Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác giả:

 

Nhà thơ Phạm Đức

Thứ Hai, 21/12/2015 11:25 GMT +7
 

Nhà thơ Phạm Đức tên thật là Phạm Văn Đức, sinh năm 1945, quê gốc huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Nhà thơ Phạm Đức từng có nhiều năm làm Phó giám đốc nhà XB Thanh niên. Phạm Đức làm thơ về nhiều đề tài. Hồn thơ ông dung dị, chân thành. Ông mê văn chương đến mức đắm đuối, dường như có thể quên hết mọi thứ trên đời. Phạm Đức là một con người đáng mến, luôn tận tụy với bạn bè. Văn hiến trân trọng giới thiệu một trong những bài thơ hay và lạ của nhà thơ Phạm Đức cùng với bài phân tích của nhà nghiên cứu Vũ Bình Lục.
 


Nhà thơ Phạm Đức (áo trắng) và nhà nghên cứu Vũ Bình Lục

BÁO ĐỘNG
Phạm Đức

Thôi, nhớ làm chi thời báo động
Nhưng sau báo động lại là báo yên.
Giặc thù kia từ phía nào lên
Tưởng đang gầm rú ở trên đầu mình!
Kẻ thù nào êm ái lặng thinh
Thoắt thôi chiếm trận địa mình bỏ không?
Thời báo động có gì nhớ mong
Nhưng sau báo động biết rằng bình yên.
Lặng im mà có thể chẳng yên
Chẳng ai báo động, khéo quên mất mình

Xóm Vị 12-1-1995 - 


Lời bình của Vũ Bình Lục


Thế giới thơ thật lắm hình nhiều vẻ, chả khác gì thế giới các loài hoa, muôn hình, muôn sắc. Phạm Đức có một điệu thơ riêng, một kiểu thơ riêng, không ngọt ngào bay bổng, không vật vã trau chuốt ngôn từ, đọc lướt sẽ không thấy nhiều dư vị, thậm chí như còn thấy một cái gì bương bướng, ngang ngang, dở dở, “hơi bị” khó nhai khó nuốt… Nhưng khi đã để tâm nghiền ngẫm, mới thấy một thứ thơ nén chặt, dồn cảm xúc vào nội tâm và không ít ý vị. “ Báo động” chính là một điệu thơ như thế!

“Thôi, nhớ làm chi thời báo động / Nhưng sau báo động lại là báo yên”

Đó là hai câu thơ mở đầu, mới đọc, dường như chưa thấy có gì là thơ cả. Câu đầu, như một lời nói thường, nhưng câu sau đã thấy có ý. Hoá ra, cái người đã từng sống một thời chiến tranh lửa đạn đầy trời, bom rơi đầy đất, “khói bom lên trời thành những vòng đen / dưới mặt đất lại sinh bao vòng trắng” (Phạm Tiến Duật), mới có thể hiểu thế nào là báo động, khi máy bay thù bất thần ào tới trút bom, muốn huỷ diệt tất cả. Nhưng “Thôi, nhớ làm chi thời báo động”? Không thể quên quá khứ đau buồn của dân tộc này một thời đã qua, nhưng cũng không muốn nhớ nữa cái thời báo động. Nhưng mà, “sau báo động lại là báo yên”… Tưng tửng, giản đơn thế thôi, chả có liên quan gì đến thơ cả. Ngẫm kỹ, lại thấy câu thơ khái quát một hiện thực, được hiểu như một chân lý. Một chân lý giản dị, gợi nhiều nghĩ ngợi, mở ra những liên tưởng nhiều chiều. Câu thơ tiếp theo, đã thấy rõ hơn một ý thơ cụ thể: “Giặc thù kia từ phía nào lên / Tưởng đang gầm rú ở trên đầu mình!”

