Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Phạm Văn Đồng và tinh hoa đạo lý dân tộc qua hình ảnh Hồ Chí Minh

GS Trường Lưu | Thứ Năm, 20/03/2014 02:13 GMT +7
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Phạm Văn Đồng vừa đã tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều công trình về Hồ Chí Minh, đóng góp lớn vào di sản Hồ Chí Minh và văn hoá dân tộc.

 
Nhà văn hóa lớn trong một chính khách mang tầm cỡ lớn, hay người đứng đầu Chính phủ trong suốt hơn 30 năm luôn quan tâm đến sự nghiệp văn hóa đất nước đang thời xây dựng và đặc biệt chú trọng đến chất lượng sáng tác văn học nghệ thuật của các giới văn nghệ sĩ, ở Phạm Văn Đồng chỉ là một thống nhất hữu cơ. Riêng với tư cách người cầm bút, ông đã tạo dựng được dấu ấn riêng và có nhiều đóng góp vào thể loại văn chương chính luận. Thiên nhiên đất nước qua cảnh sắc Tây bắc, Việt bắc, nét tinh tế, duyên dáng và uyển chuyển trong ngôn ngữ và ca dao dân tộc, vẻ đẹp toát ra từ nhân cách và tài năng của các danh nhân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu v.v... đều để lại cảm xúc trong tâm hồn nhậy cảm, trong trí tuệ trác việt của ông.
 
Lòng tự hào lịch sử và văn hóa dân tộc, sự ảnh hưởng ngôn ngữ và văn chương Pháp đã góp phần tạo nên phong cách chính luận Phạm Văn Đồng.
 
Ông viết và đề xuất nhiều loại vấn đề, nhưng đề tài ông tâm đắc nhất là nhân cách, phong độ và tài đức Hồ Chí Minh, bởi đây là tinh hoa đạo lý và văn hoá dân tộc được phản chiếu trong một vĩ nhân. Phạm Văn Đồng là người "có may mắn được ở gần Hồ Chí Minh trong nhiều năm, qua nhiều giai đoạn của cách mạng Việt Nam, từ lớp huấn luyện chuẩn bị thành lập Đảng ở Quảng Châu (Trung Quốc) đến những ngày cuối cùng trước khi Hồ Chí Minh qua đời". Do những điều kiện thuận lợi đó, và với tấm lòng kính yêu vô hạn đối với vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, ông là người đầu tiên có tác phẩm nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Đó là cuốn Hồ Chí Minh, hình ảnh của dân tộc(1), xuất bản năm 1947, trong kháng chiến chống Pháp ở chiến trường Nam Trung Bộ. Có thể gọi đây là tiểu luận văn hóa hay tùy bút chính trị, nhưng chính xác hơn, tác giả đã kết hợp hai thể tiểu luận và tùy bút, trên cơ sở nghiên cứu cụ thể con người, cuộc đời và sự nghiệp một vĩ nhân độc đáo, chẳng những hiếm thấy trong lịch sử dân tộc mà với cả thế giới. Mặc dầu thiếu giấy và phương tiện in ấn khó khăn, lại thêm khó khăn do sự chia cắt giữa các chiến trường, tác phẩm vẫn được in ra với khối lượng tương đối lớn, phát hành đến cả chiến trường Nam Bộ.
 
Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ đề xuất tác phẩm đầu tiên của Phạm Văn Đồng về Hồ Chủ tịch hình ảnh của dân tộc.... Vào thời điểm những năm đầu sau cách mạng Tháng Tám 1945, ai đâu có thể tường tận phong cách, phong độ, sự lịch lãm, tâm hồn, trí tuệ, bản lĩnh, tình yêu nhân dân bao la và tài trí thao lược trên nhiều phương diện của Hồ Chí Minh như Phạm Văn Đồng đã trần thuật và miêu tả trong tác phẩm đầy tâm huyết này. Lần đầu trong ngôn ngữ Việt Nam xuất hiện một danh từ lão thực, gắn với đức độ, nhân cách và sự giản dị khi tác giả nói đến Hồ Chí Minh và đặc điểm của các bậc vĩ nhân. "Vĩ nhân thật sự bao giờ cũng giản dị, lão thực. Đã cầu kỳ là thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế. Vua Nghiêu, vua Thuấn, chúa Giê-su là những người giản dị, lão thực. Ông Lê nin, ông Tôn Văn, thánh Găng-đi cũng là những người giản dị, lão thực. Bậc đại khoa học, đại văn hào cũng vậy. Trái lại, Hít-le là một kẻ gian hùng. Còn Mút-xô-li-ni chỉ là một thằng hề". Hồ Chí Minh là một cuộc đời "khắc khổ, cần lao và tranh đấu" nên cái lão thực ấy đã mang theo dáng vẻ đặc biệt của bậc siêu phàm, như vượt ra ngoài cái thông thường của đức tính "cần - kiệm - liêm - chính"; do đó vượt qua sức tưởng tượng của mọi người về một nguyên thủ quốc gia. Không phải khắc khổ theo kiểu nhà tu hành và thanh tao theo kiểu nhà hiền triết ẩn dật, mà giản dị thanh bạch theo đời sống còn khổ nghèo của nhân dân.
 
