Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Phi vật thể:

 

Phủ Giầy và lễ hội giỗ Mẹ

Xuân Trường | Thứ Bảy, 28/09/2013 05:51 GMT +7
(Văn Hiến) - Phủ Giầy có tên cổ là Kẻ Giầy, từ sau khi Liễu Hạnh được sắc phong công chúa thì được gọi là Phủ. Phủ Giầy có một hệ thống kiến trúc liên quan tới bà chúa Liễu Hạnh, một trong “tứ bất tử” trong tâm thức người Việt. Đó là phủ chính, phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu.

 

Phủ chính là một kiến trúc khá qui mô, gồm ba lớp điện thờ, mặt đều quay về hướng nam, trước điện là giếng tròn và cột cờ, trên sân rộng phía trước có xây các nhà bia, nhà trống, nhà chiêng, kiến trúc kiểu bốn mái hai lớp. Chúa Liễu và hệ thống Tứ Phủ được thờ ở tòa điện trong cùng, Mẫu Thượng Thiên hóa thân thành Liễu Hạnh thờ ở trung tâm, bên trái là Mẫu Thoải, bên phải là Mẫu Địa, phía trước là Mẫu Thượng Ngàn (Nhạc Phủ).

JPEG - 26.9 kb

Tại làng Vân Cát, cách không xa phủ Giầy có kiến trúc phủ Vân Cát. Phía trước đền có hồ bán nguyệt, nối với bờ bằng cầu đá, chạm trổ rất công phu. Phủ Vân có Ngũ Môn và bốn cung, trung tâm thờ Chúa Liễu, bên trái là chùa thờ Phật, bên phải thờ Lý Nam Đế.

Lăng Chúa Liễu nằm gần phủ Chính, được dựng bằng đá, kiến trúc công phu và rất đẹp, độc đáo, xây dựng vào những thập kỷ của nửa đầu thế kỷ này. Trung tâm lăng là ngôi mộ hình bát giác, mộ ở thế đất cao, có bốn cửa và bậc thang lên xuống. Xung quanh mộ, còn có tường vây quanh theo kiểu lan can đá, lớp nào cũng có cửa vào ở bốn phía. Bốn góc của lớp tường vây quanh và hai trụ cửa ra vào đều chạm đá hình nụ sen (60 nụ sen) lô nhô như một hồ sen đá.

Ngoài hai phủ chính và lăng kể trên, xung quanh phủ Giầy còn có nhiều đền miếu bao quanh, như đền Khâm Sai, đền Công Đồng, đền Thượng, đền Quan, đền Đức Vua, đền Giếng, đền Cây Đa, đình Ông Khổng... Tất cả quần thể kiến trúc ấy gần như tập trung trong phạm vi xã Kim Thái, xưa là xã An Thái, thuộc huyện Vụ Bản, cách thành phố Nam Định khoảng 15 km. Đó là vùng đồng bằng với những cánh đồng lúa bát ngát, có những ngọn núi đá thấp nằm rải rác, làng mạc trù phú, có dòng sông hiền hòa uốn khúc quanh co, tạo nên cảnh sắc thiên nhiên và văn hóa rất nên thơ.

Người ta tin rằng Bà Chúa Liễu vốn là con gái của Ngọc Hoàng, vì phạm lỗi nên bị đầy xuống trần gian, thác sinh vào nhà họ Lê. Khi cất tiếng khóc chào đời, bố mẹ đặt tên là Giáng Tiên, tới năm 18 tuổi thì gả chồng. Lấy chồng mới được ba năm thì hết hạn đầy bị gọi về trời. Nhưng vì nhớ chồng con, Ngọc Hoàng lại phải cho nàng trở về hạ giới. Lần này trở lại, nàng thích vân du khắp nơi, gặp danh sĩ Phùng Khắc Khoan và họa thơ với ông ở Lạng Sơn và Hồ Tây, sau lại kết duyên với một thư sinh ở xứ Nghệ và giúp cho chồng đỗ đạt làm quan. Vừa lúc đó nàng lại có lệnh về trời. Trái lệnh vua cha, một lần nữa nàng lại giáng sinh. Lần này nàng không ở một nơi mà cùng hai thị nữ chu du thiên hạ. Thấy vùng Phố Cát là nơi phong cảnh đẹp, nàng hiển linh thành cô gái bán nước ven đường để trừng phạt những kẻ ác, gia ân cho người hiền. Triều đình nhà Trịnh lúc đó cho là yêu quái nên đem quân, dùng pháp thuật để trừ. Hai bên đã dàn quân đánh nhau, đó là "Sùng Sơn đại chiến".

Do lập mẹo quân triều đình có cơ thắng, nhưng vừa lúc đó đức Phật ra tay, giảng hòa, cứu Liễu Hạnh. Nàng được triều đình phong thần là Nữ Hoàng Công Chúa rồi Chế Thắng Đại Vương. Từ đó Liễu Hạnh công chúa không gây kinh sợ cho mọi người, mà luôn luôn ban phát ân đức, được nhân dân tôn thờ là Thánh Mẫu.

Tháng tám giỗ Cha, tháng ba giỗ Mẹ.

Đó là câu nói cửa miệng của bất cứ người Việt nào dù họ sinh sống trên quê hương hay đã tha hương nơi đất khách quê người. Trong tâm thức dân gian, vua Hùng là ông Tổ, nên "Dù ai đi ngược về xuôi nhớ/ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba", còn Liễu Hạnh là Mẫu (Mẹ), Trần Hưng Đạo là Cha, cả dân tộc coi cộng đồng mình như một gia tộc, có tổ tiên, cha mẹ.

Tháng ba, vào cuối tiết xuân, những người nông dân đang buổi nông nhàn, rủ nhau mở mùa trảy hội. Từ muôn nơi người ta đổ về phủ Giầy, nơi có phong cảnh non nước tươi đẹp, công trình đền miếu nguy nga, nơi con người có thể cầu mong Mẫu mang lại những điều tốt lành, may mắn, tài lộc. Xưa kia, hội phủ kéo dài trong mười ngày bắt đầu từ 30 tháng hai. Ngày đầu hội là nghi thức cúng tế, ngày cuối hội rước Thánh Mẫu, ngoài ra còn có các trò vui chơi dân dã khác. 30 tháng hai và mồng một tháng ba là ngày dành cho dân làng tế kỵ, từ ngày mồng ba trở đi là ngày quốc tế, ngày tế của các quan chức hàng tỉnh, hàng huyện. Xưa, quan tổng đốc hàng tỉnh vào làm chủ tế, rồi đến quan tri huyện cùng với chánh, phó tổng cũng vào chủ tế hàng huyện và hàng tổng. Nghi thức tế lễ cũng giống như nhiều cuộc khác, có các tuần dâng hương, dâng hoa, dâng rượu...

JPEG - 42.7 kb

Tiêu biểu nhất trong hội phủ Giầy là nghi lễ rước Thánh Mẫu từ phủ Chính lên chùa Gôi vào ngày mồng 6 và hội kéo chữ vào ngày mồng 7. Kiệu rước bát nhang Thánh Mẫu phần lớn do các bà, các cô đảm nhận, y phục rực rỡ, xúm xít dưới kiệu vàng, võng điều, cờ quạt, tán, lọng, phướn đủ màu rực rỡ tung bay trước gió lồng lộng vào tiết cuối xuân, đầu hè. Theo đoàn rước còn có đội nhã nhạc, bát âm. Các cô gái đồng trinh của đồng quê được cử vào khiêng long đình, rước võng, khiêng kiệu, che tán, che quạt, các bà trung niên thì cầm phướn, vác cờ, dẹp đường. Đoàn rước tiến bước giữa tiếng loa thét, rừng cờ phướn tung bay trong đoàn thiện nam tín nữ đi trẩy hội.

