Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Phố Lương Ngọc Quyến

Đông Tỉnh | Thứ Bảy, 29/11/2014 14:16 GMT +7
Phố Lương Ngọc Quyến nay thuộc phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, tp Hà Nội. Phố dài 334m, phía đông giáp các phố Trần Nhật Duật, Nguyễn Hữu Huân và Hàng Muối ở gần cầu Chương Dương, phía tây nối tiếp phố Hàng Giầy, đoạn giữa đi qua ngõ Phất Lộc và các phố Mã Mây, Đào Duy Từ, Tạ Hiện. Điểm dừng xe bus gần nhất là ở phố Hàng Muối (các tuyến 04, 14, 18, 31, 34, 36, 40) và Nguyễn Hữu Huân (các tuyến 04, 08, 11, 14, 18, 23, 31, 34, 36, 40).
 
 

Ngã tư Lương Ngọc Quyến - Mã Mây. Photo ©NCCong 2013
 
Lược sử
 
Thời Pháp thuộc, vào những năm cuối thế kỷ 19, khu vực này còn được gọi là Làng Chài (sau mang tên phố Chài) và vẫn có nhiều hồ, ao, đất trũng chưa lấp, phủ đầy bèo tây. Dân ở đây một phần làm nghề đánh bắt tôm cá. Một số người Hoa nghèo cũng đến ngụ cư và sinh sống bằng nhiều nghề mọn trong xóm nhà tranh lụp xụp, ngõ nhỏ quanh co.
 
Góc phố Lương Ngọc Quyến - Nguyễn Hữu Huân. Photo ©NCCong 2013
 
Khi chính quyền thực dân cho lấp hết hồ ao, vạch đường phố theo quy hoạch thì con phố mới mở có tên Galet, song dân ở đây vẫn gọi bằng tên cũ là phố Chài. Nối tiếp phố này người ta còn kéo dài thêm một đoạn ngắn ra đến bờ sông Hồng, nhờ đó đầu thế kỷ 20 mới có phố Nguyễn Khuyến.
 
Từ 1945, hai con phố này ghép lại làm một và chính thức được mang tên Lương Ngọc Quyến, một chí sĩ của Việt Nam Quốc dân đảng đã hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917.
 
Ngã ba Lương Ngọc Quyến - Đào Duy Từ. Photo ©NCCong 2013
 
Phố Lương Ngọc Quyến ở phía đông có hai đoạn. Đoạn giáp bờ sông chỉ là phụ vì rất ngắn. Đoạn chính từ ngã tư Mã Mây đến ngã tư Tạ Hiện, mới có sau khi san bằng hồ Ngư Võng, nhà cửa được xây dựng hiện đại hơn và có diện tích tương đối rộng.
 
Ngã tư Lương Ngọc Quyến - Tạ Hiện. Photo ©NCCong 2012
 
Ngày nay, đoạn cuối phố Lương Ngọc Quyến từ ngã tư Tạ Hiện đến Hàng Giày vừa là khu buôn bán và kinh doanh hoạt động du lịch, vừa tập trung nhiều hàng ăn uống của Hà Nội. Mấy năm nay, hàng ăn mọc ra nhan nhản khắp phố, nào các hàng cà phê, nào xôi trứng rán, xôi lạp sườn, xôi gà, xôi thịt kho tàu, nào bánh bao nóng, cùng phở, mỳ, cháo và rất nhiều món khác cho khách ăn tới khuya.
 
Ngã ba phố Lương Ngọc Quyến—Hàng Giầy—ngõ Nội Miếu, nơi có nhà sản xuất xì dầu nay đã thành một xóm khách sạn với nhôm kính sáng choang, Tây ba lô thích thuê ở đây vì rẻ và cũng vì dễ đi chơi trong khu phố cổ Hà Nội vào bất cứ giờ nào. Quá một chút, trên phố Hàng Giầy có quán bán bánh trôi Tàu, lục tào xá, chí ma phù của nghệ sỹ hài Phạm Bằng.
 