Không ít người đã ví Hồ Chí Minh như một ông tiên và cho rằng "mắt Người có hai con ngươi, và tin rằng vì chỗ đó, Người là một ông thánh"! Sinh trưởng trong một đất nước có bề dày văn minh nông nghiệp, lại lâu ngày chịu ảnh hưởng bởi những thần thoại, cổ tích, dã sử, trong dân gian có những truyền thuyết mang tính huyền bí về Hồ Chí Minh trong những năm đầu sau cách mạng Tháng Tám 1945, là điều dễ hiểu. Mặt khác phải thấy rằng, bao nhiêu chí sĩ, hào kiệt đã xả thân vì nước kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhưng rốt cuộc chỉ có Hồ Chí Minh mới là bậc anh hùng duy nhất chiến thắng được giặc ngoài thù trong, xây được nền độc lập cho Tổ quốc, thì lòng ngưỡng vọng của nhân dân càng bồi đắp thêm cho truyền thuyết. Phạm văn Đồng đã phân tích: "Mắt Hồ Chủ tịch cũng như mắt mọi người, sáng hơn mắt mọi người nhiều lắm đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn thấy những cái mọi người không nhìn thấy: hiện tại, tương lai, cái nhỏ, cái to"; do đó Hồ Chí Minh là người Việt Nam "hơn người Việt Nam nào hết".
 
Ba mươi năm sống xa Tổ quốc, giao tiếp với nhiều dòng tư tưởng, văn hóa, sống với đủ loại người trên các châu lục, Hồ Chủ tịch vẫn thuần túy giữ được cốt cách của con người Việt Nam: từ ngôn ngữ, những lời ví von đến mùi vị các món ăn, phong tục tập quán của người dân quê. Ngày Tết, Người không quên mừng tuổi cho người hàng xóm và trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu nhưng cũng "bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất". Làm thơ Người thích lối ca dao, "vì ca dao là Việt Nam, cũng như núi Trường Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy". Hình ảnh và tinh hoa một dân tộc bất khuất có hàng ngàn năm văn hiến thu nhỏ trong một con người, và con người Hồ Chí Minh với tài kinh bang tế thế hiện đại, đã thúc đẩy một dân tộc từ bị áp bức, đói nghèo và lạc hậu, từng bước sánh vai với bè bạn năm châu.
 
Do có dịp sống gần gũi Hồ Chủ tịch, Phạm Văn Đồng đã thấu hiểu mọi sinh hoạt của Người và ghi nhận nó, với tình cảm hết sức nồng nàn lẫn sự kính phục sâu xa, nên truyền vào người đọc một sự hấp dẫn, cả niềm đam mê đặc biệt. Trong thời gian ở Trung Quốc, vị Chủ tịch ấy sáng nào cũng đi bộ quanh thành phố Liễu Châu; và khi cần thiết, có thể đi bộ ngày này qua ngày khác mỗi ngày trên dưới 50km. Thường xuyên luyện tập cơ thể để có sức khỏe hoạt động cách mạng, và dù bận rộn đến đâu với công việc hàng ngày, vẫn sắp xếp thì giờ để luyện tập cơ thể, kể cả thói quen tắm sông dù tiết trời mùa Đông. Những ngày ở chiến khu Việt Bắc trước Tổng khởi nghĩa năm 1945, sáng sớm Người tập thể dục, chiều tà Người làm vườn và đi vác củi cho dân bản mường - nơi đặt căn cứ địa cách mạng. Người đặt ra ý thức nghiêm túc phòng bệnh hơn chữa bệnh, nên ít khi dùng đến thuốc và biến các bác sĩ phục vụ cho mình thành cán bộ Văn phòng hơn là thày thuốc chữa bệnh. Có những việc không tốn thời gian nhưng đòi hỏi phương pháp dưỡng sinh khoa học. Người kiên trì thực hiện đều đặn và thành nếp, như không ăn no, không ngủ trưa, bóp hòn đá trong lòng bàn tay để luyện gân tay v.v... Sinh hoạt giản dị đi đôi với tác phong giản dị, nhưng giản dị đến mức cả nguyên thủ quốc gia lẫn kiều bào đến thăm cùng ngồi xuống sàn nhà để nói chuyện - như thời gian ở Pa-ri, lúc Người là Thượng khách của Chính phủ Pháp (1946) - thì thật hiếm có trên đời. Ngoài Phạm Văn Đồng, không ai có thể biết được những chi tiết đó...
 