Nghi thức rước Thánh Mẫu giữa phủ thờ và chùa không phải chỉ diễn ra ở phủ Giầy, nó phản ánh thực tế có sự giao kết giữa tín ngưỡng thờ Mẫu dân gian và Phật giáo. Trong huyền thoại về Chúa Liễu, trận Sùng Sơn thể hiện sự xung đột giữa Chúa Liễu và triều đình phong kiến, sau đó phải cần tới sự cứu giúp và can thiệp của đức Phật. Tương truyền, chúa Liễu sau đó đã nhận mũ áo nhà Phật, noi theo Phật, chỉ làm việc thiện ban phát ân đức. Hiện nay, trong nhiều ngôi chùa thờ Phật Việt Nam đều có điện thờ Mẫu, theo kiểu tiền Phật hậu Mẫu. Sinh hoạt tín ngưỡng Mẫu trở thành một bộ phận của sinh hoạt nhà chùa.

Ngày 7 tháng ba là ngày hội kéo chữ, nét độc đáo nhất của hội phủ Giầy. Theo lời kể của nhân dân địa phương thì sự tích hội kéo chữ như sau:

Thời hậu Lê ở thôn Đông Khê, tổng Đồng Nội, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định có một người kỹ nữ tài sắc tuyệt vời, đó là Phùng Thị Ngọc Đài. Sau khi lấy lẽ hết ông Quận Công Ngà, đến quận Công Hiển, Ngọc Đài trở về ở xã Bảo Ngũ, huyện Vụ Bản là nguyên quán của ông Quận Công Hiển. Năm 1623 vua Lê Thần Tông phong chức Thành Đông Vương cho chúa Trịnh Tráng, chúa ra lệnh mở tiệc ăn mừng, cho tuyển nhiều ả đào đẹp ở các địa phương tiến dẫn về Thăng Long để múa hát mua vui trong bữa tiệc.

Ngọc Đài tuy đã góa chồng, nhưng nhan sắc xinh đẹp, kiều diễm, nên lần đó nàng cũng xin đi ứng tuyển. Trước khi lên đường, nàng đến phủ Giầy quì trước bàn thờ Thánh Mẫu và cầu khẩn: "nếu lần này đi mà được vua yêu, chúa dùng thì không bao giờ quên Mẫu, xin hứa làm cái gì để ghi nhớ Mẫu mãi mãi về sau". Quả nhiên, lời cầu xin của Ngọc Đài được ứng nghiệm. Trong bữa tiệc, biết bao ca kỹ dung nhan tuyệt vời, giọng hát hay mà chúa Trịnh Tráng chỉ say đắm một mình Ngọc Đài. Sau bữa tiệc, nàng được vời vào dinh, được chúa sủng ái và phong cho chức Vương Phi.

Thời kỳ Ngọc Đài làm vương phi trong phủ Chúa thì cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn nổ ra dữ dội hơn, chúa Trịnh ra lệnh bắt phu về Thăng Long xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố, phòng chúa Nguyễn tấn công.

Trong số phu bị bắt về Thăng Long, có những người quê ở Vụ Bản. Bà vương phi biết tin này nên tìm cách cứu giúp dân phu của quê hương bản quán mình, nên đã mật báo cho dân phu khi về tới Kinh chỉ mặc áo rách và ăn cháo cám mà thôi. Một hôm chúa và cung phi cùng đi thị sát dân phu, chúa thấy đám phu ngồi ăn cháo cám. Chúa hỏi mới biết là người Vụ Bản. Nhân lúc đó, Vương Phi tỏ ra buồn rầu, khiến chúa Trịnh vặn hỏi. Khi được biết dân phu đó chính là người cùng quê với Vương Phi, chúa Trịnh tức khắc ra lệnh miễn phu cho họ, cấp lương thực, quần áo về quê quán làm ăn, sinh sống. Hơn thế nữa, chúa còn cấp lương thực vải vóc cho toàn bộ dân làng Bảo Ngũ, làng Vương Phi đã ở trước khi vào cung. Ghi nhớ công đức đó, nay dân làng thờ Vương Phi là Thành Hoàng làng.

Sau khi nhận được gia ân của chúa Trịnh, Vương Phi muốn làm điều gì đó để lại ghi nhớ sự phù trợ của Thánh Mẫu nên dặn dân làng phủ Giầy là cứ sau ngày rước Mẫu từ phủ Chính lên chùa Gôi, thì dân làng đem xẻng, cuốc, mai, thuổng đến trước phủ Giầy vứt ngổn ngang xuống đất, tỏ ý nhờ linh ứng của Thánh nên dân làng không phải chịu cảnh nhọc nhằn phu phen, rồi xếp người thành hai chữ "Cung tạ".

Từ đó về sau, năm nào cũng có tục kéo chữ. Trước kia, hàng năm cứ tới ngày này mỗi tổng trong huyện Vụ Bản góp 10 phu cờ tuổi từ 20 tới 35 tới dự hội. Cả huyện có mười tổng, gộp thành 100 phu cờ. Ngoài ra còn có một số tổng khác, như Mỹ Lộc, Bình Lục, nhưng văn nhớ tục cũ, cũng góp thêm người vào cuộc hội này.

Phu cờ ăn mặc đồng phục, áo cánh vàng quần trắng, đầu đội khăn đen, có phủ dải lụa vòng ra ngoài, đi chân đất. Mỗi người còn vác một cây gậy dài bốn, năm thước, trên đầu gậy buộc một cái ngù bằng lông gà các đốt gậy đều dán vòng giấy mầu xanh, đỏ có tua. Chỉ huy toàn bộ những phu cờ là Tổng cờ.

Đoàn phu cờ hẹn tập trung tại một địa điểm nào đó, rồi lần lượt theo chỉ huy của Tổng cờ đi hàng đôi tiến vào khoảng đất rộng trước Phương Du của phủ Chính. Khoảng trưa, có lệnh Tổng cờ cho phu cờ chuẩn bị đến giờ xếp chữ (ngả chữ). Giữa tiếng trống cái, trống con gõ liên hồi rộn rã, theo cờ lệnh trong tay Tổng cờ, các phu cờ tiến lùi đứng lên, ngồi xuống thành hình chữ. Khi ngồi xuống, các phu cờ vứt gậy xuống đất, như mô phỏng lại tục vứt cuốc xẻng xưa của dân phu trước đền Thánh Mẫu. Việc xếp chữ gì do những người tổ chức hội hàng năm qui định, nhưng thường là "Mẫu Nghi Thiên Hạ", "Thiên hạ thái bình", "Thạch cập sinh dân", "Vân hành vũ thi"…

Nói tới hội phủ Giầy ngày giỗ Thánh Mẫu không thể không nói tới hình thức hát văn và hầu đồng. Đây là hình thức sinh hoạt tín ngưỡng - văn hóa tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu. Xưa, trong những dịp này, trong và ngoài đền phủ Chính, phủ Vân Cát, người ta tổ chức hát văn chầu và cùng với nó là lên đồng. Đây là hình thức diễn xướng tổng hợp giữa âm nhạc, hát, thờ cúng, nhảy múa. Ban văn chuyên tấu nhạc và hát văn chầu theo làn điệu và bài bản riêng, sao cho phù hợp, ăn khớp với người lên đồng. Hát văn có làn điệu riêng, độc đáo, nhưng trong đó cũng thu hút nhiều hình thức dân ca khác, như ca trù, trống quân, quan họ, cải lương... Người lên đồng để cho hồn các thần linh của tín ngưỡng Tứ Phủ nhập vào thân xác mình, rồi làm các nghi lễ trước bàn thờ, ăn mặc, nhảy múa, phán truyền theo tư cách và địa vị của thần linh ấy. Đó là các vị thần thuộc hàng các Thánh Mẫu, Quan lớn, các Chầu, các ông Hoàng, các Cô, Cậu...

