Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn với "Văn hóa Nõ Nường"

Thứ Sáu, 23/01/2015 16:48 GMT +7
    Ngày nay, với những thành tựu khoa học mới nhất, người ta cho rằng ranh giới đích thực phân biệt con người với động vật cao cấp khác chính là khi người Vượn xuất hiện một khả năng đặc biệt - Khả năng biểu trưng hoá trong hoạt động ý thức và tâm linh để trở thành người. Đó là khả năng dùng những công cụ biểu trưng khác nhau để diễn đạt và thông tin các ý nghĩa khác nhau. Do đó, một biểu trưng là bất kỳ thực thể nào có thể chứa nghĩa hoặc có thể quy chiếu sang thực thể khác, được sử dụng và được diễn giải như là một đại diện cho một loại thông tin nào đó ( ). Khi con người hiện thực hoá các khả năng biểu trưng vào đời sống xã hội bằng những biểu tượng thì đó là bước đột biến trí tuệ làm cho con người thoát khỏi thế giới tối tăm ngu muội của động vật để bước sang thế giới ánh sáng của con người: núi sông cây cỏ đều có linh hồn, người chết trở thành tổ tiên ở thế giới bên kia; sự giao hợp đực cái được biểu trưng cho sự sinh thành, sự hoà hợp kỳ diệu của trời đất, sự xuất hiện nghi lễ thờ sinh thực khí đàn ông đàn bà; thế giới thực tại của loài người được ghi thành huyền thoại. Con người sống đồng thời với ba thế giới: Thế giới thực tại - thế giới tự nhiên là thế giới hữu hình, hữu hạn và khả tri, được phản ánh vào đầu óc con người thành thế giới ý niệm - thế giới vô hình vô hạn vô khả tri và thế giới biểu tượng.
 

Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn
 
Thế giới biểu tượng do con người sáng tạo ra nhằm thực hiện yêu cầu biểu đạt. Nói như Hégel, con người tự nhân đôi mình và tự ngắm mình. Vì vậy biểu tượng bao giờ cũng có hai mặt: cái biểu đạt (người xưa gọi là hiểu) và cái được biểu đạt (được gọi là mật), làm cho con người có thể nhìn thấy cái vô hình mang tính huyền bí. Văn hóa học có nhiệm vụ giải mã cảm thức của người bản ngữ (cái mật) thông qua các hệ thống biểu tượng.
 
Từ khi trở thành người, một vấn đề cốt tử mà loài người bận tâm là đi tìm cội nguồn "người" của mình từ chính mình. Ta gọi đó là "tự kỷ trung tâm luận" (nói theo cha ông ta là suy bụng ta ra bụng người). Có thể nói nhận thức được "cái chết" con người đã mở ra thế giới tâm linh và đó là tình cảm chỉ có ở con người. Max gọi đó là "tình cảm tôn giáo". Ông viết : "Nếu trong trái tim con người có một tình cảm xa lạ với tất cả số còn lại của các loài động vật, một tình cảm cứ tái sinh lại mãi, dù cho vị trí con người ở đâu, phải chăng tình cảm đó là một quy luật cơ bản của bản chất con người? Theo chúng tôi đó là tình cảm tôn giáo (Mrga, IV/1, tr 342). Đức tin tâm linh gắn với con người như hình với bóng. Vì vậy còn loài người là còn đức tin tâm linh, đức tin tôn giáo.
 
Ở nước ta, từ khi đổi mới, chúng ta bắt đầu nói đến đời sống tâm linh và đã có không ít công trình nghiên cứu về vấn đề này. Tác phẩm Văn hóa Nõ Nường của Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn Nhà nghiên cứu Dân tộc học âm nhạc Nxb Khoa học xã hội 2008 là một minh chứng. Tuy nhiên, sách Văn hóa Nõ Nường là những vấn đề mới được đặt ra, đến sách Giải mã  biểu tượng văn hoa- Nõ Nường  như ý kiến của tác giả, là đã được bổ sung và  tiến hành một cách triệt để, sâu sắc và đầy đủ hơn.
 
