giữa lý thuyết ngũ phân, có nền tảng ở người Chu, với lý thuyết lưỡng hợp, đối lập âm/dương, khô/ẩm, mặt  trời/mặt  trăng.”[5]
 
II.Văn húa nghệ thuật Chăm làm giàu văn húa nghệ thuật Kinh  bằng những giỏ trị đặc sắc , thời trung đại , (mà Chăm vốn cú thế mạnh). [6]
 
         2.1.Điêu khắc, kiến trúc:
 
         -Nhạn tháp (xã Hồng Long, huyện Nam đàn, Nghệ An), niên đai TK 7-9, hỗn dung Đường (Trung Hoa), Âns, qua Chăm.
         -Hoàng thành Thăng Long , có gạch chữ Chăm.
         -Tháp Báo Thiên, xây 1057 , bên hồ Gươm, xây năm 1057, do tù binh Chiêm Thành xây.
         -Chùa Báo Ân, ở Siêu Loại, được xây lại, rất nhiều thợ gốc tù binh Chăm xây chùa.
         -Nhiều ngôi chùa có tượng đá , gọi là bà Đanh/ Banh thấm đẫm ảnh hưởng điêu khắc Chăm, một hoá thân của “bà mẹ xứ sở” (Thiên Y A Na), hay hoá thân của Lashmi (vợ của thần Si va): ở Phả Lại ( Bắc Ninh), ở Dương Đanh ( Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội), ở Đinh Xá (Hà Nam), ở Tứ Liên và Sù Gạ (quận Tây Hồ, Hà Nội). Đặc biệt ở chùa bà Đanh/Banh, ở Thuỵ Khê, bên hồ Tây, tên Châu Lâm Tự, tức là chùa của người Lâm Âp châu (Chiêm Thành). Chùa có pho tượng nữ thần xứ sở của người Chăm, bán loã thể.
 
         -Ơ nhiều chùa, đặc biệt là chùa dọc sông Đáy và chi lưu- nơi an tháp nhiều người Chiêm , đã phát hiện được rất nhiều bệ đá hình chữ nhật, niên hiệu phần lớn cuối Trần (Xương Phù 1371-1372), bốn góc đều có hình người Chăm hay hình linh điểu Garuda, giơ cánh tay đỡ bàn thờ Phật.
 
