Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài

Thứ Năm, 12/03/2015 15:45 GMT +7
Lê Thị Lệ Thủy
 (Thái Nguyên)

 
Ngôn ngữ là công cụ, là chất liệu cơ bản của văn học. M.Gorki khẳng định “Ngôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học”. Có nghĩa là không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học. Nhờ có ngôn ngữ, mà thế giới nhân vật hiện ra sống động trước mắt người đọc. Qua đó, độc giả mới có thể hiểu được những nội dung tư tưởng, chủ đề tác phẩm được gửi gắm đằng sau hình tượng ấy.
 

Nghiên cứu về hồi ký của Tô Hoài thì chúng ta không thể không tìm hiểu nghệ thuật ngôn ngữ của ông, đặc biệt là ngôn ngữ trần thuật. Trong bài viết “Tô Hoài sinh ra để viết”, Nguyễn Đăng Điệp cho rằng : “Nói đến Tô Hoài không thể không nói đến tài năng sử dụng ngôn ngữ của ông. Tô Hoài rất ít khi dùng thứ ngôn ngữ óng ả, sặc mùi sách vở. Chữ nghĩa của ông cất lên từ đời sống. Nhưng đó là thứ ngôn ngữ chắt lọc.” [1, tr 121]; “ngôn ngữ của ông mềm mại, tung tẩy, nẫu nục chất dân gian. Đó là sự tinh tế của một cây bút cao tay, là ý thức  đạt tới sự giản dị của một sự khéo léo lớn. Chính vì thế mà văn Tô Hoài không mòn cũ theo  thời gian” [1, tr 115]
 
Trần thuật là sự miêu tả thế giới nghệ thuật, đồng thời cũng là biện pháp cơ bản nhất để tạo thành văn bản văn học. Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “thành phần của trần thuật không chỉ là lời thuật, chức năng của nó không chỉ là kể chuyện”. Trần thuật cho người đọc biết ai, xuất hiện ở đâu, khi nào, làm việc gì, trong tình huống nào… Về bản chất, trần thuật là hành vi ngôn ngữ nhằm kể, thuật, miêu tả, cung cấp thông tin về sự kiện, nhân vật theo một thứ tự nhất định trong không gian, thời gian và về ý nghĩa.
 
Trần thuật đòi hỏi phải có người kể, người thổ lộ. Người kể và chuỗi ngôn từ là hai yếu tố quy định trần thuật. Từ người kể chuyện ta có ngôi trần thuật, lời trần thuật, điểm nhìn trần thuật. Từ chuỗi ngôn từ  ta có thể kể đén các yếu tố : lược thuật, dựng cảnh, phân tích bình luận, giọng điệu. Nghệ thuật trần thuật đã được Tô Hoài thể hiện đặc sắc với nhiều nét đột phá trong các hồi ký của ông.
 
Tô Hoài là người sinh ra để viết. Và để viết được, ông là người không ngừng đi và nghĩ. Nhà văn Nguyễn Tuân, người đứng đầu của “trường phái xê dịch”, đã từng thốt lên: Tô Hoài mới là anh đi nhiều, đi thật, còn tôi là anh đi chơi!
 
Thời niên thiếu, nhà văn Tô Hoài đã từng làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như dạy học, bán hàng, kế toán hiệu buôn... và cũng có nhiều quãng thời gian bị thất nghiệp. Tuy nhiên, khi đến với văn chương, ông nhanh chóng gặt hái thành công và được nhiều người yêu mến. Trong suốt sự nghiệp cầm bút của mình, nhà văn Tô Hoài đã miệt mài sáng tác các tác phẩm thuộc đủ thể loại: từ tiểu thuyết, truyện vừa, bút ký, ký sự, truyện ngắn, hồi ký, tự truyện, tiểu luận phê bình, truyện viết cho thiếu nhi, cho đến cả các bài báo ngắn. Với hơn 200 đầu sách đã xuất bản, có thể nói, Tô Hoài là một trong những nhà văn Việt Nam có nhiều đầu sách nhất từ xưa đến nay.
 