Điều đáng nói ở đây là tác giả không coi các hiện vật biểu ượng Nõ Nường là hiện tượng phồn thực tầm thường như lâu nay nói đến mà phát hiện ở lĩnh vực tâm linh của các biểu tượng. Nếu những ai nhìn thấy tượng thần Siva của Ấn Độ: tay trái cầm Linga đặt trên đầu gối và cả pho tượng nhìn đằng sau là trụ Linga (ảnh 10) liệu họ có gọi đó là biểu tượng của “phồn thực” không?
 
Từ tâm thức về thần Siva, tác giả liên hệ, nhận thức ý nghĩa của vật linh Nõ Nường thờ trong miếu Trò Trám (Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ) với bài Văn tế bằng chữ Nho cách ngày này khoảng ba thế kỉ, mở đầu có những câu:
 
“Băng sương cốt cách
Kim ngọc tinh thần
Nhược thủy doanh nhân quý khách
Bồng lai hải đảo tiên nhân...”
 
Có nghĩa, đó không phải người trần mà bậc Tiên Thánh vị thần ở chốn bồng lai tiên cảnh cai quản, che chở đời sống của con người “Hãn tai ngữ họa”. Khi con người gặp hoạn nạn chỉ cần“ cảm tất thông, cầu tất ứng. Qua đó, tác giả coi vật linh Nõ Nường là hiện thân của bậc Tổ phụ và Tổ mẫu. Tác giả khẳng định, chỉ con người mới cứu vớt được con người! Đó là Tổ Tiên, Thần Thánh – thần là Thần hoàng làng, thánh là Thánh Gióng, những vì ấy khởi nguyên cũng đều là con người.  Đó mới là nơi nương tựa, gửi gắm niềm tin của con người.  Người ta thường nói mồ mả Tổ Tiên “kết” nên con cháu mới học hành đỗ đạt, ăn nên làm ra. Vì thế, Nõ Nường trở thành vật thiêng, bùa hộ mệnh, vật tùy thân được thờ cúng khắp nơi với những biến thể vô cùng đa dạng, phong phú.
 
Sự thành công của tác giả là ở chỗ đã phát hiện được “Văn hóa Nõ Nường” là then chốt, cốt cách, bản sắc của nên văn hóa tư tưởng truyền thống của dân tộc, cho nên tác giả lấy đó làm đề tài nghiên cức trong cả cuộc đời của mình.  Thuật ngữ Văn hóa Nõ Nường do anh đặt ra để chỉ những hiện vật biểu tượng được thờ cúng ở chốn linh thiêng với lễ hội múa Mo: cầm dùi “phộc”vào mo nang ở các làng quê, nhưng các nhà “đạo đức” lại kiêng dè các hiện vật đó.  Ngay trong Đại Việt sử ký toàn th, Sử thần Ngô Sĩ Liên đã phê rằng, đó là việc làm “thô bỉ lắm”( ) khi nó diễn ra  tại sân Rồng trong cung điện của triều Trần ở Thăng Long, là trong yến tiệc có người đội “mo nang” cầm “dùi đục” chỉ huy uống rượu.
 
Nhưng Dương Đình Minh Sơn (D.Đ.M.S) không e ngại lời phê phán đó của vị Sử thần  được ghi trong chính sử Đại Việt sử kí toàn thư lại còn can đảm ngợi ca, phô bày nó ra trước ánh sáng công luận, đề cao bằng những lời kính trọng là: bậc Tổ phụ, Tổ mẫu. Hiện vật biểu tượng đôi khi chỉ là cái “mo nang” và “dùi gỗ” vông, nhưng giá trị tư tưởng lại lớn lao như “trụ đá” “hoa sen” của Ấn Độ đã biến hóa thành thần Siva, hoặc trong Hán tự của Trung Quốc có chữ “tổ” gồm hai thành tố - chữ “thị” ( ) là mô phỏng đàn tế trời (thờ cúng) với chữ “thả” (   )  là hình ảnh vật sinh thực của đàn ông.  Qua sự so sánh, đối chiếu ấy một lần nữa tác giả khẳng định “Văn hóa Nõ Nường” là bàn thạch, bản sắc của nền văn hóa tư tưởng của người Kinh Giao Chỉ.  Ở điểm này, anh có lý là sách Lịch sử tư tưởng Việt Nam Tập I. tr 22 khi luận về người Việt đã ghi: “Nó nặng về các vấn đề xã hội và nhân sinh mà nhẹ về các vấn đề tự nhiên”( ).
 
