Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác giả:

 

Nhớ một tai nạn văn chương thời chống Mỹ

Thứ Tư, 15/07/2015 04:18 GMT +7
Thanh Thảo
 
Chính vào năm 1974, khi tôi phải “xơi quả đắng” ở chiến trường miền Nam vì thơ thì lời giới thiệu đầy trân trọng của nhà thơ Chế Lan Viên cộng với 13 bài thơ trong tập “Dấu chân qua trảng cỏ” mà ông chọn đăng trên tạp chí Tác Phẩm Mới tại thủ đô Hà Nội đã góp phần cứu cho tôi khỏi một cái “án văn” tào lao.

 
 
Tào lao với bây giờ, nhưng hồi đó là có thể chết người. Dù Chế Lan Viên đã rất cẩn thận, không cho in hai bài thơ “Thử nói về hạnh phúc” và “Một người lính nói về thế hệ mình”, thì 13 bài thơ in trên Tác Phẩm Mới vẫn gây được ấn tượng tốt. Nhuận bút 13 bài thơ là 120 đồng (bằng hai tháng lương thiếu úy của tôi). Thầy tôi nhận, và sau giải phóng khi tôi trở ra Hà Nội, ông đã giao lại hết cho tôi để…uống bia hơi với bạn bè. Tất cả những thông tin ấy, sau ngày giải phóng tôi mới biết. Còn lúc ở R, thì chỉ nhận được những ánh mắt cảnh giác của các thủ trưởng, sự ái ngại của bạn bè, cùng một cái “thư ngỏ” tố cáo của một “chiến sĩ giải phóng quân” nào đó, kết án gay gắt bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình”. Bức thư này được Ban Văn nghệ R. gửi cho tôi qua bản đánh máy 8 trang, kèm bức thư viết tay khá nhẹ nhàng của nhà văn Lý Văn Sâm, Trưởng Tiểu ban Văn nghệ. Do có nhiều bạn thân ở Tiểu ban này, nên tôi biết ông Hai Lý (Lý Văn Sâm) là một người rất hiền. Đây cũng là chuyện “chẳng đặng đừng” mà ông buộc phải làm, chứ thâm tâm ông đâu có ghét bỏ gì một cây bút trẻ như tôi. Tất nhiên, chả phải ông Hai Lý sợ ngài “chiến sĩ giải phóng quân” viết thư ngỏ tố cáo kia, người mà ông sợ là ông Tư Ánh (Trần Bạch Đằng). Mà ông Tư Ánh thì…đáng sợ thật đấy! Không chỉ là nhà cách mạng chuyên nghiệp, nhà lãnh đạo chuyên nghiệp, ông Tư Ánh còn là nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình, nhà viết kịch, nhà tuyên huấn, nhà…Ông có tới hơn mười cái “nhà”, mà nhà nào cũng cỡ “biệt thự” cả! Vì thế, nên khi ông Tư Ánh mới chuyển từ T4 (Sài Gòn-Gia Định) về làm phó ban trực Ban tuyên huấn R, thì vô phúc cho tôi, bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình” của tôi được chọn in trên tạp chí Văn nghệ giải phóng do Tổng biên tập là nhà văn Anh Đức, còn biên tập thơ là nhà thơ - nhạc sĩ Diệp Minh Tuyền. Đó là niềm hạnh phúc lớn cho tôi, một người viết trẻ. Tôi mừng lắm, tính lúc nào tạp chí ra, sẽ sang “cứ” Văn nghệ cảm ơn các anh. Không ngờ…lúc tạp chí còn ở nhà in, thì bài thơ của tôi đã đến tay ông Trần Bạch Đằng. Ông đùng đùng nổi giận. Thực ra, bây giờ bình tĩnh đọc lại, tôi vẫn không hiểu hồi ấy ông Tư Ánh giận bài thơ ở điểm nào. Ông Trần Bạch Đằng mất rồi, nên cũng chẳng biết hỏi ai. Chỉ biết, hồi ấy, tôi cũng nghe bạn bè nói lại, ông Tư Ánh đã viết một bản báo cáo dài tới…8 trang gửi Trung ương Cục (Cục R) về “hiện tượng” bài thơ của tôi. Tất nhiên là phê phán rất nặng nề. Kịp thời hưởng ứng báo cáo của ông Tư Ánh là bức “thư ngỏ” dài 8 trang đánh máy (lại số 8) của một “chiến sĩ giải phóng quân”, dĩ nhiên là thư nặc danh. Về mặt “lập trường” thì có lẽ bức thư ngỏ này còn đáng bậc…ông nội so với báo cáo của ông Tư Ánh! Sau giải phóng rất lâu, một