Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Địa phương:

 

Núi Chung và thánh Nam Đàn

Trần Minh Siêu | Thứ Hai, 07/10/2013 08:14 GMT +7
Giữa thung lũng Nam Đàn nổi lên một ngọn đồi độc lập có tên gọi là núi Chung. Núi Chung cao gần 50 m, đứng ở vị trí trung tâm xã. Cả bảy làng của xã Kim Liên: làng Sen (Kim Liên), làng Chùa (Hoàng Trù), làng Sày (Mậu Tài), làng Gáo (Nguyệt Quả), làng Trại (Tính Lý), làng Đình (Ngọc Đình), kẻ Móng (Vân Hội) đều ở quanh núi Chung. Núi Chung có hình chữ Vương, là cảnh quan tiêu biểu của quê hương Bác Hồ.

 

JPEG - 6.3 kb

Giữa thung lũng Nam Đàn nổi lên một ngọn đồi độc lập có tên gọi là núi Chung. Núi Chung cao gần 50 m, đứng ở vị trí trung tâm xã. Cả bảy làng của xã Kim Liên: làng Sen (Kim Liên), làng Chùa (Hoàng Trù), làng Sày (Mậu Tài), làng Gáo (Nguyệt Quả), làng Trại (Tính Lý), làng Đình (Ngọc Đình), kẻ Móng (Vân Hội) đều ở quanh núi Chung. Núi Chung có hình chữ Vương, là cảnh quan tiêu biểu của quê hương Bác Hồ.

Hoàng Giáp Bùi Dương Lịch (1757 – 1828) là một danh sĩ, làm Đốc học Nghệ An trong thời gian 1805 – 1808, tác giả của tác phẩm “Nghệ An ký” nổi tiếng. Về ngọn núi này, ông đã viết: “Núi Chung ở xã Chung Cự, huyện Nam Đàn, mạch núi từ Hùng Lĩnh phía Đông chạy xuống đồng bằng xế sang phía Bắc, đột nổi lên. Dân cư ở rải rác, trong đó đồng ruộng, khe suối gần xa che chở, soi rọi. Những lúc nhàn rỗi dạo núi khiến cho tâm hồn thanh thản”.

Núi Chung không cao lắm, nhưng đứng trên đó ta có thể thấy cả một vùng rộng lớn xung quanh.

Phía Tây có dãy Hùng Sơn (Rú Đụn), từ xưa đã liệt vào hàng “danh sơn mấy khói tụ” (Nghệ An ký), ở đó có thành Vạn An, đền thờ Mai Hắc đế và khu mộ, nơi lưu giữ hài cốt người đứng đầu phong trào quật khởi chống quân xâm lược nhà Đường năm 713 – 723. Phía Tây Nam có dãy Thiên Nhận trùng trùng, điệp điệp như “đàn ngựa ruổi theo” (Nghệ An ký). Ở đó có thành Lục Niên, đại bản doanh của Lê Lợi trong sự nghiệp đánh đuổi quân Minh, giải phóng đất nước và Sùng Chính thư viện dưới thời Quang Trung, do La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp đứng đầu. Phía Đông Nam là dãy Lam Thành, với ba ngọn Triều Khẩu, Phượng Hoàng, Nghĩa Liệt đứng kề ngã ba Tam Chế của sông Lam, một thời đã làm chỗ đứng chân cho lỵ sở Hoan Châu. Ở đây có Lam Thành, nơi có kỳ tích “ăn cỗ đầu người” của Nguyễn Biểu, một danh thần thời Trần Trùng Quang khi ông giáp mặt đối đầu với tướng giặc Minh là Trương Phụ. Phía Bắc có núi Đại Huệ, thế núi nguy nga đẹp như tranh vẽ. Ở đây có thành quách của Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương trong công cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, chống ngọn sóng xâm lăng của phong kiến phương bắc.