Vì thế, đề tài Văn hóa Nõ Nường được tác giả đặt làm Phần I của sách Giải mã biểu tượng văn hóa Nõ Nường: Với hai đường máu ở quả trứng người mẹ khi thụ tinh mới là điểm khởi nguyên.  Sự khởi sinh, phát triển về vòng đời của con người từ hai đường máu đã tạo ra các hình thái phát triển tư tưởng của nền Văn hóa Nõ Nường, được biểu đạt bằng nhiều hình thái hoa văn của thế giới biểu tượng.  Đó là hoa văn chữ “S” âm dương (hình 40a) dây “Tơ hồng” – cuộn thừng (hình 41), nó là cơ sở của biểu tượng Đôi rắn quấn nhau nuốt voi (hình 67).  Bởi anh coi Đôi rắn quấn nhau là hình ảnh của dây Tơ hồng biểu tượng của đôi vợ chồng với câu ca:  Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn.  Khi vợ chồng đã đồng tâm hợp lực thì tát cạn cả bể đông, huống hồ nuốt trọn một con voi thì đã thấm vào đâu.
 
Như vậy, một tư tưởng ẩn chứa trong một motip hoa văn thì tư tưởng đó sẽ được mã hóa sang một hiện vật khác trong đời sống của xã hội.  Do đó, khi nhìn nhận tư tưởng hàm chứa trong một motip hoa văn là phải đặt nó trong tọa độ của những mối quan hệ tư tưởng cùng hệ thì việc giải mã biểu tượng mới có giá trị về học thuật.  Nhưng hoa văn biểu tượng ở các Di chỉ do ngành khảo cổ khai quật đem lại thì nhiều vô kể như một “ trận đồ bát quái ”, phải gỡ mối dần, đi từ cái nhỏ đến cái lớn.
 
Trước tiên là hiện vật hình tròn bốn mấu, hình hạnh phân đôi bằng loại ngọc nêphơrit (ảnh 24), đến các loại vật dụng như âu độc, bát đĩa, nồi niêu... thứ nào cũng đều phân làm hai mầu đen trắng (ảnh 25).  Tại sao vậy?  Tác giả cho rằng đó là quan niệm về cặp lưỡng hợp âm dương, hoặc hoa văn hình tròn có chấm ở giữa, đó là con “ngươi” ở lòng đỏ của quả trứng (hình 48b). Để có sự so sánh, đối chiếu về hàm nghĩa của việc giải mã motip hoa văn hình tròn có chấm và hình chữ S ở đây, tác giả đã dẫn ý kiến của các học giả thế gới nghiên cứu về nguồn gốc của hoa văn hình tròn có chấm, hoặc hoa văn hình chữ S của các vùng là họ giải mã bằng cách nhìn hiện tượng. Như ở châu Phi, hoa văn hình tròn có chấm là hình con rắn nửa đen nửa trắng cuộn tròn, một mắt dương lên, còn ở vùng Thái Bình Dương là hình ảnh các cơn lốc và con sóng vận hành ngược và xuôi chiều kim đồng hồ ở vùng bắc bán cầu, hoặc ở Ấn Độ sự biến thể của hoa văn chữ S thành hình xoáy ốc lên và xuống là xuất phát từ sự vận động ở hai cực của Quả Trứng Vũ Trụ (hình 38a), còn ở Trung Hoa coi hoa văn chữ S là các biến thể của mọi chuyển động trong vũ trụ là tia chớp của sấm sét = lôi văn. Nhưng còn nguồn gốc của hoa văn dây cuộn thừng thì thế giới chưa ai nói đến, D.Đ.M.S. cho nó là từ hai đường máu ở quả trứng người mẹ khi thụ tinh.
 
