Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác giả:

 

Nhà thơ Phạm Thế Minh

Thứ Bảy, 01/08/2015 01:45 GMT +7
Vũ Bình Lục

Nhà thơ Phạm Thế Minh sinh năm 1946 tại Hải Phòng, quế gốc Hà Nội. Thơ Phạm Thế Minh có vẻ đẹp riêng, giản dị nhưng tình ý sâu sắc. Ông viết truyện ngắn cũng cấu tứ như thơ, giàu năng lượng nội hàm. Văn hiến  trân trọng giới thiệu một trong những bài thơ hay của Phạm Thế Minh và lời bình của nhà thơ, nhà phê bình văn học Vũ Bình Lục.
 

NÓI CHUYỆN VỚI CỤ NGUYỄN CÔNG TRỨ
 
Phạm Thế Minh

 
Kính chào Uy Viễn Tướng Công
Con xin làm một cây thông cùng người
Vén mây, khuấy nước mệt rồi
Lại mê “tom chát” của thời ông cha
Cụ không lắm đất nhiều nhà
Kim Sơn, Tiền Hải đều là của dân
Một đời ái quốc trung quân
Thị phi ai cũng một lần mà thôi
Bảng vàng bia đá nhiều người
Mấy ai có được khoảng trời lòng dân?
 
Mỗi lần về lại Nghi Xuân
Con nghe cụ dạy, vững tâm làm người
Dân vạn đại, quan nhất thời
Lời người xưa cứ học rồi lại quên…
 
LỜI BÌNH CỦA VŨ BÌNH LỤC:
 
Thơ viết về danh nhân, xưa nay không phải là hiếm. Thơ hay về đề tài này cũng không phải là hiếm, ấy là chưa nói rằng cũng khá nhiều bài đã trở thành kiệt tác. Phạm Thế Minh, một thi sỹ gốc quê Hải Phòng, viết về danh nhân Nguyễn Công Trứ (1778-1858) ở một góc nhìn không lạ, không mới, cách thể hiện cũng không mới, nhưng cũng có cái ý vị của một tứ thơ hay.
 
Hai câu đầu, như thể một khẩu hiệu, nghe vui vui: “Kính chào Uy Viễn Tướng Công / con xin làm một cây thông cùng người”. Một lời “kính chào” có vẻ nghiêm ngắn, trịnh trọng, nhưng lại có ý như là gần gũi thân quen, không phải là “Kính nhi viễn chi”. Kẻ hậu sinh thưa gửi với người xưa, lại có ngay một lời khẳng định, thề thốt, rằng “con xin làm một cây thông cùng người”! Chả là Nguyễn Tướng Công từng viết: “Kiếp sau xin chớ làm người / làm cây thông đứng giữa trời mà reo”…Ai cũng biết thông (tùng) là loài cây thường vươn thẳng lên trời xanh, dáng trực, ví như cốt cách người quân tử. Muốn “xin làm một cây thông cùng người” là ca ngợi Nguyễn Tướng Công, muốn sống noi theo cái cốt cách của người quân tử ấy.