Nghiên cứu văn chương và phong cách nghệ thuật Tô Hoài không thể không nghiên cứu mảng hồi ký của ông. Trong sáng tác của mình, Tô Hoài luôn giữ một thái độ khách quan đối với con người cũng như cuộc sống. Tác giả ít khi để cho tình cảm cá nhân chi phối đến hiện thực cuộc sống. Tình cảm của tác giả đều bị che khuất sau bức tranh hiện thực. Không chỉ ở tập hồi ký Cỏ dại, kể cả Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều, người đọc khó thấy tình cảm chủ quan của tác giả lộ diện, tình cảm nhà văn bị chìm lấp trong bộn bề, ngổn ngang của sự kiện, của chi tiết, của tình huống. Vì thế, khi đọc những trang hồi ký của ông, ta như được chứng kiến tận mắt những việc đang diễn ra, những sự kiện được khách quan hoá có đầy đủ cái tốt, cái xấu, cái thô ráp như cuộc sống hàng ngày.
 
Ở các tác phẩm hồi ký của mình Tô Hoài viết theo một sự sáng tạo mới, câu văn ít chuẩn mực hơn, lời văn có xu hướng ngắn lại, nhiều khi rời đoạn, lắm biến tấu. Đây chính là sự sáng tạo, biến tấu phù hợp với một hiện thực phức tạp nhiều góc cạnh. Từ cái nhìn của “người trong cuộc” dẫn đến cách viết như đang tái hiện về hình ảnh chân dung bạn bè đồng nghiệp, ngôn ngữ của ông gần với tiếng nói thông thường hàng ngày và càng đọc những trang hồi ký sau này, người đọc càng cảm nhận, càng về già nhà văn càng giàu có về chữ nghĩa. Trong hồi ký của Tô Hoài tập hợp đông đảo thế giới nhân vật và mỗi nhân vật mang khẩu khí riêng tạo nên nét khác nhau của từng nhân vật, điều đó chứng tỏ tài năng trong việc sử dụng từ ngữ trong “kho từ vựng” của riêng ông.
 
Một trong những phương diện làm lên sự độc đáo trong nghệ thuật trần thuật của Tô Hoài là ngôn ngữ trần thuật. Là nhà văn có tay nghề, Tô Hoài luôn có ý thức trong lao động chữ nghĩa. Ông đã chọn cách viết dung dị, tự nhiên với việc sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh mang đậm tính khẩu ngữ đời thường mà vẫn giầu sức biểu cảm, kết hợp hài hoà giữa ngôn ngữ kể và tả, làm nổi bật nét riêng cuả ngôn ngữ người kể chuyện cũng như tạo được sự cá thể hoá trong ngôn ngữ nhân vật. Tô Hoài đã thu vào cả một thế giới đời sống bình thường với những lối diễn đạt rất riêng của mỗi kiểu loại nhân vật, làm lên cái “duyên” riêng của ngôn ngữ trần thuật trong hồi ký Tô Hoài. Ở Tô Hoài, ngôn ngữ trần thuật của ông được nhấn mạnh qua ba nét chính thể hiện sự độc đáo trong nghệ thuật trần thuật của Tô Hoài:
 
1. Ngôn ngữ người kể chuyện là lời tác giả (trong vai người kể chuyện) đứng ra trần thuật, miêu tả bình luận về những việc mà tác giả đưa vào câu chuyện. Như vậy ngôn ngữ người kể chuyện được tạo thành từ ba phương thức trần thuật (hay tường thuật) miêu tả, bình luận (hay trữ tình ngoại đề). Trần thuật là phương thức quán xuyến trong văn xuôi. Toàn bộ tác phẩm có thể được coi là một truyện kể nó bao quát của một quá trình vận động. Miêu tả là sự tái hiện thế giới vật thể trong dạng tĩnh tại, cũng là sự tái hiện bằng lời các sự kiện, sự việc xảy ra đều đặn. Những chi tiết đề cập trong trần thuật và miêu tả nằm trong cốt truyện. Bình luận (hay trữ tình ngoại đề) thường là những lời bình giàu suy nghĩ khái quát mang triết lý, tuy nhiên không liên quan tới sự phát triển của cốt truyện. Ba phương thức trần thuật miêu tả bình luận kết hợp luân phiên linh động tạo nên mạch ngôn ngữ người kể chuyện.
 