Trong những ngày hội, nhân dân còn tổ chức nhiều hình thức vui chơi khác như hát tuồng, hát chèo, trống quân, kể cả hát xẩm, ca trù, các hình thức thi đấu mang tính thượng võ, như vật, múa võ, kéo co, đánh cờ, chọi gà...

Ngoài các nghi thức tế, rước sách, kéo chữ, xem biểu diễn... hội phủ Giầy còn là ngày hội Chợ. Nơi đây trong ngày hội, người ta bày bán các sản phẩm của địa phương, người đi xem thường là tiện dịp mua sắm thêm vài thứ vật dụng trong ngày hội. Hội không chỉ là sự thể hiện đời sống tâm linh, thưởng thức sinh hoạt văn hóa mà còn thúc đẩy hoạt động kinh tế, thương mại.

Các mặt hàng bày bán thật đa dạng, phong phú, từ cái kim sợi chỉ, chiếc cần câu, lưới, vó, dậm, nơm để đánh bắt cá. Các loại giường, tủ, bàn, ghế sản phẩm của làng mộc La Xuyên kề cạnh, các loại giầy, dép, các loại đồ đan, áo tơi. Các mặt hàng sơn mài của phủ Giầy vốn có tiếng từ lâu, các loại gỗ khảm trai, các bức hoành phi, câu đối cũng được bán ngoài chợ trong ngày hội.

Nói tới đi hội không thể không thưởng thức các món ăn, nhất là các món đặc sản địa phương mà ở phủ Giầy nổi tiếng là món thịt bò tái, tương gừng, rất hợp vị với tiết trời tháng ba.

Vui hội như vậy, nên người nào đã trẩy hội phủ Giầy một lần là còn muốn đến nữa:

Còn trời còn nước còn non
Mồng năm rước Mẫu ta còn đi xem

4. Hiện nay, làng Động Phí là làng lớn của xã Phương Tú với gần 500 hộ, khoảng 2000 dân, cộng cư của một số dòng họ lớn là họ Hoàng, họ Nguyễn Hữu, Nguyễn Văn và họ Đỗ... Làng nằm trên thế đất hình con phượng múa trái giữa vùng chiêm trũng phân thành 3 xóm: Phúc Lâm, Phúc An và Thiện Giáo chạy dọc theo đường quốc lộ 75b nối thị trấn Vân Đình (huyện lị Ứng Hòa) với cầu Giẽ (huyện Phú Xuyên) nằm trên Quốc lộ 1A, cách Hà Nội 40 km.

Dân làng Động Phí cơ bản là thuần nông. Xưa có nghề chắp thừng chão, nay đã mất, chỉ còn lưu trong ca dao “Động Phí ăn nói ngọt ngào, chắp thừng chắp chão bán rao cho người”. Vài năm gần đây làng có nghề xẻ gỗ và xuất hiện các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Sống ở vùng chiêm trũng, ruộng canh tác nhiều, dân tình chịu khó chăm chỉ làm ăn, vài năm lại đây nhờ hoạt động dịch vụ bám theo đường quốc lộ 75b nên đời sống kinh tế của dân thôn thuộc loại khá của xã... Nhân dân chăm lo đến đời sống tinh thần, nhất là việc khôi phục đình, chùa và các sinh hoạt văn hóa, như lễ hội, mừng thọ...

II- LỄ HỘI VẬT CẦU

1- Địa điểm tổ chức lễ hội

Lễ hội được tổ chức tại đình Động Phí, còn có tên là đình Dọc. Đây là ngôi đình có qui mô lớn trông về hướng tây, phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, nằm trên thửa đất rộng trên 2 ha ở vị trí trung tâm làng, bao gồm các hạng mục kiến trúc sau:

1- Sân trước cửa đình: Là khoảng sân rộng để trống trước cửa tam quan, nơi diễn ra trò cướp cầu.

2- Tam quan: 3 gian, hai tầng mái, đầu hồi xây bít đốc.

3- Đài Hoàng Thiên: Tòa nhà gỗ lợp ngói ri, hai tầng 8 mái, các góc nét đao, mũi rồng, tọa lạc trước nhà đại bái, là nơi tế trời đất vào dịp lễ hội.

4- Nhà đại bái: Kiến trúc 3 gian, hai đầu bít đốc, kết cấu khung gỗ chắc khỏe. Nội thất bày hương án, trang trí nhiều hoành phi, câu đối, đại tự. Đại tự gian chính giữa là Thiên thượng hoàng đế, đại tự gian bên phải là Tri Tây Sơn, đại tự gian bên trái là Kiêm Đông Hải. Có đôi câu đối cổ, nội dung như sau:

Phiên âm: Phù Đinh nghĩa khí sơn hà tại
Vạn cổ anh linh nhật nguyệt trường
 
Tạm dịch: Giúp vua Đinh nghĩa khí còn mãi với non sông
Vạn cổ anh linh (của vị thần) sánh cùng mặt trăng, mặt trời

5- Nhà hậu cung: Năm gian dọc nối liền với gian giữa nhà đại bái tạo thành kiến trúc kiểu chữ đinh. Gian trong cùng hậu cung đặt long ngai bài vị thành hoàng làng, các gian trước đặt các đồ tế sự.

6- Nhà giám trai: Phía sau hậu cung đình, nơi thờ vị thần giám sát việc làm cỗ chay cúng thành hoàng. Cỗ bàn được nấu nướng chế biến tại nhà giám trai.

Ngày 8/3/1990, UBND tỉnh Hà Sơn Bình ra quyết định bảo vệ di tích đình Động Phí. Ngày 7/5/1999, Bộ Văn hóa-Thông tin ra quyết định công nhận đình Động Phí là di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Cạnh đình dọc Động Phí là chùa làng Động Phí tên chữ là Phả Hướng tự, 5 gian xây dọc chạy theo hướng đình, cửa chùa trông chính tây.

2- Lịch sử vị thành hoàng làng Động Phí

Truyền rằng, ở vùng Hoan Châu có gia đình tộc trưởng Bạch Lân, vợ là Nghiêm Thị sống phúc đức, dân trong vùng cũng kính trọng. Hiếm nỗi, vợ chồng muộn đường con cái, 49 tuổi bà Nghiêm Thị mới mang thai và sinh nhất bào hai người con trai. Người anh đặt tên là Bạch Tượng, người em là Bạch Địa. Lớn lên hai anh em tướng mạo uy nghi, thân thể cường tráng, thông minh hơn người.

Bấy giờ, sau khi Ngô Quyền mất, đất nước lâm vào cảnh 12 sứ quân cát cứ. Hai anh em Bạch Tượng và con bà dì là Đô Đài bèn đi kinh lý khắp miền đất nước tìm anh tài mưu việc lớn.