Từ đó, anh phát hiện hàm nghĩa của bốn motip hoa văn trang trí trên chiếc khăn Piêu trùm đầu của phụ nữ Thái ở Tây Bắc, sẽ làm người đọc ngỡ ngàng.  Đó là hoa văn “Xai khớ” vị thần của sự sống – “kho” chứa “nhiên liệu”, hai là hoa văn “Kút piêu” ngọn lửa sự sống cháy sáng rực rỡ đặt ở đầu dây Xai khớ (“kho nhiên liệu”) khi hết nhiên liệu, ngọn lửa tắt là người đó chết (trên quan tài đặt ngọn đèn dây bấc ở đĩa dầu lạc, đó là ý nghĩa của kút piêu và dây xai khớ, trường hợp này cũng thấy ở người Kinh, nay là các cây nến), ba là hoa văn “Xai peng”  vị “thần Tình yêu” nó như dây Tơ hồng của người Kinh và bốn là hoa văn “Ta leo” vị thần bảo vệ sự sống: trừ đuổi tà ma như cây Nêu của người Việt.  Bốn motip hoa văn này cũng do từ hai đường máu ở quả trứng của người mẹ (Me đẳm) khi thụ tinh mà thành (hình 34).
 
Những motip hoa văn này do giới thầy mo sáng tạo và bảo trợ, cho nên hàm nghĩa của nó được dấu kín, như đôi Đũa bông trên bát cơm cúng người quá cố của người Kinh. Nếu để lộ nội dung là mất linh nghiệm, người đời chỉ biết làm theo y hệt như cũ. Tuy nhiên hàm nghĩa của những hoa văn này lại được mã hóa sang bốn Sự tích biểu đạt về sự sống của con người, được kể hàng ngày mà không ai liên hệ nó là ý nghĩa của các hoa văn trên khăn Piêu.  Vì thế, lâu nay các nhà nghiên cứu hoa văn trên khăn Piêu, đều cho đó là cành hoa ban, , hình con nhện, chỉ hoa văn Kút piêu với ý nghĩa là vật phẩm biếu bề trên, còn hoa văn Xai Peng là hình con “rết”.  Do việc giải mã ấy, cho nên ngày nay người ta thêu hình con “rết” lên khăn piêu để bán cho khách du lịch (hình 36b), vì thêu hoa văn Xai peng khó, kĩ thuật phức tạp.
 
Việc giải mã hàm nghĩa của những motip hoa văn trên khăn Piêu này sẽ góp phần gợi mở cho nhận thức về hàm nghĩa của hoa văn trên trống đồng Ngọc Lũ, đó là cái đích cuối cùng của sách Giải mã biểu tượng văn hóa Nõ Nường. Tuy nhiên để có sự thuyết phục tác giả còn dẫn sách tiếng Phạn của Ấn Độ 800 năm trước Công Nguyên đã lấy lá sen tượng trưng cho tử cung (utérus) của người mẹ. Để anh coi hoa văn trống trồng Ngọc Lũ (anh gọi là Thần Đồng Ngọc Lũ) là cuộc lễ hội vòng đời của người Kinh Giao Chỉ biểu đạt về khởi nguyên sự sống của con người từ quả trứng người mẹ đã thụ tinh.
 
Trống trồng Ngọc Lũ, anh gọi là Thần Đồng Ngọc Lũ (thay cho tên đồng cổ - trống đồng do Mã Viện ngụy tạo) và cho rằng đó là biểu tượng về hình dáng người mẹ Thắt đáy lưng ong:  Lòng Thần Đồng là tử cung, miệng là lỗ “oa” (Nữ Oa) nơi sinh ra dân tộc Giao Chỉ, và núm tròn ở chính tâm mặt Thần Đồng là quả trứng của người mẹ được thụ tinh trong chu kỳ kinh nguyệt 28 ngày- tức là 28 tia xung quanh núm tròn: 14 tia nổi và 14 tia chìm (hình 108).  Ở đây 14 tia nổi thì tia nổi thứ 14 là ngày trứng rụng – thụ tinh, nếu không được thụ tinh thì 14 ngày sau xẩy ra kinh nguyệt. Việc xảy ra kinh nguyệt ở người mẹ, sách Y học gọi đó là hồi chuông báo tử của một sinh linh.  Vì thế anh gọi ngày 14 là số “định mạnh”.  Thụ tinh là sống không tụ tinh là chết, chỉ trong một khoảnh khắc, cho nên, số 14 là ước số của hệ sinh học về con người: 280 ngày thai nhi nằm trong bụng mẹ là bội số của 14. Do đó, số 14 “định mệnh” chi phối toàn bộ số liệu hoa văn ở Thần Đồng Ngọc Lũ.
 