Cỏ dạiTự truyện người kể chuyện đứng ở ngôi thứ nhất kể chuyện trực tiếp bằng quan điểm trần thuật tham dự là chủ yếu. Nên nhân vật người kể chuyện trực tiếp xưng “tôi”. Câu chuyện được tái dựng qua dòng hồi tưởng và tuổi thơ, gia đình và làng quê của mình. Nhịp điệu trần thuật ở hai cuốn hồi ký khoan thai chậm rãi.
 
Nhưng đến Cát bụi chân ai - Chiều chiều nhịp điệu trần thuật nhanh hơn, gấp hơn khi người kể chuyện luân chuyển các quan điểm trần thuật, nhân vật và sự kiện theo dòng hồi tưởng liên tiếp được hiện ra nên ngôn ngữ người kể chuyện: “không đông cứng” mà luôn hoán đổi vị thế làm cho hồi ký của nhà văn đậm chất truyện hơn, sinh động hơn; điều đó cho thấy bản lĩnh tài năng và lòng trân trọng của Tô Hoài với những gì đã trải nghiệm va sống qua. Tư chất đó cho phép nhà văn hiểu sâu sắc những khúc quanh trong cuộc đời và thân phận con người. Chẳng thế nhân vật “tôi” nhận xét một cách tinh tế mà chính xác con người cũng như cá tính của Nguyễn Tuân: “Ngôn ngữ khác người trong lối sống, nhưng tế nhị, kiểu cách mà không ồn ào. Cả trong Nguyễn Tuân cũng thế, từ triết lý đến mỗi câu, mỗi chữ. Ngôn ngữ người có trách nhiệm đã bỏ công soi mói bẻ hành bẻ tỏi chỉ là gò ý và trịch thượng xem lại những bút ký Phở - Tình rừng - Tờ Hoa, có thể đọc một lần rồi đọc lại lần nữa không phải vì thích thú mà vì ngạc nhiên...” [3; 65]. “Ông tự trào thế chứ ông cũng không phải là người đa ngôn. Cũng như ở những thói quen khác, cái nổi vẫn là một mình một tính. Khi bực bội chẳng kể to nhỏ, cái gì cũng “cặc”, đuổi một người gõ nhầm cửa. Dửng dưng trước một người và không ưa dù người ta giơ tay định bắt tay” [3; 68].
 
2. Hồi ký Tô Hoài kết hợp nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ tả và kể. Trong hồi ký vai trò của chủ thể sáng tạo - nhân vật xưng “tôi” - “tác giả” từ ký ức, quá khứ của nhà văn được nới rộng nhận lên cả một bức tranh đời sống được tái hiện rõ nét. Vì thế ngôn ngữ kể sẽ đóng vai trò ngôn ngữ chủ đạo trong hồi ký của Tô Hoài.
 
Ở hồi ký Tô Hoài độc giả được “hé mở” nhiều góc khuất  tâm hồn  số phận, về sở thích, về thói quen, từng kỷ niệm về mỗi người bạn của mình. Ông cứ nhẫn nha kể từ chuyện này sang chuyện khác, từ người này sang người khác tưởng chừng như không cần liền mạch, không cần hệ thống bởi sự kể chuyện tạt ngang đầy ngẫu hứng đó là sự cách tân trong nghệ thuật kể chuyện của nhà văn. Phải nói rằng Tô Hoài đã kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ kể và tả. Các sự kiện cứ xô bồ, gối lên nhau như những trang đặc tả về gia đình, người thân, bạn bè và thiên nhiên nơi ông từng sống để lại bao kỷ niệm, dư âm, khắc khoải, như được “chưng cất” trong tâm khảm nhà văn. Có thể nói thiên nhiên là nơi bộc lộ tài năng sở trường của tác giả, nên bên cạnh việc tái hiện chân dung nhân vật và sự kiện, thiên nhiên chiếm vị trí lớn trong tác phẩm, từ Cỏ dại đến Chiều chiều là sự khoảng cách gián đoạn về thời gian cũng như không gian, từ khung cảnh trong gia đình - nới rộng ra Kẻ Chợ - nhân rộng ở các miền đất mà tác giả từng đặt chân, từng sống, không chỉ ở đất nước Việt Nam mà trải rộng sang các nước ngoài.
 
