Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn nghệ sỹ:

 

Nhà văn Minh Giang - Cuộc thăng trầm

Trần Minh Thu | Thứ Tư, 09/10/2013 12:17 GMT +7
Nghệ Tĩnh là miền địa linh nhân kiệt, sông Lam, núi Hồng, có chùa Hương Tích nổi tiếng với thác nước trắng đổ dài như nàng tiên xõa tóc giữa đại ngàn. Chuần bị xuống bến ca-nô vào chùa Hương Tích, tôi thấy có bảng chỉ dẫn “Lăng mộ cụ Võ Liêm Sơn, 20m” và mũi tên chỉ hướng lên đồi. Nghe danh cụ Võ Liêm Sơn đã lâu, tôi thành kính lên dâng hương lăng mộ.

 

JPEG - 50.5 kb

Lá cờ đỏ sao vàng bay phần phật. Nhà bia ghi, cụ Võ Liêm Sơn là nhà yêu nước, là thầy học của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và là bạn học của Bác Hồ tại trường Quốc học Huế. Cụ Võ Liêm Sơn đang giữ chức Chủ tịch Mặt trận Liên - Việt Liên khu 4, thì đầu năm 1948, cụ được Hồ Chủ Tịch mời ra Việt Bắc bàn việc nước. Sau đó, cụ được Đại tướng Võ Nguyên Giáp mời về “Tổng hành dinh” để ôn lại tình thầy trò trong 7 hôm. Bác Hồ tặng cụ cây gậy và bài thơ có những câu: “Thờ dân tròn đạo hiếu/ Thờ nước vẹn lòng trung”. Chuyến đi ấy, cụ Võ Liêm Sơn về có thuật lại với cụ Nguyễn Sinh Khiêm (nhà văn Sơn Tùng chứng kiến), được ít lâu, thì cụ Võ Liêm Sơn qua đời (1888 – 1949).

Nhà văn Minh Giang là cháu ngoại cụ Võ Liêm Sơn. Nhân một lần, cùng nhà văn Sơn Tùng và Chiếu Văn vào chúc thọ Đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhà văn Minh Giang tặng Đại tướng cuốn sách “Mây núi Hồng” viết về danh nhân văn hóa Võ Liêm Sơn. Đại tướng nói: “Cụ Võ Liêm Sơn không chỉ là danh nhân văn hóa mà còn là một chí sĩ.”. Nhà văn Minh Giang kính cẩn: “Thưa Đại tướng, Đại tướng hiểu như thế nào về chữ “thời”?”. Đại tướng Võ Nguyên Giáp mắt sáng lên, nhìn xoáy vào nhà văn Minh Giang. Giây lát sau, Đại tướng giơ ngón tay trỏ nhấn vào không khí: “Thời à? Phải hiểu được “thời” của ta và “thời” của địch!” …

Cuộc đời Bí Thư Quân ủy Trung Ương, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là một chữ “thời”. Gặp “thời”, thì đua tài gắng sức thi gan cùng nhật nguyệt, rạng danh sông núi, vẻ vang nòi giống Tiên Rồng. Qua “thời”, lui về với công việc bình thường của một người dân. Ấy là cái đức của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng vậy! Nhân kỉ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ, nhà văn Minh Giang ca ngợi Đại tướng: “Giương thẳng, giương cao cờ Quyết thắng/ Ý đồ chiến lược sáng thiên tài/ Ai hiểu anh hùng trong chiến cuộc/ Phút giây này có một không hai” (Trang sử thần kì).

Tháng 9 năm 1951, nhà thơ Minh Giang đã sớm nhìn thấy bộ mặt xâm lược của đế quốc Mỹ đối với nước ta: “Đả đảo quân thù xâm lược Mỹ” (Gửi anh bạn Triều Tiên). Bài thơ nhanh chóng phổ biến ở mặt trận Bình Trị Thiên, được bộ đội chép tay truyền khắp Quân khu 5 và miền Đông Nam Bộ. Nhà văn Sơn Tùng đã ngâm vang cả nghìn lần trong suốt 10 năm bài thơ “Gửi anh bạn Triều Tiên”. Hơn thế, ở Đại hội Thanh niên Sinh viên thế giới tại Ba Lan (1955), bài thơ ấy lại vang lên qua giọng ngâm thơ của Sơn Tùng. Cả Hội trường đứng dậy vỗ tay, hô vang: “Việt Nam - Hồ Chí Minh, Giáp! Giáp!...” … Có lần khi đi công tác ở Khu 5, nửa đêm thức giấc, Minh Giang thấy có chú giao liên 15, 16 tuổi, gầy xanh xao, quần áo tả tơi, đôi chân trắng bợt đầy vết vắt cắn, nghiêng đầu cặm cụi bên đống lửa. Minh Giang lại gần, thấy em đang dùng vật nhọn làm đậm thêm những nét chữ nhỏ li ti, đã mờ trên báng súng. Minh Giang hỏi và biết em chép thơ “Gửi anh bạn Triều Tiên”. Xúc động. Sau đó, Minh Giang đã sáng tác “Bài thơ khắc trên báng súng” (1952).