Từ phương pháp luận đó tác giả đã phân định rành mạch từng loại hình hoa văn trên  Thần Đồng Ngọc Lũ, gồm bốn loại: Một là hoa văn biểu tượng, hai là hoa văn đồ vật, ba là hoa văn chim, thú và bốn là hoa văn hình người.  Bốn loại hoa văn ấy khi cộng lại là bội số của số 14 định mệnh.
 
Biểu đồ về 28 ngày trong chu kì kinh nguyệt và ngày 14 trứng rụng (hình 108) ở đây là phù hợp với biểu đồ ngày trứng rụng trong chu kì kinh nguyệt 28 ngày sách Y học phẫu thuật bản Anh văn, Tập V tr 30 Thư viện Viện Bà mẹ trẻ sơ sinh T.W (hình 109).  Khi nghe nói thế, người ta ngỡ ngàng, hoài nghi về tính khoa học, bởi người cổ xưa làm sao hiểu biết được tính khoa học mà ghi thành những ký hiệu hoa văn rõ ràng, rành mạch đến thế. Nhưng tính khoa học là ở số 14 định mệnh.
 
Cho nên, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam đã công bố bản Giải mã ấy bằng song ngữ,  bản Tiếng Việt số 2/2011, tr 98 – 107, bản Tiếng Anh số 3/2011, tr 108 – 118.  Bởi tính thuyết phục về khoa học ở số 14 định mệnh, nó được mã hóa vào các hình thái trong đời sống của xã hội và lưu truyền cho đến ngày nay. Đó là người qua đời vào ngày 14 là ngày thiêng (sinh và tử một ngày), cầu thang lên chùa Một Cột có 14 bậc, anh còn hỏi các cụ già cho biết ngày xưa bánh xe bò có 14 nan, quạt giấy có 14 nan (do Hồ Xuân Hương nâng lên 18 nan), hoặc 28 ngôi sao (Nhị thập bát tú) hợp thành một vòng tròn trên đường Hoàng đạo: 14 sao âm và 14 sao dương, hoặc Kinh thánh ghi Chúa Zesu từ vị trí đứng, đến cột Thánh gía đã dừng lại 14 lần.
 
Quan niệm con người sinh ra từ quả trứng là có ở nhiều dân tộc, nhưng thật bất ngờ và lý thú khi chúng ta được nhìn hệ thống các hoa văn trên gốm, trên Thần Đồng mà tác giả đã cấu trúc hoá lại để minh chứng cho luận điểm của mình về khởi nguyên vòng đời của con người từ quả trứng người mẹ (hình 110)
 
Ngoài ra tác giả còn chứng minh bộ xương của con người được ghi làm hằng số tia nổi: 4, 8, 10, 12, 14, 16 quanh núm tròn giữa tâm của mặt Thần Đồng IV loại Heger (hình 112). Qua đó, tác giả cho rằng, để xác định Thần Đồng Đông Sơn là vật thiêng hay nhạc khí thì phải căn cứ vào tỉ lệ hóa học của hợp kim: 17% kim loại thiếc mới có âm thanh đẹp như chuông, đỉnh (Đái Chấn) và không có kim loại chì. Nhưng hợp kim đúc Hùng Linh Đông Sơn thì tỉ lệ thiếc chỉ có từ 0- 0,5%, còn tỉ lệ chì cao đến 25% (Diệp Đình Hoa), mà kim loại chì làm câm tiếng lại. Do đó, Thần Đồng  Đông Sơn khởi nguyên Hùng Linh Ngọc Lũ là vật thiêng, Ấn tín của thời đại Hùng Vương chứ không phải nhạc khí (D.Đ.M.S) và do người Kinh Giao Chỉ ở lưu vực sông Hồng sáng tạo đầu tiên (Heger).
 