Phía dưới Đại Huệ là dãy Đại Hải và Độc Lôi giăng giăng như bước trường thành chống chọi với phong ba biển cả. Theo huyền thoại được lưu truyền ở địa phương, ở đây có một huyệt đất tốt phát Hoàng đế với cảo địa lý: “dĩ Lam Thành vi kỳ, dĩ Chung sơn vi cổ, dĩ Thai sơn vi kiếm, dĩ Hồng Lĩnh vi vạn mã thiên binh, phát tại Nam phương, tiền vương, hậu đế”. (Nghĩa là: lấy núi Lam Thành làm cờ, lấy núi Chung làm trống, lấy núi Thai làm kiếm, lấy Hồng Lĩnh làm binh hùng tướng mạnh, phát tại phương Nam, trước xưng Vương sau làm Hoàng đế). Nơi đó đã để mộ tổ của Quang Trung – Nguyễn Huệ, người anh hùng áo vải. Trong cuộc hành quân cấp tốc từ kinh đô Phú Xuân tới đất Nghệ An, ông đã dừng lại ở Phù Thạch và chỉ trong mấy ngày đã lấy thêm được năm vạn quân làm cánh trung quân, rồi hành quân thần tốc ra Thăng Long giữa tết Kỷ Dậu (1789), đánh tan 29 vạn quân Thanh.

Khi đại thắng trở về, Quang Trung lại chọn thế đất và lòng người xứ Nghệ để xây dựng đế đô tức Phượng Hoàng Trung đô dưới chân núi Dũng Quyết thuộc thành phố Vinh.

Bên dòng sông Lam, cách Kim Liên 4 km về phía Tây, là làng Đan Nhiệm, quê hương của nhà chí sĩ Phan Bội Châu, người đã giương cao lá cờ chống thực dân Pháp trong hai mươi năm đầu thế kỷ XX.

Đứng trên núi Chung, phóng tầm mắt ra xa, ta còn thấy được làng Thông Lạng, quê hương của Lê Hồng Phong, làng Xuân Nha, quê hương của Phạm Hồng Thái, làng Tùng Ảnh, quê hương của Trần Phú, làng Đông Thái, quê hương của Phan Đình Phùng, thành phố Vinh, nơi sinh của Nguyễn Thị Minh Khai và dưới chân núi Hồng Lĩnh là quê hương của nhà thơ, nhà kinh tế, nhà quân sự Nguyễn Công Trứ và đại thi hào Nguyễn Du.

Cảnh quan, đất nước núi sông quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn chặt với lịch sử nước nhà trong tất cả các thời đại.

Núi Chung có 3 đỉnh chính. Nhân dân ở đây quen gọi đỉnh núi là động. Đỉnh thứ nhất ở về phía đông, gần làng Vân Hội (Kẻ Móng) gọi là động Móng. Đỉnh thứ 2 cao nhất gần 50 m ở phía sau làng Tính Lý gọi là động Bò. Nơi đây có tọa (miếu nhỏ) thờ ông thần Bò. Nhân dân làng Tính Lý kỵ húy chữ “Bò” nên gọi con bò là con me. Về phía Tây Bắc, dưới chân động Bò có lăng Tả tướng quân Lê Giác (còn có tên là Lê Dốc), một vị tướng cuối thời Lê, có bãi luyện quân của Tú tài Vương Thúc Mậu và là nơi thuở thiếu thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường lên chơi trò kéo eo và tập đánh trận giả.

Tiếp đến đỉnh thứ 3 có tên là động Đền. Đây là nơi tập trung đền, chùa lớn và nhà thánh của tổng Lâm Thịnh. Tại khu văn hóa tâm linh này có nhà cửa, đền đài tráng lệ, nguy nga, quanh năm có thông reo, chim hót tạo thành vẻ u tịch, thiêng liêng.

