Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Phạm Văn Đồng - Một nhân cách báo chí lớn

Phan Quang | Thứ Năm, 03/10/2013 02:54 GMT +7
Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhấn mạnh trách nhiệm của mọi người giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc. Không lạm dụng từ nước ngoài, không lai căng trong cách diễn đạt, nhưng không vì vậy mà nệ cổ, ngược lại phải hết sức chú ý xu thế phát triển.

 

JPEG - 7.7 kb

Theo dự kiến, cuối tháng 9/2013 tới, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ngãi, Trung tâm nghiên cứu Bảo tồn và Phát huy Văn hóa Dân tộc VN và Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật VN sẽ phối hợp tổ chức cuộc hội thảo quan trọng “Phạm Văn Đồng và văn hóa dân tộc”. Để hưởng ứng hội thảo, VHVN sẽ đăng một số bài viết về nhà lãnh đạo rất được trí thức và văn nghệ sĩ đất nước kính yêu này. Mở đầu, xin giới thiệu bài viết của nhà báo Phan Quang, nguyên Tổng Gián đốc Đài Tiếng nói VN, Chủ tịch Hội Nhà báo VN.

Mười lăm năm trước đây, Hội nhà báo Việt Nam thiết lập "Huy chương vì sự nghiệp báo chí Việt Nam" tôn vinh các nhà báo chuyên nghiệp có thâm niên hai mươi lăm năm tuổi nghề trở lên, không phân biệt nam hay nữ. Nhằm giữ tính đặc thù của huy chương, Hội quyết định không đặc cách cho bất kỳ ai không phải là nhà báo hoặc chưa hội đủ tiêu chuẩn. Tuy nhiên tôi đề nghị trân trọng trao đặc biệt cho ba nhà lãnh đạo từng là nhà báo có đóng góp lớn. Đó là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Phạm Văn Đồng và Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh không chỉ nổi tiếng về loạt bài "Những việc cần làm ngay" viết trong thời gian đang giữ trọng trách, đăng ở báo Nhân dân có tác động lớn, mà trong kháng chiến chống Pháp, từng làm Giám đốc Đài phát thanh Nam Bộ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết báo Tiếng dân từ thời còn rất trẻ; thời kỳ Mặt trận bình dân 1936 1939, là Chủ tịch Đại hội báo chí Bắc kỳ do Đảng ta lãnh đạo, và sau này ông vẫn viết những luận văn quân sự sâu sắc.

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng ít được các thế hệ trẻ biết hơn với tư cách nhà báo, dù ông làm báo rất sớm. Giữa năm 1936, sau khi được trả lại tự do từ nhà tù Côn Đảo, ông tìm cách ra Hà Nội, tham gia hoạt động trong "Nhóm Tin tức", mà cơ quan ngôn luận công khai là báo Tin tức do đồng chí Trường Chinh phụ trách.

Dưới bút hiệu Đông Tây và nhiều tên ký khác, Phạm Văn Đồng viết trực tiếp bằng tiếng Pháp nhiều bài kịch liệt phê phán chính sách của bọn thực dân và quan lại phong kiến, đăng trên các báo Le Travail (Lao động), Notre voix (Tiếng nói của chúng tôi)... Dù các bài báo ấy không ký tên thật song chẳng có gì lọt qua mắt bọn mật thám. Cựu chính trị phạm Phạm Văn Đồng bị trục xuất khỏi Hà Nội, buộc trở về nguyên quán.

Đầu những năm 40 thế kỷ trước, Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng. Một trong những việc đầu tiên của Bác Hồ là sáng lập cơ quan ngôn luận Việt Nam độc lập xuất bản tại chiến khu, mà mục đích, tôn chỉ là: Việt Nam độc lập thổi kèn loa/ Kêu gọi dân ta trẻ với già/ Đoàn kết vững bền như khối sắt/ Để cùng nhau cứu nước Nam ta.

Một thời gian sau, Bác Hồ có việc sang Trung Quốc rồi bị kẹt lại bên ấy. Phạm Văn Đồng là người thay Bác Hồ trực tiếp phụ trách và biên tập tờ Việt Nam độc lập từ năm 1942 đến ngày Cách mạng Tháng Tám thành công. Sau 1945, vì quá bận nhiều đại sự quốc gia, Phạm Văn Đồng không có điều kiện viết báo, song những tác phẩm của ông đề cập các chủ đề lớn bao giờ cũng đầy trí tuệ, hàm súc ý tứ và trau chuốt văn chương.

Chúng ta đều biết Phạm Văn Đồng là một nhà chính trị tài ba, một nhà ngoại giao lỗi lạc, một nhà văn hoá uyên thâm, nổi tiếng không chỉ ở nước ta mà còn trên thế giới. Bởi vai trò lịch sử quá sáng chói ấy mà các thế hệ sinh sau dù ngưỡng vọng ông vẫn ít biết Phạm Văn Đồng còn là một người làm báo.