         2.2.Ca múa nhạc
 
         -Lý Thái Tông yêu thích và giỏi âm nhạc, đã đem nhiều cung nữ Chiêm biết ca múa khúc Tây Thiên về Thăng Long, xây cung riêng cho ở.
         -Năm 1060, vua Lý Thánh Tông, tự thân phiên dịch nhạc khúc và tiết cổ âm (tiết tấu bộ gõ ) của Chiêm Thành , sai nhạc công tập luyện ca hát, tấu khúc thức. Sử khen là vua sành âm luật.
         -Lý Nhân Tông ngay từ nhỏ đã được học nhạc, nhạc Việt, nhạc Hoa, nhạc Chăm và xem cung nữ Việt, Chăm múa hát. Bài văn bia chùa Đọi (Duy Tiên, Hà Nam), niên đại 1121 viết: “Vua ta: tứ thơ thâu tóm thiên biến vạn hoá của Trời Đất, nhạc phổ hoà hợp âm thanh của Đường và của Phạn (Chăm, ấn”, “Vua ta tinh tường âm nhạc nước ngoài, chuyên nắm được đầu mối cốt yếu của mọi nghệ thuật (ca vũ), sau đó vua mới hoà hợp các luồng âm nhạc và vũ đạo  hoà hợp các luồng âm nhạc , mà sáng tác các khúc điệu mới tân kỳ, cả ca, cả múa, cả nhạc: khúc Giáng vân Tiên tử (Tiên cưỡi mây xuống trần,  Tiên dời cõi trăng sao, Phật dời đài sen báu, cùng xuống trần “nhập thế” vui chung với dân chúng ở cõi nhân gian “dồn hoà vui của thiên hạ, đêm trở thành ngày, thoả tấm lòng, con mắt của thế gian, già nay trẻ lại” (Văn bia chùa Đọi)
         -Ơ chùa Phật Tích (Tiên Du, Bắc Ninh), người ta đã tìm thấy bệ đá kê chân cột , thời Lý, mặt bên có phù điêu diễn tả hai doàn nhạc công múa hát bên cây bồ đề (tượng trưng cho Phật). Bức phù điêu rất đẹp, các vũ công múa uốn nghiêng mình giống như điệu múa trabanga của Chiêm-Ân. Phân tích từng nhạc cụ trong dàn nhạc, GS.TS Tràn Văn Khê nhận xét, nhạc Việt thời Lý chịu ảnh hưởng nhạc Chiêm-Ân hơn nhạc Hoa.
         -Lý Cao Tông “đêm nào cũng sai nhạc công gãy đàn Bà Lỗ, hát khúc hát theo điệu Chiêm thành, tiếng nghe ai oán thảm thiết, tả hữu nghe đều rơi nước mắt” (Đại Việt sử lược, q.3)
         -Âm nhạc Chăm luôn gắn vói vũ đạo đa có ảnh hưởng tổng thể đến nền ca múa nhạc Việt ở Thăng Long và các vung chung quanh, nhất là vùng Bắc Ninh, quê hương nhà Lý và vùng Sơn Nam, quê hương nhà Trần. Ơ chùa Thái Lạc (Hưng Yên), niên đại Trần, trên điêu khắc gỗ, có hình ảnh vũ nữ thiên thần Apsaras (vũ nữ múa nghiêng bình hương). Nhiều đình chùa Việt ở châu thổ Bắc Bộ vẫn có nhưng hình điêu khắc gỗ Apsaras (vũ nũ ngồi trên thân rồng-mây uốn quanh) cho đến thế kỷ XVII.
         -GS Trần Quốc Vượng tâm sự: “Tôi sẽ dành một bản báo cáo khác để núi về những ảnh hưởng Chăm đến thơ ca dân gian Việt, đặc biệt là thể thơ ca Quan họ Bắc Ninh và thể thơ 6-8. Tôi đã viết và sẽ dành nhiều sức lực hơn để viết về các nữ thần Chăm được dân gian Kinh –Việt thờ phụng, đặc biệt là các bà tổ nghề dệt lụa, dệt gấm ở ngay quanh Hà Nội. Và tôi cũng sẽ viết nhiều hơn về những nhân tố tâm linh Chăm trong việc thờ phụng Đế Thích (thần Indra) và các “thiên vương” Việt Nam ở châu thổ Bắc Bộ.
 
Và tôi đã và đang bắt tay vào viết về sự tiếp xúc và biến đổi văn hoá Việt-Chăm ở miền Trung, ở vùng “Ngũ Quảng”: Quảng Bình , Quảng Trị, Quảng Đức (Thừa Thiên-Huế), Quảng Nam, Quảng Ngãi.
 
 (Ôi! những  dự kiến rất cao quý  này không bao giờ được thực hiện nữa - P.Đ.N.)
 
III.Văn hóa nghệ thuật Chăm chứng minh cơ tầng Đông Nam A bản địa phi Ấn, phi Hoa
 
1. Tục thờ Thần làng       
    
Chúng ta đã đối chiếu việc thờ cúng thần làng (Chăm) và thành hoàng (Việt) về các mặt tên gọi, thần điện, nghi thức lễ, hội hè và không gian thờ tự. [7]Chúng ta thấy rõ sự tương đồng của chúng, điều đó cho phép chúng ta nghĩa rằng phong tục thờ cúng thần làng và thành hoàng được hình thành trên một cơ tầng văn hoá chung của Đông Nam á, trong đó tục thờ cúng thần làng Chăm còn lưu giữ được nhiều tính phác dã, nguyên sơ, bản địa và ít chịu ảnh hưởng bên ngoài. Trong lúc đó tục thờ thành hoàng đã tiếp nhận ảnh hưởng của xã hội phong kiến và có cái vỏ tên gọi thành hoàng. Tục thờ thần làng Chăm hiện nay có thể gợi ý cho chúng ta hình thức thờ thành hoàng vốn có của người Việt.
 
Như vậy tục thờ thần hộ mệnh cho làng có cội nguồn từ văn hoá Đông Nam á được hình thành lâu đời từ tín ngưỡng  bản địa Chăm cũng như Việt chứ không phải vốn từ Trung Quốc sang mà các làng xã Việt “bắt chước.
 