La sơn Phu tử Nguyễn Thiếp (1723 – 1804) khi từ núi Bùi Phong (thuộc dãy Thiên Nhận) sang đất Kim Liên, cảm khái trước vẻ đẹp hữu tình và phong thủy của núi Chung đã để lại câu thơ nổi tiếng:

Chung sơn tam đỉnh hình vương tự 
Kế thế anh hùng vượng tử tôn 

(Nghĩa là: Núi Chung ba đỉnh hình chữ Vương 
Con cháu đời nối đời thịnh vượng)

Thời xưa, núi Chung là một khu rừng cây tươi tốt, um tùm, có cây cổ thụ có hoa bốn mùa, có nhiều chim làm tổ, nhảy hót líu lo. Dưới chân núi Chung, về phía Bắc có một hồ nước lớn tên gọi là bàu Cửa, tên chữ là Cự Thủy. Bàu Cự Thủy có trữ lượng nước lớn, trong xanh, có nhiều tôm, cá bơi lội tung tăng. Núi Chung, hồ Cự Thủy là cảnh quan tiêu biểu, là niềm tự hào của xã Kim Liên. Do đó các bậc tiền nhân đã lấy núi Chung, tượng trưng cho đất, bàu Cự Thủy tượng trưng cho nước để đặt tên cho quê hương mình là Chung Cự.

Trên núi Chung có chùa Đạt và đền Thánh Cả là cảnh đẹp văn hóa tâm linh, được người dân ở đây tự hào nói lên bằng những câu ca:

Nhất vui là cảnh quê mình, 
Kim Liên sen tốt, Ngọc Đình chuông kêu

Hoặc:

Nhất vui là cảnh chợ Cầu 
Trong đền Thánh Cả, ngoài lầu gác chuông 

Chùa Đạt tên chữ là Bảo Quang Tự, tọa lạc trên đỉnh núi thứ ba của núi Chung. Theo văn bia dựng tại sân chùa và gia phả họ Hoàng Nghĩa ở làng Dương Xá, xã Hưng Lĩnh, huyện Hưng Nguyên thì chùa Đạt lúc đầu chỉ là một ngôi chùa nhỏ, lợp tranh, đến đời vua Lê Kính Tông (1600 – 1619), có Định Quận công Hoàng Nghĩa Phúc (1598 – 1653) được làm Trấn thủ Nghệ An trong thời gian từ năm 1600 – 1620, nhận thấy dòng họ Hoàng Nghĩa làm ăn phát đạt, con cháu hiển vinh, nhiều người làm quan to, tướng tài là nhờ đức Phật tổ ở chùa Đạt phù trợ nên đã đầu tư nhiều tiền của để nâng cấp, mở rộng chùa, trùng tu nhà cũ, xây thêm nhà tiền, nhà hậu, tạc thêm tượng, dựng bia, làm gác chuông cao đẹp và đúc chuông to, trồng thêm 150 cây cổ thụ xung quanh chùa, làm cho cảnh quan thêm phần trang nghiêm, cổ kính.

Đến cuối triều Tây Sơn và đầu triều Nguyễn, chuông chùa Đạt bị sung công để đúc vũ khí. Sau đến triều Tự Đức (1848 – 1883) có bà Trần Thị Loan, người làng Ngọc Đình, con gái Khuông Đức hầu Trần Văn Khuông, là vợ quan Hiệp trấn tỉnh Bắc Ninh. Sau khi chồng chết, bà trở về quê hương, xuất tiền của trùng tu lại chùa Đạt, đúc một chuông khác nặng 180 cân (đơn vị đo lường hồi ấy), bà còn còn xuất 400 hộc lúa để cứu giúp người nghèo trong làng và xây dựng cầu Bủa bắc qua dòng kênh chảy từ bàu Ui xuôi theo mé nam núi Chung để nhân dân tiện đi sang các xã phía Nam làng Kim Liên, Ngọc Đình.