lần ngồi uống rượu với nhà văn Thái Vượng ở nhà dịch giả Nguyễn Trung Đức, anh Vượng đã kể tôi nghe “vụ án thơ” của tôi hồi ấy, và nói đích danh ông bạn “chiến sĩ giải phóng quân” viết thư tố cáo kia là ai. Nhà văn Thái Vượng khi đó là cây bút trẻ của Văn nghệ quân Giải phóng, ở cùng với ông “chiến sĩ giải phóng quân” kia, về sau là một nhà thơ khá nổi tiếng. Và tôi quen… May cho tôi, khi vụ “án thơ” xảy ra, tôi vẫn đang ở Tuyên truyền Binh vận, vẫn hàng ngày viết các bài báo về binh vận cho cả hai Đài: Giải phóng và Tiếng nói Việt Nam.Thơ không tới được khu vực này, nên cả thư tố cáo về thơ cũng không tới được. Còn nhớ, khi hay tin bên Văn nghệ R bị buộc phải xé bỏ bài thơ “Một người lính nói về thế hệ mình” khỏi tờ tạp chí Văn nghệ Giải phóng (tình cờ mà bài thơ của tôi in tròn 4 trang-gọn trong hai tờ giấy-nên xé bỏ rất dễ), nhà văn Lưu Kiểng Xuân mặt rất nghiêm trọng, đã nói với tôi: “ Rồi lịch sử sẽ viết: vào ngày đó tháng đó năm đó, ông Trần Bạch Đằng đã xé thơ ông Thanh Thảo. Tôi, Lưu Kiểng Xuân, làm chứng điều đó”. Tôi nghe Tư Xuân nói, vừa cảm động, vừa buồn cười: “Gì mà ghê thế! Ông Tư Ánh xé thì thơ tôi vẫn còn đó, tôi vẫn nhớ, chép lại được, có sao đâu!”. Nói vậy để tự trấn an, chứ tôi cũng cảm thấy rất buồn. Và lo ngại nữa. Thực lòng, tôi không biết đã viết sai cái gì trong bài thơ mà mình dồn tất cả tâm huyết, tình yêu và sự trải nghiệm vào đó? Một thời gian sau, ông Bảy Dự, phụ trách Ban binh vận R, cho mời tôi lên gặp. Tại ngôi nhà làm việc của ông Bảy Dự trong rừng, tôi đã nghe một nhà cách mạng và nhà lãnh đạo chuyên nghiệp (sau giải phóng ông Bảy Dự là Phó bí thư thường trực Thành ủy TP Hồ Chí Minh), nhưng không rành về thơ, giảng giải cho tôi về từng đoạn thơ của tôi, rải rác trong một số bài thơ. Ông đã ghi chép rất cẩn thận (không biết ông lấy từ đâu) và đọc cho tôi nghe, sau đó…bình. Và phê phán. Tôi rất ngạc nhiên, không ngờ thơ mình lại bị hiểu như thế. Tôi vốn không sợ, không ngại gì các bậc lãnh đạo, nhưng tranh cãi chuyện thơ với một người không hiểu về thơ, dù người đó là lãnh đạo, thì thật khó. Tôi biết ông Bảy Dự là người tốt, ông Bảy cũng quí khả năng làm việc và tính cách “ăn chịu” với chiến trường của tôi, nhưng phải tranh luận với nhau về...thơ thì khổ quá. Khổ cho ông, mà cũng khổ cho tôi. Thôi đành ngồi im nghe ông nói. Cũng may là sau đó, ông Bảy Dự chuyển qua đề tài khác, nên tôi và ông có thể nói chuyện với nhau thoải mái hơn. Tôi hiểu, ông Bảy rất không muốn làm lớn chuyện này, mà bản thân ông cũng thấy nó chẳng có “vấn đề” gì to tát. Nhưng, chắc chắn là ông đã bị tác động của ông Tư Ánh. Đây là lúc tình hình chiến sự đang rất phức tạp, và các nhà lãnh đạo không muốn những người trong hàng ngũ mình bị phân tâm. Bài thơ của tôi, thực chất là bài thơ chấp nhận cuộc chiến, chấp nhận hy sinh, chứ không hề là bài thơ phản chiến như có một số người cố tình hiểu sai. Nhưng nó chấp nhận cuộc chiến trong thực trạng, chứ không chấp nhận theo kiểu tuyên truyền. Mà lúc bấy giờ thì văn học cách mạng tràn ngập các tác phẩm tuyên truyền, nên có tác phẩm nào “hơi khác” một chút là người ta nhận ra ngay. Không phải tôi cố ý làm khác, mà vì tôi không thể viết khác những gì tôi đã thấy và đã trải nghiệm.
 
