Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Phố Nguyễn Văn Siêu

Đông Tác | Thứ Bảy, 25/10/2014 13:44 GMT +7
Phố Nguyễn Văn Siêu dài khoảng 180m, phía đông giáp ngã tư Đào Duy Từ và nối với phố Chợ Gạo, phía tây giáp ngã tư Hàng Giầy và nối với phố Ngõ Gạch. Hiện nay thuộc về phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm, tp Hà Nội.


Cổng đền Cổ Lương. Photo ©NCCong 2012

Thời Pháp thuộc, phố có tên “Rue Án sát Siêu”. Chính quyền năm 1945 đổi lại thành Phương Đình. Năm 1948 phố mang tên Nguyễn Siêu và từ 1954 đến nay được điều chỉnh lại cho đúng với họ tên của ông là Nguyễn Văn Siêu.

Đầu thế kỷ 19, đây nguyên là đất của thôn Cổ Lương và của giáp Giang Nguyên, phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, gần cửa sông Tô Lịch cũ. Nay vẫn còn đền Cổ Lương ở sâu trong ngõ số 28; đình thì đã mất nhưng trước kia vốn khá rộng và là nơi có đông học trò của Nguyễn Văn Siêu trọ học. Đình cũ của giáp Giang Nguyên trong có bàn thờ Nguyền Văn Siêu về sau bị một ngôi nhà lớn hai tầng (số 20) che lấp. Và Phương Đình, ngôi nhà cũ và trường dạy học của Nguyễn Văn Siêu, cũng bị các căn nhà gác thay thế (số 8, 10, 12).
 
Cũng như ở phố Ngõ Gạch, dãy nhà của phố Nguyễn Văn Siêu bên mặt đường phía bắc, số chẵn, đều xây dựng trên bờ sông Tô Lịch cũ. Nhưng khác với phố Ngõ Gạch, phố Nguyễn Văn Siêu có nhiều ngôi nhà được xây liên tiếp kề nhau. Dãy nhà số chẵn về sau lại được cải tạo thêm từ khi đường phố được mở rộng trên chỗ dòng sông Tô đã bị san lấp. Suốt mặt phố có khoảng ba mươi ngôi nhà hai tầng, chỉ có hai nhà một tầng; nhà kiểu cũ thấp bé thì không còn mấy. Bên số lẻ làm trên nền sông lấp cũng có nhiều nhà hai tầng cao rộng, cả dãy chỉ có sáu bảy nhà một tầng trên tổng số hai trăm nhà. Chỗ đầu phố giáp Đào Duy Từ, một quãng dài là những ngôi nhà phụ thuộc phía sau của Hội quán Quảng Đông bên phố Hàng Buồm.
 
Đình và đền Cổ Lương
 
Ngày nay đình Cổ Lương đã bị lấn chiếm hết, chỉ còn đền ở ngõ số 28 phố Nguyễn Văn Siêu. Trong đền có một quả chuông đồng ghi bài “Cổ Lương chung ký” (Bài ký trên chuông đồng Cổ Lương) được đúc vào nên hiệu Thiệu Trị thứ 3 (1843). Bài ký này cho biết mục đích, ý nghĩa của việc đúc chuông để lại cho muôn đời sau, lại ghi tên những người đóng góp công đức để tu sửa đền và đúc chuông.
 
Đền có 4 tấm bia đá thời Nguyễn. Tấm bia “Cổ Lương hương đình ký” (Bia đình làng Cổ Lương) dựng năm Tự Đức thứ 3 (1879), do tiến sỹ Vũ Nhị, hiệu Đông Hầu, đốc học Hà Nội soạn, Nguyễn Mặc Khanh viết. Văn bia tạm dịch như sau: “Thôn Cổ Lương tiếp giáp mé sông Nhị Hà, dân cư là người làng Khúc Thủy, đền thờ hai vị chính thần là Phổ Tế và Nam Hải. Công lao sự nghiệp của Thần trong tự điển có ghi chép rõ ràng. Nhưng ngôi đền lúc mới xây dựng thì lợp cỏ gianh đơn sơ. Hơn trăm năm dân cư ca mừng tụ họp ở đây mà đền thần vẫn còn như cũ... Khi đó vị lý trưởng họ Đào tên Đằng mới tiếp nối ý cha để đứng ra hưng công xây lại đình và lợp ngói...”
 
Như vậy, đình làng Cổ Lương vốn là đền thờ hai vị nam thần và có từ trước năm 1897 hàng thế kỷ, đền lợp cỏ đã bị cũ nát. Về sau dân làng Cổ Lương thờ công chúa Liễu Hạnh [1] làm thành hoàng làng, nên trong đình mới có điện thờ bà.
 
Trong đền hiện nay còn lưu giữ các tư liệu chữ Hán gồm văn bia, hoành phi, câu đối và 2 sắc phong Liễu Hạnh công chúa:
 
- Sắc thứ nhất ghi niên đại Duy Tân thứ 5 (8/6/1911),
- Sắc thứ hai ghi niên đại Khải Định thứ 9 (1924).

Lại có 2 bức cuốn thư gỗ, 3 ngai thờ, 18 pho tượng và đáng chú ý hơn cả là pho tượng lớn đặt trong khám thính tại gian chính giữa hậu cung: tượng mặc áo đỏ, khuôn mặt phúc hậu. Ngoài ra còn một số đồ thờ khác như lọ hoa, cây nến, bát hương sứ, đồng, bộ bát bửu.
 
Cụ thể có 4 bức hoành phi gỗ và 6 câu đối với nội dung ca ngợi công đức của Mẫu Liễu Hạnh. Bức hoành phi trên ban thờ ghi: “Thao thuỷ khôn tinh” (Đức kiên trung như nước sông Thao). Đôi câu đối viết:
 
Tây Hồ dạ nguyệt quy tiên hạc 
Sùng Dĩnh xuân hoa ám khải vân.
Nghĩa là:
Trăng đêm Tây Hồ đưa đón hạc tiên
Hoa xuân Sùng Dĩnh vấn vương mây rạng.
 
Ngôi đền khá khang trang, mặt nhìn ra ngõ về hướng nam. Nội thất gồm 3 gian tiền tế và một hậu cung kiểu đơn giản, bộ khung bằng gỗ lim còn khá tốt, bộ đồ thờ cúng đầy đủ. Những gì còn lưu lại đều mang phong cách kiến trúc nghệ thuật triều Nguyễn. Ngoài sân hẹp còn một cây bàng to cạnh cổng.
____________________________
 
[1] Một vị nữ thần được thờ trong đạo Mẫu theo tôn giáo truyền thống của Việt Nam. Huyền thoại tiên Liễu Hạnh giáng trần hai lần như một cô gái xinh đẹp và người vợ nết na rồi hiển linh đã được lưu truyền rộng rãi ở nhiều vùng quê trong nước, đặc biệt ở vùng Bắc bộ. Mặc dù sự tích mới chỉ xuất hiện vào thời Lê-Trịnh, song bà chúa Liễu đã sớm được dân gian tôn làm một trong “Tứ bất tử” của thần nhân đất Việt. Một mặt Liễu Hạnh tượng trưng cho tinh thần phóng túng tự do; mặt khác, trong tâm thức dân gian, bà chúa có thể ban phúc cho mọi người. Vua Lê Huyền Tông từng sắc phong bà là “Liễu Hạnh công chúa”, đến thời Nguyễn lại suy tôn bà làm “Mẫu nghi thiên hạ”. Nơi thờ bà chúa Liễu thường là các đền, phủ và một số điện Mẫu ở hậu cung các chùa.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}