Năng khiếu văn học Minh Giang đã lọt mắt tướng Nguyễn Sơn nhờ bài báo tường “Giã từ bãi tập” ở đồi sim, Thanh Hóa, khi Minh Giang học xong khóa 1 trường Dân quân học hiệu Liên khu 4. Tướng Nguyễn Sơn tâm đắc, đánh giá cao tác giả, quyết định đưa Minh Giang về phụ trách tờ báo “Cự Nẫm” – tên một làng kháng chiến ở Quảng Bình. Giữa năm 1951, báo “Cự Nẫm” giải thể, lập báo Quân địa phương Liên khu 4, Minh Giang làm phóng viên chiến trường. Minh Giang được Bộ Tư lệnh Liên khu 4 trao tặng Huân chương Chiến công hạng ba (1954). Những cán bộ nổi lên trong phong trào văn hóa – văn nghệ, được Tổng cục Chính trị điều về thành lập Tạp chí Văn nghệ Quân đội; Minh Giang biên chế vào tổ biên tập thơ Tạp chí Văn nghệ Quân đội (1957). Năm 1960, Minh Giang làm ở phòng Biên tập Văn nghệ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân. Minh Giang được cử đi học khóa Triết chuyên đề của trường Tuyên giáo Trung ương, có giấy chứng nhận là giảng viên triết học bậc trung cấp chính trị cho các trường đại học (1962). Năm 1979, Minh Giang chuyển ngành sang Bộ Văn hóa, Minh Giang đứng trên bục giảng, trở thành nhà giáo ưu tú, giảng dạy Triết học ở trường Đại học Nghệ thuật Sân khấu Điện ảnh. Giọng ông âm vang cùng với khả năng diễn đạt đã cuốn hút sinh viên say mê vào môn khó học này. Tổng kết năm học, Minh Giang được giáo viên và sinh viên bầu là giáo viên dạy giỏi, đi dự Hội nghị Giáo viên dạy giỏi toàn quốc và nhận bằng khen của Bộ Giáo dục.

Minh Giang sinh ngày 1 – 1- 1927, ở xã Vượng Lộc, huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Có năng khiếu ngoại ngữ, Minh Giang nhờ một người bạn xin vào làm thư kí hãng tàu thủy của quân đội Nhật, chỉ 3 tháng sau, ông đã nói được tiếng Nhật phổ thông. Trước Cách mạng Tháng Tám, Minh Giang được Ty Công an Nghệ Tĩnh kết nạp và giao nhiệm vụ mua vũ khí quân Nhật: được 10 khẩu súng trường và 2 khẩu súng ngắn. Minh Giang được kết nạp Đảng tháng 9/1946. 22 tuổi, ông là Huyện ủy viên Huyện Can Lộc, Hà Tĩnh. Năm 1954, Minh Giang gia nhập Chi hội Văn nghệ Liên khu 4, do Lưu Trọng Lư làm Chi hội trưởng. Tháng 4/1957, Minh Giang cùng hơn 20 cán bộ Văn nghệ Quân đội vào Hội Nhà văn Việt Nam.

Nhà văn Sơn Tùng sau khi bị thương, ra Bắc, có đến báo Quân đội nhân dân gặp Minh Giang, gửi bản thảo. Minh Giang hỏi: “Anh ở Đông Nam Bộ. Thế anh có biết nhà báo Sơn Phong không?”. Sơn Tùng vui vẻ: “Nhà báo Sơn Phong, là tôi đây. Thế anh có biết nhà thơ Minh Giang, có bài “Gửi anh bạn Triều Tiên” không?”. Thật là duyên tương ngộ! Họ ôm lấy nhau ... Và, giờ đây những con người từng vào sinh ra tử ấy, ngồi lại với nhau trên Chiếu Văn của nhà văn Sơn Tùng. Những đứa con tinh thần của Minh Giang tiếp tục ra đời:

“Cuộc thăng trầm” (2 tập, khoảng 800 trang) viết về bi kịch Lệ Chi Viên của Anh hùng Dân tộc Nguyễn Trãi, dùng cán bút và lòng nhân nghĩa phò Lê Lợi đuổi giặc Minh, giúp chế độ tân. Thói đời, được chim bẻ ná. Người Anh hùng đã bị bọn gian thần hãm hại. Những kẻ kế quèn, mẹo vặt ấy, tuy không có mưu đuổi giặc; nhưng lại rất giỏi xúc xiểm hại bậc trung liệt, dẫn đến thảm họa đau thương chu di tam tộc. Nhà văn Minh Giang nói: “Lịch sử gần như lặp lại. Viết chuyện lịch sử thực ra là để hiểu thêm hiện tại. Có những điều của ngày hôm nay, phải dựa vào lịch sử để nói.” Chính nhờ Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã gợi ý với các nhà văn như thế (đầu năm 1987), nên Minh Giang viết “Bi kịch Lệ Chi Viên” (1989), 5 năm sau mới đưa in tập 2 “Người đẹp vào cung”, cả 2 tập gộp lại thành tác phẩm “Cuộc thăng trầm” (1989-1994), khi người ta đã ngồi trên ngai vàng thì đã khác rồi, khắc họa chân dung Lê Thái Tổ chỉ là người chung hoạn nạn chứ không thể cùng hưởng phú quý, và bè đảng Lê Đức Dư (phụ trách mật vụ), Lê Thận, Lê Sát, Lê Thị Anh, …