 MỘT NGƯỜI LÍNH NÓI VỀ THẾ HỆ MÌNH
 
ngày chúng tôi đi
                               các toa tàu mở toang cửa
không có gì phải che dấu nữa
những thằng lính trẻ măng
                                             tinh nghịch ló đầu qua cửa sổ
những thằng lính trẻ măng
                                             quân phục xùng xình
chen bám ở bậc toa như chồi như nụ
con tàu nổi hiệu còi rung hết cỡ
và dài muốn đứt hơi
hệt tiếng gã con trai ồm ồm mới vỡ
 
thế hệ chúng tôi
hiệu còi ấy là một lời tuyên bố
 
                                          x
                                    x           x
 
 
một thế hệ mỗi ngày đều đụng trận
mà trách nhiệm nặng hơn nòng cối 82
vẫn thường vác trên vai
một thế hệ thức nhiều hơn ngủ
xoay trần đào công sự
xoay trần trong ý nghĩ
đi con đường người trước đã đi
bằng rất nhiều lối mới
 
 
 
những cái tên trên cây rừng khắc vội
những chữ N chữ T vạch ở các bình tông
ba lô đựng một bộ áo quần
vài gói mắm cùng nắm cơm nho nhỏ
bếp dã chiến cháy dọc bờ suối đá
treo tòn ten mấy ống cóng canh chua
nấu lá giang và mắm ruốc
 
tất cả những gì chúng tôi có được
đều trải cho nhau
                              trải ra đất
                                               thật tình
với quân thù-chi đến tối đa
với bè bạn-phải chơi hết mình
 
nếu chỉ nhìn da chúng tôi đen hơn
nhìn cái vóc dạn dày trước tuổi
đếm vết chai trên bàn tay, chưa đủ
cũng chưa đủ nếu chỉ tính cuộc đời bằng những chiến công
 
 
                                                x
                                           x         x
 
ôi trảng dầu những chiếc lá khô cong
mỗi bước dưới chân rì rầm tiếng nói
đêm hành quân qua nhiều đống lửa
bùng tự nhiên ngay giữa lối mòn
 
thế hệ chúng tôi bùng ngọn lửa chính mình
soi sáng đường đi tới
 
có những đêm mưa quất bốn bề
giữa Tháp Mười không mái lá nương che
nước đã giật phải đẩy xuồng băng trấp
lúc ấy chân trời là lưng người đi trước
vụt lóe lên qua ánh chớp màn mưa
 
thế hệ chúng tôi trắng từng đêm lội nước
sình bết từ chân bết đến đầu
 
nên giọng nói có nhiều khi ngang dọc
nên cái nhìn có lắm phen gai góc
vì ngọn lửa chịu sình là lửa thực
đã bùng lên
                     dám cháy tận sức mình
 
 
                                             x
                                      x              x
 
 
nhủ điều chi ơi tiếng quốc đêm sương
kêu da diết suốt một mùa nước nổi
bông điên điển mở cánh vàng nóng hổi
là nắng chiều đẫm lại giữa lòng tay
 
đất nước ngấm vào ta, đơn sơ
như Tháp Mười không điểm trang
                                                         đầy im lặng
trên tất cả tình yêu
                                 tình yêu này đi thẳng
đến mỗi đời ta
                         bất chấp những ngôn từ
 
 
                                                 x
                                         x             x
 
 
tôi gặp thằng bạn thân trong một chuyến bất ngờ
đêm Mỹ Long hai đứa nằm lộ đất
trải dưới trời một tấm ni-lông
 
nơi khi chiều B52 bừa ba đợt
nơi mấy năm rồi hố bom không đếm hết
nơi tôi chợt thốt niềm mơ giản dị của mình
 
“chừng nào thật hoà bình
ra lộ Bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích”
 
thằng bạn tôi đăm đăm
nhìn một ngôi sao mọc trong hố bom nhòe nước
đôi mắt nó lạ lùng mà tôi thấy được
chứa đầy một hố bom và một ngôi sao….
 