Cổng đền Hương Tượng phía phố Lương Ngọc Quyến. Photo ©NCCong 2013
Di tích
 
Phố Lương Ngọc Quyến ở trên đất cũ của thôn Ưu Nhất và thôn Ngư Võng, thuộc tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phía đông kinh thành Thăng Long. Hiện nay dấu vết các thôn này hầu như không còn gì ngoài đình và đền Hương Tượng ở nhà số 10. Nhưng cánh cổng phía đó thường đóng kín, lối vào chính thì lại mở ra phố Mã Mây và mang biển số 64.
 
Tấm bia “Hương Tượng giáp trùng tu” dựng năm 1825 cho biết đền Hương Tượng được lập vào thời Trần, thờ Kinh sư đại doãn Nguyễn Trung Ngạn. Gần nơi này ông còn được thờ trong đền Tiên Hạ ở ngõ Phất Lộc và đền Mỹ Lộc ở phố Nguyễn Hữu Huân...[1].
 
________________________
 
[1] Nguyễn Trung Ngạn (1289—1370) nguyên tên là Cốt, hiệu Giới Hiên, quê làng Thổ Hoàng, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Tháng 3 năm Giáp Thìn (1304) “thi kẻ sĩ trong nước, ban cho Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi chức Thái học sinh hỏa dũng thủ, sung làm nội thư gia...; Nguyễn Trung Ngạn đỗ hoàng giáp, tất cả 44 người đỗ thái học sinh (tiến sĩ)… Trung Ngạn mới 16 tuổi, đương thời gọi là thần đồng”. Làm quan to suốt 4 triều vua Trần Anh Tông (1293—1314), Trần Minh Tông (1314—1329), Trần Hiến Tông (1329—1341), Trần Dụ Tông (1341—1369) và từng đi sứ, ông thực là người trung thành và văn võ kiêm toàn. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép việc năm 1324 sứ thần Mã Hợp Mưu đến báo tin vua Nguyên lên ngôi, kiêu ngạo đi đến tận đường cạnh cầu Tây Thấu Trì vẫn không chịu xuống ngựa. Các quan của ta đã tiếp chuyện đến nửa ngày ở bên cầu, nhưng sứ thần nhà Nguyên không nghe. “Nhà vua bèn sai Thị ngự sử Nguyễn Trung Ngạn ra đón và lấy lý lẽ bẻ lại. Sứ thần Hợp Mưu thấy đuối lý phải xuống ngựa, tự bưng chiếu vua Nguyên báo tin lên ngôi, đi bộ vào triều. Vua rất hài lòng”. Ông từng lãnh chức ở nhiều nơi: An phủ sứ Thanh Hoá (1332), An phủ sứ Nghệ An (1337), Kinh lược sứ Lạng Giang (1355). Thời kỳ làm Đại doãn Kinh sư (1341) Nguyễn Trung Ngạn được Trần Dụ Tông sai cùng Trương Hán Siêu “biên soạn bộ Hoàng triều đại điển và khảo soạn bộ Hình thư để ban hành”. Năm Nhâm Ngọ (1342) vua “lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Hành khiển khu mật viện sự, theo quy chế cũ, cấm quân thuộc về Thượng thư sảnh...”. Năm 1351 vua “lấy Nguyễn Trung Ngạn làm Nhập nội hành khiển, vẫn coi việc ở Khu mật viện...”
 
Trong “Giới Hiên thi tập” Nguyễn Trung Ngạn đã tự giới thiệu:
“Giới Hiên tiên sinh lang miếu khí
Diệu linh di hữu thôn ngưu chí
Niên phương thập nhị thái học sinh
Tài đăng thập lục sung đình thí
Nhị thập hựu tứ nhập gián quan
Nhị thập hựu lục Yên kinh sứ”.
 
Tạm dịch:
Giới Hiên tiên sinh tài lang miếu
Có chí nuốt trâu từ niên thiếu
Tuổi mới mười hai: thái học sinh
Vừa đến mười sáu dự thi đình
Hai mươi bốn tuổi làm quan gián
Hai mươi sáu tuổi sứ Yên kinh.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}