Họ đến huyện Sơn Minh (một phần đất của huyện Ứng Hòa xưa), phủ Ứng Thiên dừng ở đó tụ tập dân chúng lập nên trang Nguyễn Xá về sau phát triển lập tiếp trang Động Phí, Ngọc Động, gọi là Tam Khu, lấy khu đất Động Phí làm trung tâm.

Lúc này, ở động Hoa Lư sứ quân Đinh Bộ Lĩnh tài giỏi, sáng suốt hơn người nghe tin ở phủ Ứng Thiên có ba anh em Bạch Tượng thanh thế nổi tiếng trong vùng sai công thần Nguyễn Bặc, Đinh Điền triệu về triều giao chức tước, thống lĩnh quân binh thủy bộ đi dẹp hai sứ quân cát cứ ở vùng Sơn Tây. Dẹp xong loạn 12 sứ quân, thống nhất non sông về một mối, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi hoàng đế ban thưởng công lao cho các tướng lĩnh. Hai anh em Bạch Tượng cùng Đô Đài được Đinh Tiên Hoàng Đế cho ăn thực ấp ở xã Động Phí và cai quản cả vùng từ Sơn Tây đến miền Đông Hải.

Sau ngày các ông mất dân khu Động Phí lập miếu thờ anh cả Bạch Tượng, dân khu Ngọc Động thờ Bạch Địa còn dân khu Nguyễn Xá thờ Đô Đài. Lệ tục quy định 3 thôn cộng đồng tổ chức lễ hội luân phiên ở từng thôn vì vậy hội làng Động Phí 3 năm mới mở đại hội. Do Động Phí thờ anh cả làm thành hoàng lại là khu đất trung tâm của hàng xã nên thường lễ hội ở làng Động Phí to hơn hai thôn Nguyễn Xá và Ngọc Động.

3- Lễ hội làng Động Phí qua hồi cố

Lễ hội làng Động Phí là một lễ hội lớn trong vùng với sự tham gia của hai thôn Nguyễn Xá và Ngọc Động. Việc kết nghĩa ba thôn cùng tổ chức lễ hội xuất phát từ cội nguồn lịch sử các vị thành hoàng làng có quan hệ huyết thống với nhau.

Chính hội làng Động Phí tổ chức vào ngày mồng 4 tháng giêng, tương truyền là ngày huynh công Bạch Tượng xuất trận dẹp loạn. Tuy nhiên, hội làng được tổ chức tưng bừng từ chiều mồng ba tết. Hôm đó làng tổ chức nghiềm quân, biểu dương lực lượng tham gia rước Thành hoàng. Tất cả quân rước tụ tập đông đủ sẵn trước nhà đại bái của đình Động Phí dưới sự chỉ huy của Ban khánh tiết đoàn rước theo trình tự lần lượt rước kiệu Thành hoàng từ đình ra đầu làng, xuống cuối làng.

Đội hình nghiềm quân có đội cờ, đội rước bát bửu, đội nhạc bát âm, đội múa xênh tiền 12-16 em gái, đội trống nữ, đội múa rồng phù giá kiệu. Đáng chú ý hội rước làng Động Phí có 4 cỗ kiệu: 
- Kiệu hương án tam sự (1 đỉnh đồng và 2 cây nến bằng đồng). 
- Kiệu hương án ngũ sự (1 đỉnh, 2 cây nến bằng đồng và 2 lọ lộc bình). 
- Kiệu long đình đặt long ngai bài vị Đức bản thổ. 
- Kiệu bát cống, 16 người khiêng, trên kiệu đặt long ngai bài vị Huynh công Bạch Tượng đại vương.

Rước kiệu Thánh một vòng quanh làng thì hồi giá trở lại đình xếp các cỗ kiệu trước cửa nhà đại bái. Buổi tối các cụ tổ chức tế Thành hoàng. Việc tế rất nghiêm cẩn. Tục xưa đến nay làng Động Phí nhất thiết phải sửa một cỗ chay dâng lễ nhà Thánh.

Mâm cỗ chay gồm: 3 bát cơm, 3 bát chè, 3 bát canh đậu và 6 đĩa (đĩa cùi dừa, đĩa lạc, đĩa bí, đĩa vừng, đĩa giá đậu, đĩa đậu ván), gọi là lục cúng.

Sáng mồng 4 tết là ngày chính hội, dân làng Động Phí tề tựu nghênh đón hai đoàn rước của làng Nguyễn Xá từ trên xuống, của làng Ngọc Động phía dưới lên. Theo quy định nếu đám rước của làng Nguyễn Xá đến trước thì phải dừng trước cửa tam quan đợi đám rước làng Ngọc Động tới và nhường kiệu Thánh Ngọc Động vào trước vì Thành hoàng làng Ngọc Động là Tượng Địa đại vương thuộc thứ bậc hàng trên của Thành hoàng làng Nguyễn Xá là Đô Đài đại vương.

Lúc này là thời điểm tưng bừng nhất của hội làng Động Phí. Cuộc hội nhập đám rước của ba làng nghênh đón tiếp nhau. Các đội múa sư tử tự do trình diễn, tiếng trống hội náo nhiệt phá vỡ trật tự nghiêm chỉnh của đám rước kiệu thay thế vào đó là những biểu diễn kiệu quay, kiệu bay. Cờ xí, bát bửu rợp trời. Múa xênh tiền, múa trống bộc lộ tài năng...

Sau những màn trình diễn ngoạn mục các trò diễn dân gian, các cỗ kiệu Thánh được đón rước qua cửa tam quan vào đặt ngay ngắn ở trước cửa đình. Bấy giờ các cụ ba thôn cùng vào thực hiện các nghi lễ tế cộng đồng. Cuộc tế kéo dài nhiều tuần. Buổi trưa dân ba làng tổ chức ăn chay kết nghĩa với nhau. Cuối buổi chiều dân làng Nguyễn Xá và Ngọc Động rước kiệu về đình làng. Các thôn tiếp tục nghi lễ tế đêm hôm đó tại đình làng mình.

Hội làng Động Phí thể hiện truyền thống uống nước nhớ nguồn, tưởng niệm các vị anh hùng có công với đất nước, thắt chặt tình nghĩa giữa các thôn cùng chung một tín ngưỡng, từ đó tăng cường sự đoàn kết giúp đỡ nhau trong cuộc sống và góp phần bảo lưu những giá trị văn hóa đặc sắc ở địa phương.

***

Cũng tại làng Động Phí, trước năm 1945, đã từng diễn ra một lễ hội đảo vũ có diễn trò cướp cầu nổi tiếng ở phủ Ứng Thiên xưa.

Thời điểm tổ chức đảo vũ - cướp cầu vào tháng ba, tháng tư âm lịch. Hễ năm nào nắng nóng, khô hạn sang đến tháng ba mà trời vẫn không mưa thì bô lão 6 xã, thôn (Hữu Xá, Văn Ông, Động Phí, Dương Khê, Ngọc Động, Nguyễn Xá) quyết định tổ chức đảo vũ, cắt cử dân các thôn chuẩn bị công việc cho ngày hội, lễ. Trừ Văn Ông thuộc xã Tảo Dương Văn còn lại 5 thôn kia đều thuộc xã Phương Tú.