 
                                              x
                                      x              x
 
 
cơn lốc xoáy trên nóc rừng nguyên thủy
tiếng gió hú dài trong những bộng cây
đàn dơi chấp chới bay
trảng tranh hừng hực nắng
 
chúng tôi qua cái khắc nghiệt mùa khô
qua mùa mưa mùa mưa dai dẳng
võng mắc cột tràm đêm ướt sũng
xuồng vượt sông dưới pháo sáng nhạt nhòa
đôi lúc ngẩn người một ráng đỏ chiều xa
quên đời mình thêm tuổi
chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi
mà không hề rợp bóng xuống tương lai
 
                                                   x
                                            x             x
 
 
những trận đánh ập về đầy trí nhớ
pháo chụp nổ ngang trời từng bựng khói
nhịp tim dập dồn lần xuất kích đầu tiên
bình tông cạn khô trên nóc hầm nồng khét
những vỏ đồ hộp lăn lóc
cái im lặng ù tai giữa hai đợt bom
một tiếng gà bất chợt
bên bờ kênh hoang tàn
 
thế hệ chúng tôi không sống bằng kỷ niệm
không dựa dẫm những hào quang có sẵn
lòng vô tư như gió chướng trong lành
như sắc trời ngày nắng tự nhiên xanh
 
 
                                                x
                                       x                x
 
 
đoàn xuồng chuyển quân bơi rậm kênh Bằng Lăng
buổi chiều pháo bắn
những cây bình bát gục ngã
hoàng hôn đôi bờ như máu chảy
trắng dòng kênh xác xăng đặc lều bều
 
tôi bỗng thấy mặt mình trên mặt nước
mặt nước trôi những dề xăng đặc
mặt nước trôi những trái bình bát
mặt nước trôi quê hương không còn nguyên vẹn
 
 
và tôi thấy
trôi qua mặt mình bao nhiêu gương mặt
những bạn bè quen những bạn bè chưa gặp
trẻ măng
loang loáng theo con nước
tủa về những đồng sâu
                                        hun hút buổi chiều
 
đó là những người qua trước
không phải trước hai mươi năm
đó là những người qua sau
không phải sau hai mươi năm
 
mà vào buổi chiều ấy
trên những dòng kênh ấy
pháo bắn và nước chảy
thế hệ chúng tôi-
                             nhìn rất rõ-
                                                mặt mình
 
                                                                              1973
 
Mãi sau này, khi bài thơ đã in bình thường ở Việt Nam trong các tuyển tập thơ, rồi được dịch ra tiếng Anh và xuất bản tại Mỹ trong một tuyển tập thơ Việt Nam, thì “nó” mới có thể sống đời sống bình thường của một bài thơ. Đây là bài thơ của một người lính chống Mỹ, nhưng khi in ở Mỹ lại được người Mỹ, trong đó có những cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam…khen. Tôi nghĩ, có lẽ họ khen vì đọc thấy nó rất thật, nó không tuyên truyền, cũng chẳng “lobby” cho ai. Nó chỉ nói lên thân phận của người lính Việt cùng những khát khao quá đỗi bình thường của họ trong chiến tranh.
Có một đoạn trong bài thơ ấy:
 
“tôi gặp thằng bạn thân trong một chuyến bất ngờ
đêm Mỹ Long hai đứa nằm lộ đất
trải dưới trời một tấm ni-lông
 
nơi khi chiều B52 bừa ba đợt
nơi mấy năm rồi hố bom không đếm hết
nơi tôi chợt thốt niềm mơ giản dị của mình
 
“chừng nào thật hoà bình
ra lộ Bốn trải ni-lông nằm một đêm cho thoả thích”
 
thằng bạn tôi đăm đăm
nhìn một ngôi sao mọc trong hố bom nhòe nước
đôi mắt nó lạ lùng mà tôi thấy được
chứa đầy một hố bom và một ngôi sao….”
 