Phần tiếp theo, tác giả ca ngợi công đức cùng phẩm chất và tính cách rất riêng của cụ Uy Viễn. Phạm Thế Minh viết tiếp: “Vén mây, khuấy nước mệt rồi / lại mê “tom chát” của thời ông cha / Cụ không lắm đất nhiều nhà / Kim Sơn, Tiền Hải đều là của dân”…Một ông quan to, trọng thần của triều đình, lắm tài và nhiều tật. Tác giả ca ngợi tài năng “chọc trời khuấy nước” của cụ Nguyễn, từng làm đến Đại tướng, từng làm “Doanh điền sứ”, từng chỉ huy quân dân khai hoang lập nên hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình), đem lại hạnh phúc ấm no cho dân chúng, nhưng mà “vén mây khuấy nước mệt rồi”, thì cụ cũng mê “tom chát” như ai, cũng vui vẻ “em út” như ai, cũng “giang sơn một gánh giữa đồng / thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ chăng” như ai!...Nghĩa là trong con người vĩ nhân Nguyễn Công Trứ, có cái vĩ đại, cũng lại sẵn có cái đời thường của con người trần tục, mà tự nhiên như một bản thể trời sinh. Cái khác người của cụ Nguyễn ở đây, tuy xuất thân nơi “cửa Khổng sân Trình”, nhưng cụ Nguyễn lại không phải một nhà Nho cố chấp. Thế mới là Nguyễn Công Trứ danh nhân tài hoa, rất xa đấy, nhưng lại rất gần đấy! Lại còn là một vị quan thanh liêm, góp sức làm đất đai tổ quốc rộng thêm ra, nhưng mà không mảy may lợi dụng riêng tư, mà “chí công vô tư”…Người đời nay phần nhiều không theo được cái “đức” ấy của tiền nhân, thật đáng hổ thẹn lắm thay! Một ý thơ không mới, nhưng vấn đề mà tác giả khéo léo đặt ra lại vẫn đang là vấn đề thời sự, phê phán, mà không hề phê phán; nhẹ nhàng mà sâu sắc. Người xưa nói rằng thơ góp sức sửa sang, làm đẹp cho đời, có thể thấy ở đây chăng?

Tác giả khẳng định: “Bảng vàng bia đá nhiều người / mấy ai có được khoảng trời lòng dân”, để khép lại những hình ảnh về một người xưa rất lạ. Con người ấy tài năng ở trên nhiều người, nhưng lại ở rất gần đời, ở mãi trong lòng người với niềm yêu mến và trân trọng, “mấy ai có được”!

Kết thúc bài thơ “Nói chuyện với cụ Nguyễn Công Trứ”, tác giả thể hiện tình cảm trực tiếp của mình. Anh viết: “Mỗi lần về lại Nghi Xuân / con nghe cụ dạy, vững tâm làm người / dân vạn đại, quan nhất thời / lời người xưa cứ học rồi lại quên”…

Một đoạn kết hay, dẫu những ý thơ chả có gì là sáng tạo thêm thắt. Ví như câu “dân vạn đại, quan nhất thời”, chỉ là cách nói ngược lại của câu nói như là một thành ngữ, một châm ngôn “quan nhất thời, dân vạn đại”. Nhưng câu cuối thì nhiều dư vị, có thể nói là nhiều dư ba nữa: “Lời người xưa cứ học rồi lại quên”…

Ai học? Ai học rồi lại quên? Tác giả tự chiêm nghiệm về bản thân chăng? Đúng vậy, nhưng không phải chỉ có vậy. Tất cả những ai thuộc các thế hệ hậu sinh, được chút may mắn làm “quan”, cho dù là quan đời mới, vẫn học người xưa đấy chứ, vẫn biết tỏng tòng tong cái sự “quan nhất thời” đấy chứ! Nhưng mà họ, và cả chúng ta đều “học rồi lại quên” như thể một thứ học trò cứ cố tình “dốt” mãi, cứ chẳng chịu thông minh ra, như một căn bệnh kinh niên khó chữa, không thể nào chữa được. Hoặc giả là họ, và cả chúng ta, thừa biết rằng làm “quan nhất thời” thôi, nên “khôn ngoan” vận dụng một cách sáng tạo, ra sức tận dụng cái “nhất thời” ấy để vun vén cho thật nhiều, vơ vét cho thật nhiều, không biết chán?

Phạm Thế Minh đã viết một bài thơ giản dị mà nhiều ý tưởng sâu sắc. “Nói chuyện với cụ Nguyễn Công Trứ”, đối thoại đấy, mà độc thoại đấy, mà hội thoại đấy, mà đàm thoại đấy! Tưng tửng thật thà, mà hoá ra thâm trầm ý vị…Một bài thơ như thế, cũng xứng đáng được xếp vào “đội hình” của những bài thơ hay, chứ còn sao nữa!
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}