Văn của Minh Giang là những bài học kinh nghiệm vinh quang, cay đắng, máu và nước mắt chắt ra từ trong lịch sử, nhắn gửi cho hậu thế biết, mà lường... Khi đã có ý đồ, cấu trúc tác phẩm, trao đổi kĩ về nhân vật và các tình huống xảy ra với bạn văn Sơn Tùng, Minh Giang ngồi viết rất nhanh theo mạch cảm xúc, có cuốn ông viết ba tháng là xong, ít khi phải viết lại; nhưng cũng có quyển viết 6 năm mới xong. Là người xuất thân dòng dõi Nho gia có công với nước từ thời Cần Vương và Xô viết-Nghệ Tĩnh, Minh Giang viết về Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm trong “Bạch Vân cư sĩ”. Cụ Võ Liêm Sơn trong “Mây núi Hồng”, “Gió cuốn” là cuộc di cư vào Nam năm 1954 của người theo đạo Thiên Chúa; “Cao nguyên xanh”, “Tiếng đàn tranh”, “Đôi mắt Huế”, v.v. … “Đôi mắt Huế” in lần đầu 3 vạn bản, bán hết rất nhanh. Tất cả các tác phẩm của Minh Giang đều được tái bản. “Cuộc thăng trầm” tái bản 3 lần (1989, 1994, 2005). “Đôi mắt Huế” là chuyện tình hấp dẫn thời chống Pháp của các chiến sĩ tình báo, phảng phất phong cách thi vị của phương Tây kết hợp với thực tế khốc liệt chiến trường mặt trận Bình Trị Thiên.

Năm 1972, hồn thơ Minh Giang bỗng vút lên với những vần thơ hào sảng khi bắt gặp hình ảnh các chiến sĩ phòng không đang chiến đấu bảo vệ cầu Long Biên, Hà Nội: “Khi ta ẩn dưới hầm/ Trên đầu ta tiếng rít gầm man rợ/ Thành phố rung lên trong tiếng nổ ầm ầm/ Ta vẫn tin bầu trời không sụp đổ/ Khi ta ngồi trên mâm pháo/ Trong tư thế ngẩng đầu/ Đĩnh đạc vít quân thù xuống đất/ Vầng trán ta/ nâng bầu trời lên cao/ Qua chiến đấu mười năm/ Ta đã rõ/ Vầng trán cao tới đâu/ Bầu trời cao tới đó.” (Vầng trán và bầu trời). Đương thời, bài thơ “Vầng trán và bầu trời”, được nhạc sĩ Văn Cao cùng các bạn ở Chiếu Văn như Sơn Tùng, Đặng Đình Hưng, Tân Trà đánh giá: “Đó là bài thơ thần thi tri lâm, bài thơ loại hay nhất trong rừng thơ kháng chiến Việt Nam”.

Một ngày cuối năm 2010, ở Sài Gòn ra, tôi đến thăm nhà văn Minh Giang, 83 tuổi, ở khu tập thể Faifilm, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Bây giờ, ông thường xuyên bị rối loạn tiền đình, cao huyết áp và đau thần kinh tọa đi lại khó khăn. Những dâu bể cuộc đời chắt chiu trong bản thảo “Gươm đàn nửa gánh”, ông tặng nó cho tôi. Xúc động, không nỡ để bản thảo nằm im trong hộc tủ. Tôi trao đổi đôi điều với ông Bùi Phúc Hải, giám đốc Trung tâm Văn hóa Tràng An. Và, bản thảo “Gươm đàn nửa gánh” đã trở thành ấn phẩm nổi tiếng “Nỗi đau của thiên tài”, khám phá nỗi đau của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Ngô Thì Nhậm và nhiều danh nhân khác. Ở đó, nhà văn Minh Giang cắt nghĩa vì sao Nguyễn Du lại không theo về với nghĩa quân Tây Sơn? Nguyễn Du không muốn lặp lại cái sai của Hoàng Sào “Nghìn năm ai có khen đâu Hoàng Sào”, dẫu cho 30 vạn nghĩa binh Hoàng Sào có chiếm được Bắc Kinh và lên ngôi báu, nhưng sau 30 năm vẫn bị đánh bại. Những cuộc nổi dậy của nông dân, chẳng qua là “tức nước vỡ bờ” nổi lên đập phá vậy thôi, chứ thực ra họ không có lí tưởng. Vì thế, khi giành được chính quyền thì lại lúng túng không biết dùng chính sách gì để trị nước, tất lại bị thế lực khác lật đổ.

Nỗi niềm nhân thế được chắt ra:
“Từ trái tim đau khổ tột cùng
Từ cuộc đời chất chứa bất công
Từ ý tưởng sống không quỳ gối
Từ cội nguồn dân tộc, tổ tông”

(Khúc ca tặng dũng sĩ cầm bút, Minh Giang)


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}