Hôm ấy, tôi cùng một số đồng nghiệp thay mặt Hội nhà báo Việt Nam đến nhà riêng trao tặng ông Huy chương vì sự nghiệp báo chí. Ngày báo chí Việt Nam 21/6 vào chính giữa hè. Mọi người đơn giản mặc sơ mi có hoặc không thắt cà vạt, có người còn mặc áo thể thao. Đến nơi, thấy vị Cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng nghiêm trang trong bộ áo vét cài kín cổ - quen gọi là đại cán - đang chờ.

Sau khi đứng thẳng người nhận tấm kỷ niệm chương và bó hoa từ tay các đồng nghiệp, ông dành toàn bộ thời gian còn lại của buổi sáng trò chuyện với anh em. Hoá ra ông đã chuẩn bị nhiều câu hỏi nêu lên để trao đổi, và đã suy nghĩ khá kỹ nhiều vấn đề để nhân dịp này, chỉ bảo thêm cho lớp đồng chí, đồng nghiệp hậu sinh.

Chúng ta biết quá ít về các tác phẩm báo chí của Phạm Văn Đồng ngày trước. Qua một số văn phẩm chọn lọc của ông, thường là những bài nói, bài viết nhân các sự kiện lớn trong đời sống văn hoá nước nhà, ông có nhiều kiến giải đúng đắn về thiên chức, tài năng, trách nhiệm xã hội cũng như tự do sáng tạo của những người viết văn, viết báo, nghệ sĩ. Ông dành nhiều tâm huyết cổ suý việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Các tác phẩm của ông không chỉ chuẩn bị công phu, tâm huyết mà còn được diễn tả một cách truyền cảm do đó đi thẳng vào lòng người.

Phạm Văn Đồng thiết tha khuyên những người cầm bút: "Các đồng chí hãy yêu nghề, say sưa với nghề, trau dồi nghề nghiệp của mình, coi đó là sự nghiệp của cả đời mình, và đem nhiệt tình để làm nên những tác phẩm có giá trị". Ông khuyên anh chị em nên nghiên cứu đường lối của Đảng, để thì giờ đọc các tác phẩm kinh điển Mác-Lê Nin.

Ông là người hiểu biết rộng, có thể nói có kiến thức bách khoa, nhờ miệt mài đọc sách, nghiên cứu, suy ngẫm suốt đời, từ khi ở trong nhà tù, lúc đảm đương trọng trách, cho đến lúc tuổi thật cao. Đối với ông, nâng cao trình độ văn hoá (văn hoá chứ không đơn thuần học vấn) của mình là công việc của cả đời người. Tài năng là công phu. Thiên tài chẳng qua là dày công.

Ông nói thẳng: "Một số đồng chí trẻ tuổi vì ít học cho nên không biết trời cao đất rộng là thế nào..., do đó chủ quan, có khi thiếu khiêm tốn, đòi hỏi người ta nhiều, đòi hỏi mình ít, làm nên chút đỉnh là kiêu ngạo, lúc gặp khó khăn thì chán nản". Nghiên cứu, đọc sách không có nghĩa là tách mình khỏi thực tế. Ông không đồng ý nói "đi thực tế". Nói "đi vào đời sống" thì đúng hơn. "Đi" cũng không đúng nữa. Không phải "đi" mà phải "sống", ông nhấn mạnh.

Những ý kiến của Phạm Văn Đồng trình bày với người khác đều trải qua quá trình suy nghĩ, chắt lọc, thể nghiệm. Trước khi phát biểu tại hội nghị bàn về sự trong sáng của tiếng Việt, ông nói: "Tôi đã đọc toàn văn những báo cáo và tham luận trình bày mấy ngày qua, tôi cũng đã xem đề cương tóm tắt của tất cả gần 120 báo cáo".

Ông có nhiều kiến giải mang dấu ấn cá nhân. Có những vấn đề đã được đề cập trong các văn kiện của Đảng, trong lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng Phạm Văn Đồng có cách tiếp cận riêng, và đặc biệt tấm lòng của ông có sức truyền cảm. Tôi còn lưu giữ một bức thư của nhà báo Thép Mới từ chiến trường Nam Bộ gửi cho vào cuối những năm 60, giữa lúc quân Mỹ ào ạt đổ quân xâm lược miền Nam và dùng không quân tập kích Hà Nội.

Thép Mới thật sự hứng khởi sau khi nghe một bài nói của Thủ tướng Phạm Văn Đồng qua đài phát thanh. Anh viết: "... Mình nhớ mùa thu Hà Nội lạ. Trong này ít có mùa thu, chỉ có những dáng trời êm mát sau mưa. Có đi xa mới thấy Hà Nội thật là đẹp.

Cái màu trời của Hà Nội là đẹp nhất. Khi mình đang viết thư này nghe đài báo Hà Nội bão cấp 9. Cho là bão cũng vẫn đẹp đi. Cái màu tâm hồn nữa cũng gây nhớ lạ lùng.
Từ khói lửa, mình nghe bài anh Đồng nói về "cái quý nhất của con người, của xã hội là một đời sống văn hoá, tinh thần và tình cảm cao đẹp". Nói thế là đáng chết vì Hà Nội rồi. Mình đã mấy lần thấy cái chết ngay bên cạnh cho nên nhìn đời bây giờ thấy trong sáng hơn...".