Cũng ở trên đỉnh núi thứ ba của núi Chung, tọa lạc gần chùa Đạt có đền Thánh Cả, thờ Xuân Lâm tướng quân Nguyễn Đắc Đài. Theo sự tích ghi trong gia phả họ Nguyễn hiện còn lưu giữ ở làng Ngọc Đình thì tổ tiên của Nguyễn Đắc Đài tên là Hùng, nguyên quán ở làng Đống Thượng, sau thuộc xã Trung Mưu, tổng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, dời lên ở làng Ngọc Đình, huyện Nam Đàn. Ông Hùng sinh được hai con trai, người con trai thứ 2 di cư sang làng Mậu Tài. Người con cả tên là Khổng ở lại Ngọc Đình sinh con trai là Khám. Ông Khám lại sinh được 3 trai. Ông Nguyễn Đắc Đài là con trai thứ 2.

Dưới thời nhà Trần, nước ta bị giặc Bồn Man quấy phá. Vua xuống chiếu chiêu tập anh tài ra giúp nước. Nguyễn Đắc Đài hăng hái phụng chiếu tới kinh đô Thăng Long bái mạng, được nhà vua sung vào quân ngũ. Một thời gian sau được phong là Hoa Lâm tướng quân, sau đổi là Xuân Lâm tướng quân. Ông ra chiến trường dẹp giặc Bồn Man, lập được nhiều chiến công xuất sắc, được nhiều lần khen thưởng và được xếp là một trong 10 kiện tướng của đất nước hồi ấy. Một thời gian sau lại có giặc ở phía Tây Bắc quấy nhiễu, ông phụng mệnh đem quân đi đánh dẹp, giặc thua, nhưng không may ông bị trọng thương nên trên đường tế ngựa về quê, qua làng Hoàng Trù, ông để rơi mấy giọt máu. Về đến làng Ngọc Đình thì ông tịch. Hôm đó là ngày 18 tháng 8 âm lịch. Ngày nay ở phía Đông, trước đền Thánh Cả có một khu đất rộng chừng một sào Trung bộ rất bằng phẳng, tương truyền mộ Ngài được táng bằng ở đó.

Cũng theo gia phả họ Nguyễn ở làng Ngọc Đình lúc đầu làng dựng một ngôi đền nhỏ để thờ Nguyễn Đắc Đài gọi là đền Thánh Cả. Sang đến thời Lê, có một viên Thượng tướng quân đem quân đi dẹp giặc ở vùng này, khi qua đền có vào thắp hương khấn nguyện, được linh ứng, thắng trận khải hoàn ca về tới thủ đô, để nhớ ơn vị thần được thờ trong đền Thánh Cả, vị Thượng tướng quân đã tâu lên nhà Vua, được vua phong sắc thần và cho tu bổ đền được khang trang, giao cho hai xã Chung Cự và Gia Lạc hương khói, phụng thờ. Đền gồm có ba tòa thượng, trung, hạ điện, có đủ đồ tế khí gươm giáo, ngựa gỗ khá uy nghi, đẹp đẽ.

Ở làng Hoàng Trù, nơi Nguyễn Đắc Đài để rơi mấy giọt máu, dân làng cũng dựng lên một ngôi đền nhỏ để thờ ông.

Trước cách mạng tháng 8 năm 1945, hàng năm xã Chung Cự và tổng Lâm Thịnh mở lễ hội vào ngày 18 tháng 8 âm lịch để kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Đắc Đài, một người con ưu tú của quê hương. Trước khi vào đại lễ, nhân dân có tổ chức rước thần từ ngôi đền ở làng Hoàng Trù lên ngôi đền đức Thánh Cả ở làng Ngọc Đình.

Lễ hội đền Thánh Cả hàng năm được tổ chức rầm rộ, vui vẻ. Đây là dịp để tâm hồn người dân được thăng hoa hưởng thụ những giá trị văn hóa của quê hương, xứ sở.

Về phía Tây Nam đền Thánh Cả và chùa Đạt, nơi gần cầu Bủa nhân dân đã cưới một cái chợ, vì ở sát cầu Bủa nên đặt lên là chợ Cầu. Chợ Cầu tháng họp 9 phiên vào các ngày 1, 5, 9, 11, 15, 19, 21, 25 và 29 âm lịch thu hút nhân dân quanh vùng đến sinh hoạt mua bán rất huyên náo, thịnh hành.