Đến đây chúng tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến PGS Nguyễn Duy Hinh rằng tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam chỉ vay mượn ngôn từ Trung Quốc: “Tín ngưỡng Thành Hoàng là một phạm trù mang một nội hàm bản địa Việt. Đó là một đặc điểm vay mượn ngôn từ và khái niệm ngoại quốc, một cách sáng tạo của người Việt. Chính vì không nhận thức được đặc điểm Việt này, cho nên nhiều nhà nghiên cứu trong ngoài nước trước đây coi văn hoá Việt như một bản sao thu nhỏ hay đơn giản hoá của văn hoá Trung Quốc”[8]
 
Việc vay mượn vỏ ngôn ngữ mà chuyển hoá nội hàm đã diễn ra trong nhiều trường hợp, không riêng gì trong phạm vi thành hoàng. PGS. Từ Chi đã khái quát như sau: “Trong không ít trường hợp, những yếu tố mà tổ tiên của người Việt hiện na đã lần lượt tiếp thu từ nền văn minh Trung Hoa qua một thiên niên kỷ Bắc thuộc và cả về sau nữa, khi được tích hợp vào cuộc sống hàng ngày của người bản địa, chỉ còn giữ của nơi xuất phát cái vỏ hình thức nữa thôi (thường là tên gọi), trong khi nội hàm của khái niệm tiếp thu đã biến đổi hẳn”[9]
                                             *
Về việc xem xét hiện tượng thờ thần làng của hai dân tộc, chúng tôi đã dựa trên quan niệm đặt văn hoá dân gian trong mối quan hệ của văn hoá các dân tộc Việt Nam, chỉ ra phần ổn định bền vững và các lớp phù sa phủ ở phía trên, từ đó chỉ ra các thứ lớp văn hoá khác nhau và như thế tránh được sự nhầm lẫn giữa cội rễ của văn hoá và lớp vỏ ngoài của nó. Chúng tôi đồng ý cách quan niệm về vấn đề này của giáo sư Đinh Gia Khánh: “Trong khi ảnh hưởng văn hoá từ bên ngoài tràn vào như những lớp phù sa bồi tụ lên nhau theo từng đợt sóng, thì các thành tựu văn hoá đã hình thành từ thời tiền sử dần dần lắng đọng kết tinh lại ở chiều sâu, ở dưới đáy. Hiện tượng này có thể thấy trong chiều sâu của văn hoá dân gian ở nứoc ta cũng như ở nhiều nước Đông Nam á, nếu biết tháo gỡ những khuôn thức hình thành về sau, nếu biết tách bóc các tầng lớp văn hoá mà các thế hệ kế tiếp nhau đã lần lượt bồi tụ nên thì có thể tìm lại được những yếu tố tương đồng, những yếu tố chung nhất của các nền văn hoá Đông Nam á vốn đã hình thành trong thời kỳ tiền sử”[10].
        
         KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT
        
         1.Phương pháp tiếp cận cơ bản của bài này là xem xét các hiện tượng văn hóa của các dân tộc thiểu số và đa số trong mối ảnh hưởng qua lại nhiều chiều.
 
         2.Trên cơ sở phương pháp đó, chúng tôi có nêu lên vai trò to lớn của văn hóa nghệ thuật Chăm đối với văn hóa dân tộc ở mấy điểm:
         -đóng góp cụ thể , làm giàu , đẹp thêm kiến trỳc, điêu khắc, tượng đá, ca mỳa , õm nhạc Kinh bằng nhiều giá trị đặc sắc của văn hóa nghệ thuật Chăm.
         -bổ sung vào toàn cảnh (panorama) văn hóa nghệ thuật dân tộc những giá trị riêng mà đương thời người Kinh không lưu giữ được như tục thờ đá, tín ngưỡng sông nước, tư duy lưỡng hợp, múa phồn thực,…(cũng cú thế là vốn khụng cú, hoăc lưu giữ không đầy đủ).
         -minh chứng một cách cụ thể, sinh động rằng cú một cơ tầng văn hóa Đông Nam A, phi Hoa. phi Ấn làm nền tảng vững chói cho văn hóa Việt Nam.
 
         3.Trên đây là một nghiên cứu nhỏ, có tính chất thể nghiệm với tư liệu của người Chăm. Ngoài ra chúng ta có hơn 50 dân tộc anh em khác là chủ sở hữu một kho tàng văn hóa nghệ thuật phong phú, khổng lồ. Với quan điểm khuyến khích các dân tộc anh em chủ động phát huy mạnh mẽ văn hóa nghệ thuật của mỡnh trong mối quan hệ nhiều chiều, như trên, chúng ta sẽ phát hiện, phát huy muôn vàn giá trị văn hóa có tầm cỡ quốc gia và quốc tế./.                                                                                                                                         
                     TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
 
 -Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn hoá Thông tin, Tạp chí văn hoá nghệ thuật. H, 1996.
 