Đó là khung cảnh ở vườn nhà cu Bưởi tập hợp thành “thế giới bí mật của cây và chim...” [4; 6]. Còn đây là cảnh đêm mưa thiên nhiên; cũng là những “cơn sung sướng, quằn quại, quấn quýt” - đầy khoái lạc ma quái; cơn mưa ở Yên Dã từng gắn với bao vui buồn kỉ niệm giữa nhà thơ Xuân Diệu và Tô Hoài: “Trong thung lũng có khi cơn nước mù mịt trắng xoá cả ngày. Ở Yên Dã đi chợ Lục Ba, Ký Phú nhỡ gặp phải cơn lũ lên phải ngủ nhờ qua đêm bên này suối. Hết mưa rào xối xả đến mưa dầm tả tơi, còn buồn hơn. Chiều Tam Đảo cao ngang đầu đổ bóng xuống tối sầm. Nước mưa giọt ngắn giọt dài, đêm ngày mái nước rả rích không lúc nào dứt hạt” [3; 169].
 
Dưới ngòi bút của Tô Hoài không chỉ hiện ra những bức tranh thiên nhiên sống động đầy nét tạo hình mà trên nền thiên nhiên còn là chân dung những con người với những nét đặc tả về ngoại hình và trạng thái tâm linh, tâm thế làm nổi bật cá tính của mỗi người. Đó là người ông với đặc điểm nhận dạng “má trái có nốt ruồi mọc ra mấy sợi râu dài mờ như cước” “mắt thì lờ đờ” “bắp thịt nhão” “da teo lại tưởng có thể kéo chun” và bà là người “giống người cổ” bàn chân “kỳ quái” “gót bè ra nẻ khía từng múi cà bát... ngón chân to bằng mười ngón chân tôi chặp lại”. Còn đây là Nguyễn Tuân không thể lẫn với ai “khăn lượt vố, áo gấm trần, tay chống dọc chiếc quạt thước thay ba toong, chân bít tất dận giày mồm nhái Nam Định”
 
Như vậy nhìn một cách tổng quát ta thấy ngôn ngữ kể là ngôn ngữ chủ đạo chiếm tỉ lệ cao trong hồi ký của Tô Hoài, tuy nhiên nhà văn đã kết hợp một cách uyển chuyển nhuần nhị giữa ngôn ngữ tả và kể tạo nên bức tranh thiên nhiên hay con người hoàn mĩ nhất. Ở đó ngôn ngữ kể hay tả không khô cứng, không “đóng băng” mà đầy góc cạnh sắc sảo, không chỉ đơn thuần “thuật” lại các sự kiện mà ta thấy Tô Hoài sử dụng tối đa, triệt để từ câu văn, đoạn văn, đến lối dùng từ  để biểu đạt một cách tối ưu nhất, truyền cảm nhất, tác động mạnh nhất đến tri giác người đọc. Vì vậy trong những trang hồi ký củaTô Hoài hiện thực được phản ánh một cách trần trụi, số phận và tính cách con người được “trưng bày” một cách chân thành, chân xác mà vẫn thấm đượm chất trữ tình, chất đời thường.
 
3. Ngôn ngữ nhân vật bộc lộ sắc nét bản chất, có thể nói đó là mặt mạnh trong hồi ký Tô Hoài. Chỉ cần vài nét phác hoạ, vài câu nói, vài dòng hồi tưởng đã khiến cho người đọc hình dung ngay được con người bằng xương bằng thịt đang nói cười, vui hay buồn, uất ức giận dữ hay đau khổ. Ngôn ngữ nhân vật giúp cho người đọc thấy được “con người bên trong” “con người tư tưởng” của nhân vật cũng như thái độ của nhân vật đối với cuộc sống. Ngôn ngữ nhân vật trong hồi ký của Tô Hoài là ngôn ngữ đời thường là lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân, trong quá trình xây dựng chân dung các nhân vật và phản ánh các sự kiện trong hồi ký của mình.
 