Đến thời vua Quang Trung, đây là con đường hành quân của nhà Tây Sơn từ nam ra bắc, nên chợ Cầu được di chuyển vào vùng sát chùa Đạt và đền Thánh Cả.

Thuở xa xưa, xã Kim Liên đã là xứ sở của cây sen. Khi tiếng chim tu hú gọi hè vọng lên đó đây, là lúc sen mọc đầy ao đầm rất tươi tốt “lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng” tỏa hương thơm ngát, tô điểm cho cảnh trí thiên nhiên đượm chất hữu tình và làm dịu bớt cái nóng nực đầu hè do ánh vừng dương chiếu dọi xuống.

Trong khi tàng văn hóa dân gian hát ví phường vải trước đây có những câu nói về địa danh Kim Liên như sau:

Kim Liên có cảnh sen vàng 
Chào chàng nho sỹ, tới làng Kim Liên 
Mừng chàng bước tới Kim Liên
Bạch liên trắng bạch, hồng liên đỏ hồng

Trong thực tế chỉ có sen màu trắng (Bạch Liên) và sen màu hồng (Hồng Liên) không có sen màu vàng (Kim Liên). Nhưng nhân dân ở đây lại đặt tên chữ quê hương mình là Kim Liên có nghĩa là Sen vàng.

Có một truyền thuyết từ lâu được lưu hành ở vùng Kim Liên nói về ý nghĩa địa danh Kim Liên là Sen vàng như sau:

Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1595) có câu sấm kí đáng lưu ý:

Thủy trung tàng bảo cái 
Thử thị thánh nhân hương 
(Nghĩa là: Trong hồ nước có chứa đựng vật quý 
Đó chính là làng của ông thánh)

Trong hồ nước thấy có cái hình rất quý đó là bóng lá sen trông giống như cái lọng vàng. Kim Liên ngày trước là xứ sở của Sen. Một số địa danh còn lưu lại đến tận ngày nay như: đồng Sen cạn, đồng Sen sâu, bàu Sen, chợ Sen… Từ ý tưởng được gợi ý từ câu sấm kí nói trên, các cụ đặt tên chữ cho quê hương mình là Kim Liên, có nghĩa là Sen vàng.

Một ý nữa theo câu sấm kí nói trên của Trạng Trình thì làng Kim Liên sẽ là làng của ông thánh. Nhân dân ở đây tin tưởng trong tiến trình phát triển của quê hương mình sẽ xuất hiện một vị thánh nhân.

Cùng thời với câu thơ La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp về núi Chung và câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm vừa nêu ở trên, thì ở vùng Kim Liên và cả huyện Nam Đan còn lưu truyền một câu sấm nữa như sau: “Đụn sơn phân giới, Bò Đái thất thanh, Nam Đàn sinh thánh” (Nghĩa là núi Đụn sơn phân giới ra làm hai, khe Bò Đái mất tiếng, đất Nam Đàn sinh thánh).

Ngày 23/02/1905, Phan Bội Châu do Đặng Tử Kính và Tăng Bạt Hổ dẫn đường đã rời tổ quốc xuất dương sang Nhật Bản, gõ lên hồi chuông cứu nước mở đầu cho phong trào chống Pháp theo xu hướng mới. Tiếng chuông cứu nước của Phan Bội Châu đã đáp ứng lòng khao khát, chờ đợi của nhân dân cả nước. Với lòng yêu nước nhiệt thành, với chí căm thù giặc sâu sắc, Phan Bội Châu đã có sức cuốn hút mạnh mẽ, trở thành niềm tin mãnh liệt của nhân dân ta đấu tranh chống thực dân Pháp, giải phóng nước nhà trong những năm đầu thế kỉ 20. Có thể nói trong ý thức, trong niềm tin của nhân dân xứ Nghệ, Phan Bội Châu là một vị Thánh. Nhưng ngày 18/6/1925, trên đường từ Hàng Châu về Quảng Châu, Trung Quốc làm kỉ niệm tròn một năm ngày Phạm Hồng Thái hy sinh và chuẩn bị cải tổ Quốc dân Đảng theo sự gợi ý của Nguyễn Ái Quốc, thì Phan Bội Châu bị thực dân Pháp bắt cóc ở ga bắc Thượng Hải. Thực dân Pháp chí sĩ họ Phan, về giam lỏng tại ngôi nhà tranh ở dốc bến Ngự, Huế.