Đó là đoạn thơ viết về chuyện tôi và anh bạn Phạm Quang Nghị phải chịu nhịn đói đúng 3 ngày trên lộ đất Mỹ Long, Đồng Tháp Mười (còn gọi là “lộ đất Trần Lệ Xuân”), dù chúng tôi ở hai đội công tác khác nhau, nhưng cùng xuống Mỹ Tho qua ngả Đồng Tháp. Năm 1985, khi đi Liên Xô trong đoàn nhà văn Việt Nam dự “Những ngày văn hóa Việt Nam tại Liên Xô”, tôi đã gặp lại Phạm Quang Nghị (bây giờ là Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội) lúc đó đang làm luận án phó tiến sĩ ở Trường Đảng cao cấp Liên Xô. Nghe tin tôi sang Matxcơva, Nghị đã khoác một túi bia Tiệp (hồi đó bia Tiệp ở Liên Xô đã khá hiếm, nhưng căng tin Trường Đảng được bán bia này) tới khách sạn tôi đang ở. Hai anh em lai rai, chuyện nổ như pháo. Toàn chuyện cũ ở chiến trường. Trong đó dĩ nhiên có kỷ niệm ba ngày nhịn đói trên lộ đất Mỹ Long. Cứ như trong mơ. Hồi ấy đói thật. Đói vàng mắt luôn. Nhưng khao khát. Nào có ai cấm chúng tôi khao khát. Nếu không lang thang qua chiến tranh, làm sao chúng tôi có dịp ngồi với nhau ở Matxcơva uống bia Tiệp, và lâng lâng như thế chứ!

Nghĩ tới đó, tôi không còn bất cứ trách móc gì chuyện ông Trần Bạch Đằng đã “đánh” bài thơ của tôi. Dù bây giờ nghĩ lại, vẫn không thể hiểu được. Tại sao, chỉ ao ước trải ni-lông trên lộ Bốn “nằm một đêm cho thỏa thích”  mà cũng mắc lỗi nhỉ? Cùng lắm, với bây giờ là mắc lỗi an toàn giao thông thôi. Việc ấy anh Đinh La Thăng giải quyết xong ngay. Tôi vốn là người bản chất lạc quan, nhưng những chuyện xảy ra với bài thơ của mình đã khiến tôi không thể lạc quan nổi. Tôi đã sống và viết một cách trong sáng, nhưng người ta không tin tôi, và nhìn tôi với con mắt nghi kỵ, dù chính họ cũng không hiểu nghi ngờ tôi về cái gì.  Và trong một lúc quá buồn chán bực bõ, tôi đã định…tuyệt thực. Ngay ở cơ quan B6-Tuyên truyền Binh vận. Dĩ nhiên, tôi không nói quyết định hơi trẻ con này với ai, trừ với anh Năm Chiêu-bí thư chi bộ. Là bí thư chi bộ, nhưng anh Năm Chiêu chơi với tôi khá thân thiết, và tính anh rất tốt. Những chuyện như thế, mình không tâm sự với anh Năm, thì với ai? Nghe tôi nói quyết định hơi…kỳ quặc của mình, anh Năm Chiêu thành thật khuyên tôi:  “Tôi nói thiệt với “ông” (anh Năm hay kêu tôi bằng “ông”, chắc theo kiểu “ông con”, như nhà văn Nguyễn Đình Thi vẫn gọi ông…con giời Nguyễn Đình Chính-con trai ông-là “ông con”), bây giờ nếu ông tuyệt thực, người ta có thể để ông…nhịn luôn, mà chả một ai biết chuyện ông tuyệt thực cả. Ở rừng mà! Đừng như thế. Mình còn nhiều cách khác”. Nghe anh Năm nói, tôi tỉnh ra ngay. Thôi, cứ coi đây là một ý nghĩ trẻ con của tôi. Dĩ nhiên, không phải mình tuyệt thực để ai cũng biết, để được nổi tiếng. Nhưng, nếu không ai biết cả, hoặc ai cũng biết mà giả vờ như không biết, thì mình tuyệt thực làm gì? Cho tới bây giờ, tôi vẫn hết sức kính trọng người bí thư chi bộ Năm Chiêu. Anh Năm là dân “hai mùa kháng chiến”, khi tập kết ra Bắc anh công tác tại Ủy ban kế hoạch nhà nước. Do xung phong đi chiến trường, anh được sung vào hàng ngũ làm công tác “binh vận”. Do có chữ nghĩa, anh lại được đưa về B6-Tuyên truyền Binh vận để làm biên tập viên, hưởng phụ cấp cán bộ sơ cấp-nghĩa là khá nhỏ nhoi. Nhưng tôi nghĩ, Đảng nên tự hào vì có những đảng viên, những cán bộ “sơ cấp” bình dị như anh Năm Chiêu. Trong Đảng, có không ít những người rất con người, rất nhân hậu như thế. Đó chính là lý do cho tới bây giờ Đảng vẫn còn tồn tại. Nếu không, Đảng đã “đi” lâu rồi...

