Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Sự chiếm lĩnh hiện thực trong tiểu thuyết nông thôn Việt Nam từ 1986 đến nay

Bùi Như Hải | Thứ Tư, 25/09/2013 09:00 GMT +7
Hiện thực cuộc sống luôn đa dạng và phức tạp, là “vùng trời, vùng đất thênh thang” (Lý Hoài Thu), thích hợp cho sự sáng tạo của tiểu thuyết. Nhưng mỗi nền văn học, mỗi thời đại, trào lưu, trường phái lại có một một quan niệm riêng về hiện thực. Bởi văn học là kết tinh của sự “tái tạo” những chất liệu cuộc sống qua thế giới chủ quan của nhà văn, và từ đó đã mở ra chân trời bất tận để nghệ sĩ nhập thân mà thể nghiệm. Nằm trong quy luật đó, tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này đã có sự chuyển biến tích cực, năng động trong việc chiếm lĩnh hiện thực đa chiều, phức tạp của đời sống nông thôn và nông dân đương thời.

 

Nhờ không khí dân chủ hóa trong đời sống sáng tác mà hiện thực được phản ánh trong tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này được nhìn nhiều chiều, phản ánh toàn diện, không chỉ bằng kinh nghiệm của cả cộng đồng mà còn cả kinh nghiệm của mỗi cá nhân. Hiện thực trong tác phẩm đã dược lựa chọn, chắt lọc, khái quát để hướng về “tối ưu hóa” khả năng miêu tả hiện thực ở chiều sâu ý thức. Nhà văn phản ánh hiện thực không phải từ một mà từ nhiều điểm nhìn, nhiều cách tiếp cận khác nhau. Nhà văn không chỉ miêu tả hiện thực mà còn nghiền ngẫm hiện thực, chủ động lựa chọn hiện thực, chủ động về tư tưởng và kinh nghiệm cá nhân trong ý thức sáng tạo. Nhà văn không chỉ tái tạo cái cụ thể trông thấy được, đồng thời còn phải tìm tòi, khám phá, tái tạo, cắt nghĩa, lí giải và đánh giá cái bí ẩn, tiềm tàng của hiện thực đời sống nữa. Trong khi tìm hiểu mối quan hệ giữa nhà văn và hiện thực, Nguyễn Thị Bình đã khẳng định: “Không phải ngẫu nhiên, người ta nói nhiều đến khái niệm “suy ngẫm”, “nghiền ngẫm” về hiện thực. Hiện thực là cái chưa biết, không thể biết hết, hiện thực phức tạp, cần phải khám phá, tìm tòi. Nhà văn lựa chọn hình thức nào không quan trọng bằng cách đánh giá của ông ta về hiện thực ấy. Ở đây kinh nghiệm riêng giữ vai trò quyết định, tạo ra sự độc đáo thẩm mĩ trong cái nhìn hiện thực của mỗi con người” (15; tr.22). Chính nhà văn Nguyễn Khải – cây bút sớm có tư tưởng đổi mới cũng đã ghi nhận: “Thời nay rộng cửa, gợi được rất nhiều thứ để viết. Tôi thích cái hôm nay, cái hôm nay ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vở”. Nhờ sự tiến bộ của thời đại, nhờ sự khai phóng về tư tưởng mà không ít nhà văn đi vào khai thác những mảng hiện hực trước đây chưa hề có hoặc hiếm khi xuất hiện. Họ đã tạo ra cho tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này hướng đi riêng nhưng phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Người đọc buộc phải đối diện với một hiện thực không phải tỉa tót, sửa sang cho vừa với ý đồ giáo huấn đã định sẵn mà đó là cuộc đời hết sức phức tạp đang diễn ra trước mắt mỗi người. Nông thôn được các nhà văn trở về không chỉ là hành trình tìm lại kỉ niệm mà họ lật tìm cả mảng màu đa diện trong bộ mặt văn hóa làng quê vốn là yên ả. Chính vì thế nên hơi thở của hiện thực và nhịp sống của thời đại đã len vào trong mỗi làng quê, hiện thực nhiều chiều được tái tạo, tìm kiếm, suy ngẫm, vì thế đã tạo dựng được bước đi đáng khích lệ trong việc đổi mới ở khu vực này.