Đó là những hình ảnh những người thân yêu, trong gia đình cu Bưởi - đó là giọng của người ông mang nổi buồn lưu cữu “vì không có con trai” mà sinh ra chửi bới suốt ngày ngập tràn trong men rượu “ông tôi chửi bà tôi rằng: chỉ vì con mẹ trời đánh kia” mà ông không có con trai lần nào cũng một câu rủa ráy ấy” [4; 150]. Người ông lúc nào không “lầm lì” thì “quát tháo” còn bà thì dịu dàng cu Bưởi tìm được nơi “trú ẩn” của yêu thương vỗ về... “Bà đưa cháu lên trường nhé, lau nước mắt đi học trò học choẹt rồi chả người ta cười cho” [4; 42]. “Nín đi, nín hẳn đi học trò mà khóc thì vào trường thầy giáo cười đấy” [4; 42].
 
Đó là chân dung Nguyễn Tuân trong Cát bụi chân ai được Tô Hoài bộc lộ rõ, sắc nét từ con người, tính cách, lối sống và thú vui qua “khẩu khí” của chính nhân vật - đó là cái “tôi” tài hoa của nhà văn lớn, Nguyễn Tuân khẳng khái tuyên bố: “Khi ta chết đi da ta thuộc làm va ly” có lúc ông bực tức với chính mình: “kể ra mình cũng có tội, cái tội nói bô bô không kín võ được như cậu. Mà tớ chẳng có võ gì cả. Cũng không biết bơi, không biết cưỡi ngựa. Bởi thế mới sinh chuyện. Nhưng cũng không bực mình vì mọi thứ người ta đổ lên đầu, mình không nói thì thằng khác cũng nói” [3; 68]. Hay “mình là cái chó gì mà có thằng cũng bắt chước cái tóc, cái râu, cái ba toong khệnh khạng vào nhà hát, lên máy bay... Ôi vui quá, cáu nhiều quá bực mình quá” [3; 69]
 
Tô Hoài luôn luôn quan tâm tới việc tìm tòi sáng tạo, trau dồi bút pháp văn phong để phù hợp với nội dung biểu hiện. Bạn đọc bắt gặp ở đây một cách kể chuyện linh hoạt, sự luân phiên chuyển dịch các điểm nhìn tạo nên “cự ly” nhìn đối tượng, sự kiện nhiều chiều. Trong hồi ký của ông không thuần nhất một giọng mà là đan xen các sắc thái giọng điệu tạo nên khúc hoà tấu phức điệu về cuộc đời và con người. Văn Tô Hoài viết tự nhiên giàu tính đúc kết và suy ngẫm, ngôn từ vừa giản dị mới mẻ lại vừa sắc sảo mang tính khu biệt cao. Hơn nữa Tô Hoài viết hồi ký bằng một ý thức, một tâm thế lưu trữ tư liệu cho  đời sau,
 
Như nhiều người nhận xét Tô Hoài viết cái gì cũng ra hồi kí. Trong những năm gần đây thể hồi ký lên ngôi, nhưng không phải hồi ký nào cũng đạt được chuẩn mực và các giá trị mang tính văn học về nội dung lẫn hình thức thể hiện như hồi ký của Tô Hoài. Và một trong những yếu tố làm nên thành tựu của hồi ký Tô Hoài là nghệ thuật trần thuật với cách kể chuyện độc đáo, không chỉ bằng sự minh mẫn của bộ nhớ mà còn bằng sự nhạy cảm của con tim. Với Cỏ Dại, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều,  Tô Hoài đã đưa thể hồi ký lên tầm cao mới, có một vị trí xứng đáng trong đời sống thể loại, góp phần hiện đại hoá nền văn xuôi Việt nam đương đại
_____________
1. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên), Từ Điển Thuật ngữ Văn học, NXB Giáo Dục, 2007
2. Nguyễn Đăng Điệp, “Tô Hoài sinh ra để viết”, Nghiên cứu văn học số 9, Viện văn học , năm 2004,
3. Tô Hoài (1992), - Cát bụi chân ai (Hồi ký), Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội.
4. Tô Hoài (1985), Tự truyện (Hồi ký), Nxb. Văn học, Hà Nội.
 
 
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}