Đánh giá một bậc vĩ nhân, trước hết là nhìn vào sự cống hiến to lớn của người đó đối với dân tộc và nhân loại, nhưng không thể bỏ qua phong cách, đức độ gắn với sự nghiệp vĩ nhân. Cái nọ là nguyên nhân của cái kia và ngược lại; và cả hai cùng tô đậm nét cho sự nghiệp kỳ vĩ của vĩ nhân. Nếu danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi không có nếp sống thanh đạm và thanh cao của bậc hiền triết với tấm lòng thiết tha đến "dân đen", thì tư tưởng nhân nghĩa của ông chắc sẽ khác đi và khó bề trở thành chủ nghĩa nhân văn Đại Việt tiêu biểu, như chúng ta đã biết. Những vĩ nhân thực sự vĩ nhân, phong cách, đức độ vượt lên trên cái thông thường một cách tự nhiên, lại càng đối lập với cái tầm thường của những kẻ giả danh "cao cả" hòng che lấp cái danh cái lợi thấp kém. Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Chí Minh, cách nhau đến hơn năm thế kỷ, đặc điểm dân tộc và thời đại, tinh thần văn hóa và tư tưởng nhân văn đều khác nhau theo bối cảnh lịch sử, nhưng tấm lòng đại nghĩa dân tộc, tình yêu thương con người và đồng bào, đồng loại, thì vẫn xuyên suốt lịch sử. Những nét bình sinh của Hồ Chí Minh được Phạm Văn Đồng nhấn mạnh trong tác phẩm Hồ Chí Minh - hình ảnh của dân tộc, là nhằm khẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa sự nghiệp với đạo đức vĩ đại trong cuộc đời một vĩ nhân hiếm thấy xưa nay.
 
Hồ Chí Minh đã từng trả lời câu hỏi của một nhà báo sau khi chính quyền cách mạng đã về tay nhân dân: "Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quí chút nào. Bây giờ phải gánh vác chức Chủ tịch nước, là vì đồng bào đã ủy thác thì tôi phải gắng làm, cũng như một người lính vâng lệnh quốc dân ra mặt trận". Bao giờ ham muốn tột bậc của Người được thực hiện là "nước ta được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành", thì nguyện vọng của Người là "làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng rau, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì đến vòng danh lợi". Cái độc đáo trong phong cách vĩ nhân ấy đã thể hiện trong sinh hoạt những năm ở chiến khu Việt Bắc của Người, và thể hiện ở ngôi nhà sàn, ao cá và vườn cây trong Phủ Chủ tịch. Phạm Văn Đồng không những là người học trò xuất sắc mà hơn thế nữa, còn là người thân cận nhất sống liền nhà với Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cùng khuôn viên, từ sau khi Chính phủ ta tiếp quản thủ đô cho đến khi quả tim Người ngừng đập.
 
Vào thời điểm những năm sau Cách mạng Tháng Tám 1945, trong ngôn luận Việt Nam khái niệm và quan niệm văn hóa chưa thật hoàn chỉnh và sâu sắc như sau này, nhưng Phạm Văn Đồng với tầm vóc nhà văn hóa lớn, lại chịu ảnh hưởng bởi cách nhìn văn hóa của Hồ Chí Minh, thông qua tác phẩm trên đây đã góp phần quan trọng trong việc xác định mối ràng buộc khang khít giữa văn hóa và tư tưởng; rằng văn hóa và nhà văn hóa bao giờ cũng là sản phẩm của một dân tộc cụ thể, dù được tiếp nhận tinh hoa từ đâu. Cái cụ thể của vĩ nhân Hồ Chí Minh không tách rời với đặc điểm dân tộc, với lý tưởng cứu nước cứu dân mà Người dắt dẫn và mở đường cho dân tộc. Hình ảnh một dân tộc tỏa sáng trong một con người và con người ấy trong tác phẩm Phạm Văn Đồng, đã đặt một niềm tin vững chắc trong lúc cả dân tộc đang quyết chiến và quyết thắng thực dân Pháp. Từ tác phẩm này, một giải thưởng văn nghệ mang tên Phạm Văn Đồng đã ra đời trong kháng chiến chống Pháp ở Nam Trung Bộ do Chi hội Văn nghệ Liên khu V tổ chức. Sau này, tác phẩm còn được tái bản nhiều lần và in chung trong tác phẩm: Tổ quốc ta, nhân dân ta, sự nghiệp ta và người nghệ sĩ (Nhà xuất bản Văn học).
 
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Phạm Văn Đồng vừa như một bức xúc lớn, vừa ý thức trách nhiệm cao, vừa như sự thôi thúc của nhà văn hóa lớn đã tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều công trình về Hồ Chí Minh, đóng góp lớn vào di sản Hồ Chí Minh và văn hoá dân tộc./.
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}