Đó cũng chỉ là một hồi tưởng, về một thời đã qua, đã xa, còn thấy như gờn gợn thịt da. Bảo rằng cố quên đi, rằng “nhớ làm chi”, nhưng mà không thể nào không nhớ. Dường như, những trận bom B52 hồi nào của bọn xâm lược dội xuống đất này, đã trở thành nỗi ám ảnh với những ai đã từng phải chịu đựng nó, giờ đây, dù muốn hay không, nỗi ám ảnh rờn rợn đau thương cũng trở thành một kiểu hội chứng chiến tranh, như một bệnh lý.

Câu thơ thứ ba, vẫn còn một chút hơi hướng của chiến tranh, bởi các từ “kẻ thù”, rồi “trận địa mình bỏ không”. Nhưng đó cũng chỉ là một tấm phông bề mặt ngôn từ, bọc lấy một hàm ẩn nhiều bề tinh tế. Tác giả đã khôn khéo chuyển hướng đề tài, hay mở rộng chủ đề. Một thứ “kẻ thù êm ái lặng thinh”, không ầm ào bom đạn, vô hình, vô ảnh, vô thanh, đã “thoắt thôi chiếm trận địa mình bỏ không”! Quả là một thứ “kẻ thù” hoàn hảo. Và một kẻ chiến bại ngậm đắng nuốt cay một cách cũng “hoàn hảo” (!). Câu thơ gợi nhiều liên tưởng thú vị. Chuyện lớn tày đình, như nàng Mỵ Châu hiền thục kia, “Trái tim lầm chỗ để trên đầu / Nỏ thần vô ý trao tay giặc / nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”(Tố Hữu), đến những chuyện nhỏ như con tép mà không nhỏ chút nào, như chuyện ruộng mình quên cày cấy, để anh hàng xóm tốt bụng tha hồ cấy gặt…Những chuyện đau hơn hoạn. Những chuyện cười ra nước mắt, tha hồ mà liên tưởng. Một câu thơ nhẹ nhàng mà nhiều ẩn ý, tươi rói sự người, sự đời! Câu 4 của bài thơ, cấu trúc không có gì mới, nhưng nhấn mạnh một ý thơ mới: “Thời báo động có gì nhớ mong / Nhưng sau báo động biết rằng bình yên”

Vẫn là chuyện “báo động”. Báo động rồi, nguy cơ có thể thành hiểm hoạ tức thì. Nhưng cũng có khi báo động mà sau đó cũng không hoặc là chưa xảy ra nguy hại trực tiếp. Máy bay địch đi rồi, bình yên trở lại. Câu thơ gợi liên tưởng ở tầng khái quát, vĩ mô và cả những “vi mô” của cuộc sống đời thường. Câu kết, khép lại bài thơ, mà lại mở ra một ý thơ khác: “Lặng im mà có thể chẳng yên / Chẳng ai báo động, khéo quên mất mình!”…

Vẫn không ngoài chuyện “báo động”. Sau báo động là bình yên, là “lặng im”, nhưng chưa chắc đã là bình yên thật sự. Trong lặng yên, có thể vẫn có sự “chẳng yên” tiềm ẩn, đang quanh quẩn đâu đây. Nhà thơ cảnh báo: “Chẳng ai báo động, khéo quên mất mình!”. Một lời cảnh báo chí lý và sâu sắc. Chúng ta không được ngủ quên trong hoà bình hạnh phúc. Kẻ thù “êm ái” đang lẩn quất quanh ta, bên ta, trong mỗi cuộc đời, trong mỗi con người. Bất trắc đang rình rập khắp nơi, “sau từng ngưỡng cửa” (Trần Đăng Khoa), đừng “để quên mất mình”, kể cả khi chưa có báo động. 

Bài thơ không dài, nhưng mà dài, mà sâu ý tưởng. Lại tinh tế. Tư tưởng chủ đề tập trung ở chữ “báo động”. Những câu thơ viết theo kiểu lục bát, nhưng là một thứ lục bát phá phách (phá cách), chẳng ngọt ngào bay bổng, đọc thấy vương vướng, nhưng nghĩ thì hay! Phạm Đức là như vậy. Anh như một thi sỹ nông dân chất phác. Thơ anh cũng chất phác, không mấy chạm khắc, nhưng là một sự chất phác chứa nhiều nghĩ ngợi./.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}