Năm 1929, giữa sự rình mò, bao vây của thực dân Pháp, Phan Bội Châu thấy cần phải tổng kết cuộc đời hoạt động của mình để làm bài học cho thế hệ mai sau bằng cuốn hồi ký “Phan Bội Châu niên biểu”. Trong đó, nhiều lần cụ trân trọng nhắc đến tên Nguyễn Ái Quốc.

Tại ngôi nhà tranh ở dốc bến Ngự Huế, có người đã hỏi cụ: “Thánh Nam Đàn là ai?” thì cụ nói ngay: “Thánh Nam Đàn là ông Nguyễn Ái Quốc”. Cụ khuyên một số thanh niên có tâm huyết với vận mệnh đất nước lúc ấy không nên theo cụ nữa mà theo ông Nguyễn Ái Quốc để hoạt động cứu nước.

Năm 1934, ông Trần Lê Hựu (người mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi bằng dượng) có ghé thăm cụ Phan trong một chiếc thuyền trên sông Hương qua câu chuyện về đất nước, Trần Lê Hựu than thở: “Thưa cụ, chúng tôi không hiểu rồi nước ta có được độc lập hay không, từ trước đến nay hễ lớp anh hùng chí sỹ nào nổi lên là bị bắt, bị tù đày, bị giết, cho đến Cụ là niềm hy vọng trong mấy chục năm nay, rồi Cụ bị bắt và giam lỏng ở đây, như thế còn mong gì nữa”. Cụ khoát tay giải thích: “Ông không nên nghĩ như vậy, đời hoạt động cách mạng của tôi rốt cuộc là một thất bại lớn. Đó là vì tôi có lòng mà bất thực tài, nhưng dân tộc ta thế nào rồi cũng độc lập. Nhất định phải thế. Hiện nay đã có lớp người khác lớn hơn lớp chúng tôi nhiều, đứng ra đảm đương công việc để làm tròn cái việc mà chúng tôi không làm xong. Ông có nghe tiếng ông Nguyễn Ái Quốc không?”. Lúc ấy Trần Lê Hựu với cái giọng buồn rầu, thương tiếc: “Các báo đã đăng tin Nguyễn Ái Quốc bị bắt và chết ở Hương Cảng cách đây mấy năm rồi”.

Cụ Phan phủ nhận cái tin đó: “Không, tôi chắc ông Nguyễn Ái Quốc vẫn còn, mà ông ấy còn thì nước ta sẽ được độc lập. Họ bắt tôi dễ, chứ họ làm sao mà bắt được ông Nguyễn Ái Quốc, mà có bắt đi nữa thì họ cũng phải thả ra thôi. Vì ông ấy giỏi, chứ có như tôi đâu, ông ấy lại có nhiều vây cánh, bạn bè khắp thế giới”.

Với cụ Phan Bội Châu thì Nguyễn Ái Quốc là niềm tin yêu hy vọng, là vị Thánh Nam Đàn, là lãnh tụ mới của dân tộc Việt Nam.

Tại một ví trí đẹp ở trên núi Chung, ngày 10/6/2012 tỉnh Nghệ An đã khởi công xây dựng đền thờ hai cụ thân sinh, anh, chị, em ruột của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần làm cho yếu tố phong thủy ở ngọn núi có thế hình chữ Vương càng kỳ thú, hữu tình, thành kính.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}