Mối quan tâm và sự đóng góp của Phạm Văn Đồng đối với vấn đề gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt là to lớn và có nhiều sáng tạo. Năm 1966, giữa lúc đế quốc Mỹ leo thang đánh phá thủ đô Hà Nội, thì tại trụ sở báo Nhân dân, bên cạnh "gốc đa Hàng Trống", diễn ra cuộc gặp gỡ bàn về việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt diễn ra trong hai ngày. Thủ tướng Phạm Văn Đồng có bài phát biểu sâu sắc.

Ông khẳng định: Tiếng Việt của chúng ta rất giàu. Tiếng Việt của chúng ta rất đẹp. Giàu bởi kinh nghiệm đấu tranh của nhân dân ta lâu đời và phong phú. Đẹp bởi tâm hồn của người Việt Nam ta rất đẹp. Hai nguồn của cái giàu, cái đẹp ấy là ở chỗ tiếng Việt là tiếng nói của nhân dân, đầy tình cảm, màu sắc và âm điệu, hồn nhiên, ngộ nghĩnh và đầy ý nghĩa; đồng thời nó là ngôn ngữ của văn học mà những nhà thơ lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... và những nhà văn, nhà thơ ngày nay ở miền Bắc và miền Nam đã nâng lên đến trình độ rất cao về nghệ thuật.

Phạm Văn Đồng nhấn mạnh trách nhiệm của mọi người giữ gìn sự trong sáng của ngôn ngữ dân tộc. Không lạm dụng từ nước ngoài, không lai căng trong cách diễn đạt, nhưng không vì vậy mà nệ cổ, ngược lại phải hết sức chú ý xu thế phát triển. "Một mặt, giữ gìn bản sắc, phong cách của tiếng ta, một mặt biết dùng tiếng ta trong những thể văn khá mới".

Tôi nhớ ông nhắc đi nhắc lại mấy lần ý "phát triển". Ngay đầu đề bài nói của ông, nên viết là: "Phải làm cho tiếng Việt ta luôn trong sáng", hay là: "Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt"? Ông cân nhắc, suy nghĩ và cuối cùng chọn cách sau, cho dù nó chưa được dùng một cách phổ biến trong dân gian. "Nhưng nhất định phải dùng cách đó.

Tiếng ta phải đổi mới, đó là điều tất yếu, vì đời sống tư duy và tình cảm ngày nay, nhất là trong lĩnh vực khoa học và kỹ thuật có nhiều cái mới".

Về trách nhiệm của người cầm bút, ông nói thẳng: "... Nhà văn, nhà báo, những người đáng lẽ phải làm mẫu mực trong việc viết và nói tiếng ta, thì lại chưa phát huy được đầy đủ tác dụng đó". Một dịp khác, ông nói với các nhà văn: "Các đồng chí làm việc thế nào tôi không biết, nhưng đọc tác phẩm của các đồng chí, nói thực tôi thấy các đồng chí chưa coi trọng văn lắm...

Hiện nay, người ta viết rất ẩu và dùng nhiều chữ nước ngoài quá. Điều đó rất dở và rất bực... Bác Hồ thường phê bình: đã dốt lại hay nói chữ! Đúng quá, chính vì dốt mà hay nói chữ"!

Tôi may mắn nhiều dịp được nghe ý kiến phát biểu của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Tôi nhớ hình ảnh của nhà "chính khách trí thức" ấy (chữ của báo chí phương Tây) tay ôm chiếc cặp mỏng, bình thản bước đi qua cái sân rộng của toà báo Nhân dân, ở đó công binh đang hối hả đào và xây giúp một cái hầm bê-tông kiên cố để toà soạn có thể bám trụ tại Hà Nội suốt cuộc kháng chiến. Ông bước thẳng vào hội trường lợp mái tôn sơ sài bên gốc cây đa cổ thụ. Phát biểu xong, chuyện trò với anh em một lát, lại bình thản cắp cái cặp mỏng ấy ra cổng lên xe.

Ngày hôm sau, nhiều hãng thông tấn phương Tây đưa tin: Trong khi tại Nhà trắng, bộ tham mưu của Tổng thống Mỹ tới tấp hoàn chỉnh kế hoạch tập kích vào thủ đô Bắc Việt, thì tại Hà Nội, vị Thủ tướng Việt Nam bình tĩnh luận bàn về ngôn ngữ.

Không thể chấm hết bài viết rất không đầy đủ này về một nhà văn hoá sâu sắc, mà không đề cập một nét đặc trưng trong nhân cách Phạm Văn Đồng. Ông luôn tôn trọng và khuyến khích dấu ấn cá nhân trong văn chương, nghệ thuật, báo chí. Từ năm 1962, kết thúc bài nói với văn nghệ sĩ, trí thức tại buổi nghiên cứu Nghị quyết Trung ương, ông nhấn mạnh: "Hãy suy nghĩ lời khuyên của Gorki: Bạn hãy giữ cái gì là riêng của mình, hãy săn sóc làm sao cho nó phát triển tự do. Lúc một con người không có cái gì là riêng của mình, thì phải thấy ở người đó chẳng có gì hết".


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}