Sau vụ “án thơ”, rất nhiều tin đồn bậy bạ về tôi, không hiểu bằng cách nào mà lan truyền ra tận Hà Nội, trong đó có cả tin tôi đi chiêu hồi(!). Đó là những tin đồn rất độc ác, nếu nó đến tai thầy má tôi, các cụ sẽ sống như thế nào? Ngay ở hai Đài tại Hà Nội, người ta cũng có vẻ ngại khi dùng bài của tôi. Cảm thấy không ổn nếu cứ gửi các bài viết với tên Thanh Thảo, tôi đã lấy lại bút danh từ hồi còn học đại học là Thanh Nam để khỏi gây vướng mắc cho những nơi sử dụng bài vở của mình. Tôi đã làm đúng. Bài viết của tôi dưới tên “mới” đã tiếp tục được phát trên cả hai Đài một cách bình thường. Thậm chí trong thời gian “thọ nạn” ấy, tôi còn viết nhiều hơn, bài vở chất lượng hơn...Và ngay thời gian đó, tôi bắt đầu viết vài chương thơ chuẩn bị cho một trường ca sẽ được hoàn thành sau giải phóng với tên “Những người đi tới biển”. Đó là tất cả những gì tôi có thể trả lời, một cách lặng lẽ, đối với những kẻ vu cáo và những thông tin ác ý về mình.

Nhưng, khi gặp nạn, lại gặp bạn. Bạn hiền, bạn tốt. Đời tôi luôn quí bạn, quí tình bạn. Trong khoản này, tôi đã được. Được bạn. Còn nhớ, trong lúc tôi buồn bã nhất bên sông Vàm Cỏ Đông, thì nhà thơ Chim Trắng đi bộ ngót một ngày trời đến với tôi. Trước đó, tôi chỉ biết tên và đọc thơ chứ chưa gặp và quen anh Chim Trắng. Dĩ nhiên, anh Ba (gọi theo thứ) càng chưa một lần gặp tôi. Vậy mà anh Ba Chim Trắng đi bộ cả ngày từ “cứ” Văn nghệ sang thăm tôi. Chỉ để anh em ăn với nhau một chén canh rau tàu bay, mắc võng nằm bên nhau chuyện trò suốt đêm. Suốt đêm ấy, chúng tôi nói chuyện về thơ, nói về người lãnh đạo đã “đánh” bài thơ tôi. Anh Chim Trắng là người ngay thẳng, và không biết sợ. Tôi để ý, khi nhận xét về ông Trần Bạch Đằng, anh Chim Trắng phê ông này thẳng thừng, không tỏ gì ngán ngại cả... Có thể vì anh Chim Trắng là một người hoạt động cách mạng đã từng vào tù ra khám, nhưng cái đó chỉ một phần, vì tôi thấy khối người cũng từng hoạt động, từng ở tù nhưng vẫn…sợ cấp trên ghê lắm. Anh Chim Trắng thì không. Đó là tính cách của anh, nhân cách của anh, chứ không chỉ vì anh đã từng trải.

Tôi bảo đảm, các nhà thơ trẻ bây giờ không thể nào có được cảm giác kỳ lạ đó, khi hai nhà thơ chưa từng gặp nhau lại mắc võng nằm bên nhau trắng đêm trong rừng, chỉ để nói chuyện thơ. Với chúng tôi hồi ấy, thơ thiêng liêng lắm. Sáng hôm sau, tôi với anh Ba lại ăn với nhau mỗi người một chén cơm rang, rồi tôi tiễn anh lên đường. Lại đi bộ một ngày trời về “cứ” Văn nghệ. Tôi nhớ hình ảnh nhà thơ Chim Trắng với dáng đi hơi chúi về phía trước, mất hút trong khoảng rừng già bên sông Vàm Cỏ. Chúng tôi đã trợ giúp cho nhau để cùng trụ lại trong những tháng năm khốc liệt cuối cùng. Chúng tôi đã biết vì nhau, và đó là điều đáng kể nhất…
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}