 
-Eveline Poree-Maspero : Etude sur les rites agraires des Cambodgiens, tome III, Pái, Mouton & Co La Haye 1969.
 
-Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam, NXB Khoa học xó hội, H. 1996 .
 
-Jean Chevalier,…Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng,…2002.
 
-Đinh Gia Khánh: Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam á, NXB Khoa học xã hội H, 1993.
 
 -Phan Đăng Nhật và Trương Văn Món: Thần làng và các thần ở làng Chăm Bỉnh Nghĩa, Chương trình tài trợ văn nghệ dân gian, của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, năm 1999;
 
- Sakaya: Lễ hội của người Chăm, NXB Văn hoá dân tộc, H. năm 2003
 
-Trần Quốc Vượng: Những ảnh hưởng của văn hoá Chămpa dội ngược trở lại văn hoá Đại Việt,  , báo cáo khoa học tại hội thảo Quốc tế Việt Nam học , lần thứ hai , tháng 7, năm 2004, ở T/P Hồ Chí Minh.



[1] Tư liệu trong bài này, phần lớn lấy trong sách của Phan Đăng Nhật và Trương Văn Món: Thần làng và các thần ở làng Chăm Bỉnh Nghĩa, Chương trình tài trợ văn nghệ dân gian, của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, năm 1999; và sách của Sakaya: Lễ hội của người Chăm, NXB Văn hoá dân tộc, H, 2003.
[2] Jean Chevalier,…Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, NXB Đà Nẵng,…2002, tr.711
[3] Jean Chevalier,…Sách vừa dẫn, tr.268.
[4] Theo Jean Chevalier,…Tù điển biểu tượng văn hoá thế giới, sách đã dẫn, tr.37 : “Khắp nơi trên thế giới, ba là một con số cơ bản. Nó biểu thị một trật tự trí tuệ và tinh thần nơi thần linh, trong vũ trụ hoặc trong con người. Nó tổng hợp tính tam-nhất của mỗi sinh linh, hoặc nó là kết quả của sự cộng 1 với 2, trong trường hợp ấy nó được tạo nên từ sự hợp nhất Trời với Đất. Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam… Nhưng thường 3 như số lẻ đầu tiên, là con số của Trời và 2 là con số của Đất, bởi vì 1 có trước sự phân cực ấy. Người Trung Hoa nói, 3 là con số chỉnh , là biểu hiện của sự toàn thể, sự hoàn thành, không thêm cái gì vào đấy được nữa. Đây là sự hoàn thành sự nghiệp Sáng thế: Người, con của Trời và Đất, làm hoàn tất bộ ba vĩ đại (tam tài) . Đối với người theo đạo Kitô, đây còn là sự hoàn hảo của nhất thể thánh thần ; chúa Trời là Một, song có 3 ngôi. Đạo Phật có câu hoàn kết trong Tam bảo hay Triratna ( Phật, Pháp, Tăng).”
[5] Eveline Poree-Maspero : Etude sur les rites agraires des Cambodgiens, tome III, Pái, Mouton & Co La Haye 1969, p.718.
[6] Tài liệu về Chăm lấy từ bài Những ảnh hưởng của văn hoá Chămpa dội ngược trở lại văn hoá Đại Việt, của  cố GS Trần Quốc Vượng, báo cáo khoa học tại hội thảo Quốc tế Việt Nam học , lần thứ hai , tháng 7, năm 2004, ở T/P Hồ Chí Minh.
 
[7] Phan Đăng Nhật: So sánh tục thờ thần làng của ngưới Chăm và người Viêt. Tạp chí Văn hóa Chăm, số 1, năm 2013, tr. 13.
[8] Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng Thành Hoàng Việt Nam, NXB Khoa học xó hội , H, 1996, tr, 22.
[9] Nguyễn Từ Chi: Góp phần nghiên cứu văn hoá và tộc người, NXB Văn hoá Thông tin, Tạp chí văn hoá nghệ thuật. H, 1996, tr. 240.
[10] Đinh Gia Khánh: Văn hoá dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hoá Đông Nam á, NXB Khoa học xã hội H, 1993, tr 232.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}