Cả 6 thôn trên cùng tụ tập theo đám rước các cỗ kiệu Thánh của làng Động Phí và Ngọc Động về miếu Cò, còn gọi là quán Cò có xây bàn thờ lộ thiên bằng gạch, là nơi hai anh em Bạch Tượng, Bạch Địa và người em con bà dì là Đô Đài thời loạn 12 sứ quân từ đất Hoan Châu tìm đến vùng đất Ứng Hòa đã dừng chân ở đó để chia quân đi mở đất ở 3 khu Nguyễn Xá, Động Phí, Ngọc Động. Kiệu Thánh của các thôn được bày hàng trước cửa quán Cò, bô lão các thôn vào tế cộng đồng cầu mưa. Sau một tuần tế thì mỗi thôn cử hai cụ ra vật lão, còn gọi là vật thờ chầu Thánh ở quán Cò. Đến buổi chiều cùng ngày 6 thôn rước kiệu về đình Đụn thôn Động Phí.

Đình Đụn là đình của lục thôn, kiến trúc 15 gian bổ dọc thành hình chữ nhật, cửa đình trông về hướng mặt trời lặn. (Đình Đụn bị thực dân Pháp phá hủy vào năm 1947). Hàng bô lão tế đảo vũ ở cửa đình Đụn còn dân 6 thôn tổ chức cướp cầu ở ngoài đình.

Bãi cướp cầu phân thành hai khu lấy cổng tam quan của đình làm ranh giới; sân trong (khoảng đất bên trong cổng đình) và sân ngoài (khoảng đất bên ngoài cổng đình). Sân trong (hướng Đông) dân làng đào một hố đất sâu 0,80m, đường kính mặt hố 0,60m còn sân ngoài (hướng Tây) đào một hố và chính giữa cổng tam quan đình Đụn đào một hố kích cỡ tương tự sân trong. 3 hố này thẳng hàng nhau và hai hố bên cách đều nhau so với hố giữa.

Quả cầu bôi phẩm đỏ, đường kính khoảng 0,40m. Trước ngày cướp cầu dân thôn cử người đến làng Phùng Xá, huyện Mỹ Đức tìm cây chuối hột có củ to nhất thì đào lấy củ đẽo tròn mang về. Tục truyền cư dân ở đó thấy người đi tìm củ chuối làm cầu thì nhà nào cũng săn đón dẫn người đào vào vườn chuối nhà mình. Củ chuối nhà nào được chọn làm cầu thì chủ hộ rất mừng tâm niệm trong năm làm ăn may mắn.

Hai người khiêng quả cầu về nhà phải qua sông Đáy. Các đò ngang, đò dọc ở bên sông đều muốn chở người đi đào cầu và quả cầu qua sông. Dân kiêng không đi chung đò chở cầu sợ không may.

Quân tham gia cướp cầu ở 6 thôn không hạn chế, miễn là dân đinh khỏe mạnh, chia ra như sau: 
- Quân thôn Động Phi gọi là quân chạy gậy, quân bản từ, mặc quần áo lương dài, thắt lưng đỏ, đầu chít khăn đỏ. 
- Quân cướp cầu cởi trần đóng khố, Quân thôn Hậu Xá, Văn Ông gọi là quân tổng Thượng tụ tập ở sân trong và quân các thôn Dương Khê, Ngọc Động, Nguyễn Xá gọi là quân tổng Hạ tụ tập ở sân ngoài.

Trò cướp cầu diễn biến như sau: Trước tiên mỗi bên tổng Thượng và tổng Hạ cử một người đến trước cửa đình Đụn vật thờ trước nhà Thánh. Nếu bên nào thắng thì bên ấy cướp quả cầu đưa ra sân ngoài bỏ cầu vào hố bên tây, bên nào thua thì phải cướp cầu đưa vào sân trong bỏ vào hố bên đông.

Tổng Thượng cử một cụ già mặc quần áo đỏ, quấn khăn lưng đỏ, chít khăn đầu đỏ, tay cầm cờ đỏ có nhiệm vụ phất ngọn cờ về phía hố quân mình phải đem quả cầu đến bỏ. Tổng Hạ cũng như vậy, chỉ khác cụ già cầm cờ xanh phất về phía hố quân mình phải bỏ cầu. Đứng cạnh hai cụ là người đánh trống khẩu, người đánh kẻng bằng đồng làm hiệu lệnh thúc giục quân cướp cầu.

Khi có hiệu lệnh của chủ đám, quân chạy gậy chạy ra hố giữa ở tam quan, tay cầm gậy bẩy quả cầu lên thả lăn trên mặt đất và rút gậy chạy ra ngoài dẹp đám vòng quanh sân bãi. Liền đó, quân hai bên xô tới, cứ theo hiệu lệnh trống, kẻng và hướng cờ chỉ giằng cướp bằng được quả cầu về phía đã được làng chỉ định. Cuộc giằng cướp cầu quyết liệt, co kéo quân hai bên tranh cướp cầu vài ba giờ đồng hồ mới đưa được cầu vào hố của bên mình. Mỗi ngày quân tổng Thượng và tổng Hạ phải tranh cướp cầu ba keo. Bên nào hai lần cướp được cầu bỏ vào hố trong ngày là thắng cuộc. Trò cướp cầu diễn ra ba ngày liên tiếp, cả thảy là 9 keo.

Cướp cầu diễn ra rất sôi động trong tiếng trống, tiếng kẻng thúc giục. Quân hai bên ham cướp cầu không e ngại gì sự va chạm. Người ta bảo rằng nếu có sự va chạm sây sát da thịt thì chỉ cần lấy đất bùn ở hố giữa xoa vào là ắt sẽ mau lành.

Ngày thứ ba sau khi cướp cầu đủ 9 keo thì đại diện Ban khánh tiết lục thôn công bố bên thua bên được. Quân bên được reo mừng còn dân hàng tổng thì tin rằng mặt trời đã bị đánh động nên không gây nắng nóng khô hạn với con người nữa mà trời sẽ mang nước đến tưới cho đồng ruộng để dân cày cấy.

Công bố thua được xong, quân cướp cầu về sân riêng của tổng còn quân chạy gậy mang quả cầu từ hố lên mặt đất lăn cầu đi vòng quanh bãi, gọi là dắt cầu đi chơi. Quân chạy gậy tinh nghịch lăn quả cầu vào đám đàn bà, con gái đi xem hội tạo ra những trận cười vui sảng khoái. Sau vài vòng dắt cầu đi chơi, quân chạy gậy dắt cầu thả xuống giếng làng Động Phí. Cầu củ chuối nổi trên mặt nước đợi khi nào trời mưa to thì vớt cầu lên bỏ đi.

Ngoài sân tổ chức cướp cầu, ấn định 3 ngày, còn trước cửa đình các cụ lục thôn tế cầu đảo vũ, tế đến khi nào trời đất thay đổi có mưa mới thôi.

Nếu trường hợp mới cướp cầu được một ngày mà trời đã đổ mưa thì dân lục thôn tâm niệm Thành hoàng làng Động Phí thiêng phù trợ cho dân toại ý nguyện nên dân thôn phải tế tạ Thánh vài ngày.

Ngày nay, không còn nghi lễ tế đảo vũ và cướp cầu nhưng ký ức về trò cướp cầu vẫn in đậm trong tâm trí các cụ ở làng Động Phí. Dân làng có kế hoạch gây dựng lại trò vật lão, cướp cầu, coi đó là sinh hoạt văn hóa độc đáo của địa phương phục vụ cho ngày lễ hội tam thôn 3 năm tổ chức một lần vào ngày mồng 4 tết ở làng Động Phí.