Qua từng Mục của từng Phần trong sách, cho thấy tác giả đã phát hiện được một vấn đề hệ trọng trong nền văn hóa cổ truyền của dân tộc mà anh gọi bằng thuật ngữ Văn hóa Nõ Nường đặt ở Phần I của sách “Giải mã biểu tượng văn hóa Nõ Nường ”. Nói đúng hơn, thuật ngữ Văn hóa Nõ Nường được anh làm sáng rõ-nâng cao với những giá trị tổng hợp mới-định hình, tạo lập, xây dựng thành thuyết “Văn hóa Nõ Nường” của dân tộc Kinh Việt cổ. Có thể  nói: thuyết “Văn hóa Nõ Nường” với các hình thái tiến hóa thuộc phạm trù hằng số chẵn 2-4-8, nó cùng hệ với hằng số chẵn 2-4-8 của thuyết Kinh Dịch nguyên thủy của người Việt Thường- Tức là  thuyết “Văn hóa Nõ Nường” với thuyết Kinh Dịch nguyên thủy là đồng tác giả. Nếu nhận xét ấy của anh là đúng thì thuyết “Văn hóa Nõ Nường” sẽ góp phần cứ liệu, để các nhà khoa học khẳng định thuyết Kinh Dịch nguyên thủy  là của Tổ tiên chúng ta sáng tạo. Chúng ta chờ ý kiến thẩm định của các nhà nghiên cứu về Kinh Dịch của Việt Nam.
 
Để kết luận cho đề tài nghiên cứu Thần Đồng của mình, tác giả viết: “ Là nhạc sĩ, cho nên việc nghiên cứu Thần Đồng là vật linh hay nhạc khí là  thuộc chức năng và chúng tôi coi Thần Đồng là vật "thiêng"sẽ trái ngược với quan niệm lâu nay, coi Thần Đồng (trống đồng)  là nhạc khí, vì thế không dễ gì được người ta chấp nhận. Chúng tôi kiên trì bảo vệ sự phát hiện này của mình cho đến lúc chân lý được sáng tỏ.
 
Trong cuộc đời chiến sĩ, tác giả đã từng trải, tiếp cận nhiều nét văn hoá ở các làng quê, từ miền Trung ra miền châu thổ sông Hồng và lên Tây Bắc, rồi đi học âm nhạc trở thành nhạc sĩ sáng tác và sưu tầm nghiên cứu văn hóa truyền thống của dân tộc và miền Nam sau ngày thống nhât. Sau khi công bố cuốn sách Ngôn ngữ với việc hình thành âm điệu đặc trưng trong dân ca Thái (1994) tác giả với “kho” tư liệu văn hóa tâm linh của 50 năm tích lũy đã trỗi dậy, cuốn hút bởi một hướng đi- đề tài Văn hoá Nõ Nường, và nay là sách Giải mã biểu tượngvăn hóa-văn hóa Nõ Nường.
 
Đọc Giải mã biểu tương văn hóaNõ Nường của nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn, tôi như bị cuốn hút vào mê cung của tín ngưỡng Văn hóa Nõ Nường khi mờ, khi tỏ, khi linh thiêng, khi trần tục, thiên biến vạn hoá… Nhưng điều thuyết phục nhất đối với tôi là trong tâm thức của người Việt -Kinh, tín ngưỡng Nõ Nường - nguồn gốc của con người, là tục thờ cúng cơ bản nhất, lâu đời nhất chi phối toàn bộ đức tin tâm linh với việc thờ cúng tổ tiên của người Việt- Kinh. Bằng sự cảm nhận trực giác, tác giả đã giành nhiều công sức tìm kiếm và đưa ra những lý giải mới mẻ độc đáo về những biểu tượng đa nghĩa khiến người đọc cảm thấy có lý một cách tự nhiên không khiên cưỡng. Tuy nhiên tôi phải thú thật có nhiều điều tôi chưa hiểu hết. Âu đó cũng là điểm then chốt của văn hoá tâm linh.
 
Hy vọng rằng bạn đọc xa gần sẽ tiếp tục phát hiện những điều lý thú hơn những gì mà tôi đã giới thiệu với các bạn.
                                                                               G.S..P.Đ.D.
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}