4- Khảo tả lễ hội vật cầu làng Động Phí vào ngày mồng 3, mồng 4 tết năm Canh Thìn (2000)

4.1 Vài lời giới thuyết

Trò diễn vật cầu là một sinh hoạt văn hóa rất độc đáo trước năm 1945 diễn ra ở thôn Động Phí. Việc khôi phục lễ hội rước cộng đồng 3 thôn Động Phí, Ngọc Động, Nguyễn Xá và diễn xướng vật cầu 6 thôn như đã từng diễn ra ở Động Phí trước năm 1945 là khó thực hiện bởi một số lý do sau: 
- Lễ hội diễn ra cách năm 2000 gần 60 năm cho nên khả năng huy động nhân, vật lực của các thôn cho lễ hội chưa gặp được sự đồng thuận. 
- Cơ sở vật chất phục vụ cho lễ hội ở các thôn bị thất tán, điều kiện kinh phí đầu tư cho phục hồi chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

Do vậy, dự án lễ hội vật cầu làng Đồng Phí chỉ tập trung huy động nhân, vật lực của dân làng Động Phí trên cơ sở hồi cố tái dựng lại đưa vào lễ hội ở làng những trò diễn tiêu biểu nhất của các diễn xướng văn hóa cổ truyền từng diễn ra ở làng trước năm 1945.

Dưới đây là diễn biến của lễ hội làng Động Phí được tái hiện lại vào ngày mồng 3, mồng 4 tết năm Canh Thìn (2000) dưới sự tài trợ của dự án bảo tồn văn hóa phi vật thể năm 2000 của Bộ Văn hóa-Thông tin và sự tài trợ kinh phí của Quỹ Văn hóa Việt Nam - Thụy Điển.

4.2 Diễn biến lễ hội ngày mồng 3 tết

Sáng mồng 3 tết hầu hết già trẻ gái trai của làng Động Phí tụ tập ở đình. Các cụ bà ngồi ở chùa, các cụ ông lo công việc ở bên đình. Công việc chuẩn bị cho ngày hội đã được ban khánh tiết cắt cử và cho tập dượt từ vài tuần trước tết nhưng hôm nay các bộ phận mới thực sự vào vai.

Khoảng 10 giờ các cụ và trai đinh ở làng tập trung vào trồng kiệu chuẩn bị cho rước nghiềm quân vào chiều cùng ngày. Trồng kiệu được thực hiện ở sân trước nhà tam quan. Đầu tiên là cỗ hương án tam sự, tiếp là cỗ hương án ngũ sự, tiếp là kiệu long đình, tiếp là kiệu loan giá - cỗ kiệu đẹp nhất sơn son thếp vàng bóng lộn. Đồ rước được lắp đặt cẩn thận, lau chùi sạch sẽ.

Khoảng 11 giờ cụ đốc (cụ Nguyễn Văn Bấy, 92 tuổi), người cao tuổi nhất làng mặc áo dài đỏ, đầu chít khăn vàng vào nhà đại bái làm lễ nhà thánh để rước bát nhang Thành hoàng ra kiệu loan giá. Cụ đốc làm lễ xong thì 3 cụ mặc áo choàng xanh, đội mũ có dải đỏ, phía trước thêu hoa cúc vào hậu cung chuyển bát nhang ra kiệu. 1 cụ cầm trống khẩu đánh đi trước, hai cụ bê bát nhang đi sau. Cụ đốc áo đỏ đi theo phù bát nhang nhà thánh. Bát nhang được đưa vào kiệu loan giá.

Chiều mồng ba tết, khoảng 14, giờ dân làng tổ chức tế khai hội trước đài Hoàng Thiên và rước kiệu thánh, tục gọi là nghiềm quân. Trong đài Hoàng thiên đặt hương án thờ, phía dưới đặt quả cầu đỏ.

Lễ tế bắt đầu, 1 cụ áo xanh xướng, chiêng trống phụ họa theo. 1 cụ áo xanh đọc văn tế còn ở chính giữa mặt tiền đài Hoàng Thiên cụ đốc áo đỏ bái tế trước đài Hoàng Thiên. Tế xong văn tế được hóa trước đài Hoàng Thiên và quả cầu đỏ được hai cụ đưa ra đặt lên hương án tam sự. Sau tuần tế của cụ đốc là tuần tế của 5 cụ lão làng mặc áo choàng xanh, đội mũ đính hoa văn hoa cúc.

Đội rồng của làng ăn mặc theo lối cổ truyền vào múa chầu nhà thánh trước đài Hoàng Thiên, gồm một đô mặc quần áo trắng tay cầm hạt ngọc và hai đô của đội rồng mặc quần áo đen đầu chít khăn đỏ cầm côn vào múa.

Đoàn rước bắt đầu, đi theo đội hình sau:

• Đội múa rồng đi đầu dẹp đám
• Đoàn thiếu niên khăn quàng đỏ đánh trống
• Đoàn thiếu niên cầm cờ chuối
• Đoàn thanh niên mặc theo lối cổ truyền, áo dài nỉ đỏ, đầu chít khăn đỏ vác cờ hội ngũ sắc
• Đội nữ bà 5 người mặc quần trắng, áo dài đỏ, khăn đỏ
• Đoàn nữ tế khoảng 60 người mặc quần trắng, áo dài vàng, khăn vàng
• Đội 8 nữ quần đen, áo trắng, thắt lụa đỏ eo lưng đánh trống khẩu
• Đội nữ mặc áo dài dân tộc rước ảnh Bác Hồ
• Đội nữ bà 16 người quần trắng, áo lụa trắng, chít khăn đỏ, đầu vấn khăn vàng tay cầm gươm
• 4 cô gái mặc áo dài dân tộc khiêng hương án có bộ tam sự (3 đồ tế) và trên đó đặt một quả cầu đỏ buộc khăn đỏ
• Hàng đô 6 chàng trai quần trắng, áo trắng, choàng áo dài nỉ đỏ, chít khăn đỏ rước kiệu đốn (kiệu cỗ), còn có tên gọi kiệu long đình
• Hàng đô nam quần trắng, áo trắng, choàng áo dài nỉ đỏ, chít khăn đỏ khiêng hương án trên bày ngũ sự (5 đồ tế)
• Đội bát âm 8 người quần the, áo dài đen, khăn xếp
• 2 thanh niên mặc áo dài nỉ đỏ khiêng trống cái
• Trên 10 trai niên vác bát bửu, chấp kích
• Đội nữ trẻ múa xênh tiền (8 người, gồm: 2 quần trắng áo dài vàng, 2 quần trắng áo dài đỏ, 2 quần trắng áo dài tím, 2 quần trắng áo dài xanh), tay cầm xênh tiền
• 5 cụ già làng mặc áo choàng xanh, đầu đội mũ dải đỏ, phía trước mũ thêu hoa cúc
• Đội bát cống (16 người) quần trắng, áo trắng, khoác áo dài nỉ đỏ, đầu chít khăn đỏ rước kiệu loan giá.

Đi sau kiệu loan giá là các cụ ông, cụ bà và khách thập phương phù giá kiệu.

Đám rước theo đội hình trên đi từ đình Động Phí xuống cuối làng thì quay lại đi ngược qua đình lên tới đầu làng mới trở về đình. Có hai đội hình không đi theo trật tự rước mà được đi lại tự do trong thời gian rước. Đó là đội múa rồng khi thì đi đầu dẹp đám, khi thì lộn lại phía sau phù giá kiệu, khi thì ngược lên trước đợi đám rước. Kiệu đốn cũng không theo trật tự của đội hình, có lúc kiệu thẳng tiến lên trước, có lúc lùi phía sau, có lúc quay tít. Với đội hình rước trật tự, nghiêm trang như trên nếu thiếu yếu tố động thì dễ có cảm giác tẻ nhạt. Vì vậy, đội múa rồng và hiện tượng kiệu đốn bay, kiệu đốn quay trên đường đã tạo ra không khí sôi động thu hút sự chú ý của các thành viên tham gia cuộc rước.

Rước văn

Khi đám rước qua đình ngược lên phía trên làng, đến Ngõ Hạ thì kiệu đốn tách khỏi đám rước vào nhà cụ Nguyễn Tân Quyến, 69 tuổi để rước văn ra đình. Bài văn tế chữ Hán do cụ Quyến soạn trên giấy dó vàng đặt trên một giá gỗ sơn son thếp vàng có hoa văn lưõng long chầu mặt nguyệt phủ vải đỏ gọi là giá văn và đặt trên bàn thờ tổ tiên. Từ Ngõ Hạ rẽ vào nhà cụ Quyến được trải chiếu hoa đỏ. Kiệu đốn đặt ngoài ngõ, các cụ và hàng đô kiệu vào nhà, sau tuần lễ, hai đô rước giá văn ra, đi trước là cụ đốc, sau đến một cụ quần the khăn xếp, thắt lưng đỏ đánh trống khẩu dẫn giá văn, đồng thời có một đô kiệu cầm bát nước vẩy, hàm ý tảy uế cho sạch sẽ, ba đô kiệu cầm cờ đuôi nheo múa dẫn đường đưa giá văn vào kiệu đốn.

Rước cỗ

Đoàn kiệu đốn rước giá văn đến từ đường nhà thờ họ Nguyễn Văn. Gia đình trải chiếu hoa từ đường chính vào nhà thờ tổ họ. Kiệu đốn đặt ngoài, mọi người vào nhà thờ họ làm lễ. Sau đó, chuyển mâm cỗ phủ vải vàng từ nhà thờ ra kiệu đốn. Đi đầu là ba đô kiệu quần trắng, áo trắng khoác áo dài nỉ đỏ thêu rồng đầu chít khăn đỏ tay cầm cờ đuôi nheo múa; tiếp là cụ già quần the khăn xếp, thắt lưng đỏ đánh trống chầu; tiếp là cụ đốc áo dài đỏ, khăn vàng, tay cầm hương; tiếp là cụ già quần trắng, áo the đen dài, khăn xếp, tay cầm hoa; kế theo đó là hai cụ áo choàng xanh đội mũ thêu hoa cúc phía trước, khăn đỏ bịt miệng nâng mâm cỗ phủ khăn vàng ra đặt vào kiệu đốn bên cạnh giá văn.

Hàng đô rước kiệu đốn có giá văn, mâm cỗ ra đường cái chính thì nhập vào đoàn rước kiệu giá loan đã xuống tới đầu làng và quay trở lại đình. Kiệu giá loan, các hương án tam sự, ngũ sự đặt ở vị trí đóng kiệu ban sáng. Riêng kiệu đốn được đưa vào đặt trước nhà Hoàng Thiên và các cụ truyền tay đón giá văn đặt lên hương án nhà hậu cung, sau đó hai cụ mặc áo choàng xanh, mũ thêu hoa cúc, khăn đỏ bịt miệng ra kiệu đốn gỡ bỏ khăn vàng phủ cỗ đưa mâm cỗ gồm oản quả vào gian chính giữa nhà đại bái.

Theo đó, đội múa xênh tiền vào múa chầu nhà thánh trước đài Hoàng Thiên. Mọi người đưa hương án tam sự, ngũ sự vào nhà đại bái. Đội cờ vào chầu và cắm cờ hai hàng giá gỗ trước đài Hoàng Thiên. Sau cùng, các cụ bô lão đón tay đưa bát nhang Thành hoàng từ kiệu loan giá và quả cầu đỏ vào đình. Kết thúc là các cụ bà biểu diễn múa kiếm trước đài Hoàng Thiên. Quả cầu lúc này được đưa lên chính giữa hương án ở đài Hoàng Thiên.

Nghiềm quân kết thúc.

4.3 Diễn biến lễ hội ngày mồng 4 tết

Dân làng gọi là ngày chính hội.

Buổi sáng cả làng đi rước. Qui mô, trật tự cuộc rước diễn ra như rước nghiềm quân vào chiều mồng ba tết chỉ khác là không có mục kiệu đốn rước văn và rước cỗ. Do vậy, kiệu đốn được thả sức tung hoành biểu diễn kiệu quay, kiệu bay suốt hành trình cuộc rước từ đầu làng đến cuối làng.

Điểm đáng lưu ý là buổi sáng mồng bốn tết tại nhà giám trai thờ vị thần chứng giám việc làm cỗ ở phía sau đình, dân làng giao trọng trách cho hai cụ già ở làng do dân làng lựa chọn với tiêu chuẩn gia đình không có bụi (không người thân bị mất trong năm), bản thân khỏe mạnh, vợ chồng hòa thuận, con cái thảo hiền, làm ăn gặp may mắn để thửa mâm cỗ chay dâng lên Thành hoàng làng. Mâm cỗ được sửa soạn trước bàn thờ ông giám trai hàm ý để ông chứng giám cho sự trong sạch, thành tâm của dân làng dâng cỗ lên Thành hoàng.

Hai cụ thửa lễ mặc quần trắng, áo the đen dài, khăn xếp miệng bịt khăn vải đỏ.

Mâm cỗ chay làm rất kỹ càng, gồm:

• 3 bát cơm trắng
• 3 bát chè thảo quả đỗ xanh
• 6 đĩa:
-- Đĩa đậu ván
-- Đĩa lạc (bỏ sạch vỏ)
-- Đĩa bí
-- Đĩa cùi dừa
-- Đĩa vừng
-- Đĩa giá đỗ (cấu đầu, cấu đuôi cho sạch sẽ)

Thửa xong mâm cỗ chay hai cụ già làng dâng lễ trước bài vị Thành hoàng ở gian hậu cung.

Trò vật cầu

Trò vật cầu của làng Động Phí được tổ chức vào chiều mồng bốn tết và là trò diễn hấp dẫn nhất của lễ hội.

Đầu tiên là các cụ bô lão của làng tổ chức tế Hoàng Thiên trước đài Hoàng Thiên. Lòng nhà Hoàng Thiên đặt hương án bày ngũ sự gồm: 1 đỉnh đồng, 2 cây nến bằng đồng và 2 mâm cỗ bày oản quả. Phía dưới hương án ngũ sự là hương án tam sự gồm 1 đỉnh đồng 2 cây nến bằng đồng; đặt quả cầu đỏ chùm vải đỏ ở giữa. Cụ từ đi vào hậu cung thắp hương lễ Thành hoàng và thỉnh chuông. Liền đó, một cụ xướng khởi chinh cổ thì trống cái đánh một hồi, tiếp trống con. 5 cụ già làng mặc áo thụng xanh vào tế trước đài Hoàng Thiên. Xướng tam khấu thì các cụ lạy 3 lạy. Xướng tấu biểu văn thì cụ tế văn mặc áo choàng đỏ đọc văn tế.

Văn tế viết chữ Hán trên giấy dó màu vàng đặt trên giá văn sơn son thếp vàng lưỡng long chầu mặt nguyệt.

Tế xong hai cụ già mặc quần đô vật, giả khố, đai lưng vải đỏ, một cụ đại diện bên xanh, một cụ đại diện bên đỏ vào vật chầu nhà Thánh trước đài Hoàng Thiên, gọi là vật keo. Tiếp là vật keo của hai đô vật trẻ cởi trần mặc quần đùi có vạt giả khố phía trước, một đô mặc quần xanh, một đô mặc quần đỏ.

Đội múa rồng vào chầu nhà Thánh.

Đội quân chạy gậy 17 người mặc quần trắng, áo trắng, áo nậu đỏ, đầu chít khăn đỏ, tay cầm gậy dài 2,2m sơn đỏ, một đầu gậy quấn dây màu xanh vào chầu nhà Thánh.

Đội nữ quan 9 bà mặc quần áo lụa trắng thắt lưng lụa hồng điều, đầu vấn khăn vàng vào chầu nhà Thánh.

Đội vật cầu gồm 14 quân xanh xếp thành một hàng, 14 quân đỏ xếp thành một hàng. Đầu hàng là hai vị mặc quần áo trắng khoác áo nậu đỏ thêu hoa văn vàng tay cầm cờ lệnh đuôi nheo, phía sau là hai cụ già quần trắng áo the đen, khăn xếp tay cầm trống bỏi vào chầu nhà Thánh.

Cuộc rước cầu từ đài Hoàng Thiên ra bãi vật cầu bắt đầu. Đi đầu là đội múa rồng; tiếp đội nữ quan cầm gươm; tiếp 4 cụ mặc áo the đen khăn xếp; tiếp 2 chàng trai múa cờ đi giật lùi dẫn kiệu cầu; tiếp 1 cụ cầm trống bỏi điều khiển kiệu cầu; tiếp 4 cô gái rước hương án trên đặt cầu, hai bên có hai cụ mặc áo choàng xanh phù giá kiệu. Sau đó là quân vật cầu và quân chạy gậy. Bãi vật cầu ở phía trước cửa đình. Dân làng đào 3 hố thẳng hàng nhau, 1 hố ở chính giữa sân, 1 hố ở phía đông, 1 hố ở phía tây cách hố giữa 30m. Lấy tâm điểm hố giữa dân làng kẻ 1 vòng tròn vôi trắng bán kính 30m qui định phạm vi diễn ra tranh cướp cầu. Người đến xem phải đứng ngoài vòng tròn vôi.

Dân làng rước hương án tam sự trên có đỉnh đồng, 2 cây nến bằng đồng và quả cầu ra đặt ở mặt tiền chính giữa sân. Hai cụ phù giá hương án cầu làm lễ gỡ tấm vải đỏ phủ quả cầu và nâng quả cầu đi ra chính giữa sân bỏ vào một hố đào sẵn. Hai người một cầm cờ lệnh xanh, một cầm cờ lệnh đỏ dẫn quân xanh, quân đỏ thành hai hàng dọc đến trước quả cầu.

Quân chạy gậy vào đưa gậy xuống hố để chuẩn bị bẩy quả cầu lên. Theo đó quân vật cầu cởi trần, mặt quần giả khố, dàn quân, một bên quân xanh, một bên quân đỏ đứng trước vạch vôi cách quả cầu khoảng 5m.

Sau khi quân chạy gậy bẩy quả cầu lên thì chạy ra vòng ngoài đứng giữ gìn an ninh trật tự không cho dân chúng đến xem ùa vào sân bãi và đội rồng múa dẹp đám ở vòng ngoài.

Quân xanh cử một người, quân đỏ cử một người vào cùng nâng quả cầu lên và theo hiệu lệnh trống khẩu thì tung quả cầu xuống sân, theo đó, quân xanh quân đỏ ùa vào tranh cầu. Hai người cầm cờ lệnh (cờ xanh, cờ đỏ) vừa phất cờ, vừa hò hét hai quân vào tranh cướp cầu. Quả cầu đỏ được nâng bổng trên tay quân xanh và quân đỏ, họ cố gắng lôi bằng được quả cầu về phía sân của đội mình. Nơi đó có hố đào sẵn sâu khoảng 0,5m. Quân bên nào mang được quả cầu bỏ vào hố bên mình là thắng. Cuộc tranh cầu diễn ra quyết liệt, bên ngoài dân làng hò reo cổ vũ hai đội.

Cuộc vật cầu diễn ra 3 keo. Quân nào có số keo thắng hơn thì các cụ bô lão ở làng công nhận phần thắng cho quân đó. Làng phát phần thưởng cho quân thắng.

Kết thúc vật cầu dân làng tắm rửa quả cầu, trịnh trọng đưa lên hương án tam sự và tổ chức rước quả cầu hồi cung. Quả cầu được rước vào đại bái đặt trước hương án ở gian giữa để đợi đến mùa vật cầu vào các năm sau.

III- VÀI LỜI TẠM KẾT

Động Phí là một làng nông nghiệp trải qua nhiều thế hệ dân làng đã sáng tạo nên những sinh hoạt văn hóa dân gian đặc sắc bao gồm nhiều tầng văn hóa đan xen. Đó là tầng văn hóa gắn với nghi lễ nông nghiệp, được thể hiện qua tục rước cỗ, tục sửa cỗ chay, tục cầu đảo và diễn trò cướp cầu liên quan đến tín ngưỡng cầu mưa và thờ mặt trời.

Đó là tầng văn hóa đề cao vai trò của các nhà nho đối với sinh hoạt văn hóa ở làng qua tục rước văn.

Đó là tầng văn hóa suy tôn các vị anh hào có công phù Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân thống nhất sơn hà đề cao chủ nghĩa yêu nước.

Đó là diễn xướng lễ hội hoành tráng kết dính các tầng văn hóa thể hiện vẻ đẹp của văn hóa làng qua trang phục và lễ nghi phản ánh ý thức cộng đồng làng xã và tinh thần yêu nước của dân tộc.

Từ tín ngưỡng cầu mưa hóa thân vào hội làng, trò rước cầu và vật cầu được dân làng Động Phí khôi phục đã làm cho ngày hội thêm sinh động, trở thành ngày hội làng hấp dẫn, giầu các trò diễn ở trong vùng, thu hút đông khách thập phương đến tham dự, tương lai hứa hẹn sẽ là địa chỉ của khách du lịch đến với lễ hội ở tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội.

• Người thực hiện: TS. Nguyễn Hữu Thức.
• Cộng tác viên: TS. Hoàng Sơn, Lê Tiến Dũng, Phạm Lự.
• Người cung cấp tư liệu:
-- Nguyễn Ngọc Thanh, Chủ tịch UB Mặt trận TQ xã Phương Tú.
-- Đỗ Văn Kiểm, Bí thư chi bộ, trưởng thôn Động Phí.
-- Nguyễn Xuân Mai, Trưởng ban di tích đình Động Phí.
-- Nguyễn Văn Bấy, thôn Động Phí, 92 tuổi.
-- Nguyễn Tân Quyến, thôn Động Phí, 69 tuổi.
-- Nguyễn Văn Biểu, thôn Động Phí.
-- Nguyễn Văn Bẩy, thôn Động Phí.
-- Nguyễn Dấn, cán bộ Bảo tàng tỉnh Hà Tây.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}