Hiện thực nông thôn Việt Nam trước 1986 chủ yếu “vào ra hợp tác xã”, “xây dựng hợp tác xã” và “lề lối làm ăn tập thể”, vì thế nông thôn được dựng lên với không khí chung là “thuần chiều yên ổn”. Sự vận động đó chủ yếu hướng tới sự dung hòa các chủ đề xã hội, bởi “cái mà các nhà văn tìm kiếm là sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung, được xem là biểu hiện đẹp nhất, lý tưởng nhất của xã hội yên ổn phát triển” (32; tr.35). Hiện thực ấy được nhà thơ Tố Hữu ví von rất hình tượng: “Dân có ruộng dập dìu hợp tác/ Lúa mượt đồng ấp áp làng quê/ Chiêm mùa cờ đỏ ven đê/ Sớm khuya tiếng trống đi về trong thôn”. Nông thôn Việt Nam từ 1986 trở về sau dần thay da đổi thịt, văn xuôi và tiểu thuyết viết về nông thôn cũng phải chuyển mình để “các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 không còn bị ràng buộc bởi thực tế chiến tranh. Mặt khác, trong bản thân học cũng có những tìm tòi và chứng kiến khác các nhà văn giai đoạn trước hoặc là khác với chính bản thân mình” (32; tr.35). Các nhà văn không chỉ tiếp cận, khai thác hiện thực đời sống nông thôn và nông dân ở bề nổi, mà còn ở tầng sâu, mạch ngầm của nó để mang lại luồng sinh khí mới cho làng quê Việt Nam. Trần Cương đánh giá đúng khi cho rằng: “Các nhà văn viết về nông thôn sau 1986 đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực nông thôn kỹ càng hơn. Họ nhìn thấy những gì ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn. Không phải họ không hiểu chuyện tình nghĩa và những cái tốt đẹp trong nông thôn truyền thống, nhưng không vì thế mà làm mờ đi những vấn đề thuộc thực trạng của xã hội nông thôn hiện đại” (32; tr.36). Hướng ngoài bút vào hiện thực đời sống nông thôn và nông dân, tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này đã đặt ra và điều trần, bóc tước trần trụi, phơi bày toàn bộ những vấn đề nhức nhối đã và đang tồn tại trong xã hội nông thôn, và dĩ nhiên những mảng màu hiện thực ấy chờ đợi cả sự phán quyết nơi người đọc. Đặc biệt, tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này đã dũng cảm phản ánh những góc khuất của hiện thực nông thôn trong quá khứ và hiện tại đang làm bỏng rát tâm hồn người nông dân. Những vấn đề quá khứ nông thôn được soi chiếu trên tinh thần nhân văn. Chiến tranh được nhìn nhận, đánh giá lại qua số phận của những người nông dân mặc áo lính từ chiến trường trở về làng quê (Thời xa váng, Bến không chồng, Dòng sông Mía, Cuồng phong, Dòng sông chở kiếp). Cải cách ruộng đất được nhìn từ mặt trái của nó (Mảnh đất lắm người nhiều ma, Lão Khổ, Ba người khác, Giời cao đất dày, Thời của thánh thần). Những xung đột phe cánh, tranh chấp âm ỉ, quyết liệt về dòng họ, chi phái và cả những hủ tục, tập tục cũng được quan tâm ráo riết (Bến không chồng, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía, Bão đồng, Ma làng). Chiến tranh đã đi qua nhưng sự nghèo đói, bất công, nạn cường hào, ác bá, cảnh thu sản nghiệt ngã còn hoành hành khắp mọi nẻo đường thôn xóm. Sự phân biệt nghèo giàu có tính đẳng cấp cũng được đề cập đến (Thời xa vắng, Mảnh đất lắm người nhiều ma). Cái ác, cái xấu đã lợi dụng lòng cả tin, sự ấu trĩ của con người để hành động. Và một khi cái ác kết hợp cùng với sự ngu muội, dốt nát, những thiên kiến, hủ tục lạc hậu và ma lực đồng tiền hoành hành trên sự nghèo đói thì sự tàn phá của nó thật ghê gớm, không lường. Tiếng nói ấy vang lên khẩn thiết )(Chuyện làng Cuội, Mảnh đất lắm người nhiều ma, Dòng sông Mía, Ma làng, Lão Khổ...) Bên cạnh bài học mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc, còn là cái nhìn bao quát về hiện thực đời sống nông thôn và nông dân trong cơn lốc của cơ chế thị trường. Nhận thức lại hiện thực nông thôn và nông dân trở thành ý thức, “mệnh lệnh” của các nhà văn viết về nông thôn, nhằm cắt nghĩa hiện thực đời sống nông thôn và bản chất của con người nông dân một cách cốt yếu nhất. Từ đó, tiểu thuyết nông thôn giai đoạn này mở rộng và đào sâu vào hiện thực, tiến tới “làm nổi lên những khoảng sáng tối, những chỗ lồi lõm, những mặt khuất nẻo, mà nhìn từ xa ta cứ ngỡ là phẳng phiu, hoặc không dễ phân biệt. Sự sát gần sẽ cho ta thấy hiện thực như nó có, như chính nó, chứ không phải như ta ao ước, như ta muốn có” (159; tr16).

Các nhà văn đã khai thác triệt để những vỉa tầng hiện thực đa dạng, phong phú, tiếp tục khơi sâu, bám sát và bao quát những sự kiện, những vấn đề của đời sống nông thôn Việt Nam đương đại. Việc phản ánh chân thực hiện thực đời sống nông thôn đã mang lại sinh khí mới cho tiểu thuyết, thể hiện sâu sắc xu hướng dân chủ hóa trong văn học. Thành tựu bước đầu này đã khắc phục được những hạn chế của tiểu thuyết nông thôn giai đoạn trước, làm mới cách nhìn về hiện thực và con người, giúp người đọc hiểu được diện mạo, tâm hôn người nông dân Việt Nam trong những thời kỳ lịch sử đầy biến động.


Tham khảo 
1. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975-1995) những đổi mới cơ bản, Giáo dục, Hà Nội.
2. Nguyễn Thị Bình (2003) Một vài nhận xét về quan niệm hiện thực trong văn xuôi nước ta từ sau 1975, Nghiên cứu Văn học, (8), tr.24-27.
3. Trần Cương (1995), “Văn xuôi viết về nông thôn từ nửa sau những năm 80”, Tạp chí Văn học, (12), tr.37-41.
4. Phan Cự Đệ (2003), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Giáo dục, Hà Nội.
5. Phong Lê (1990), Văn học và hiện thực, Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Phong Lê (2005), Tiểu thuyết mở đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng Tám – 1945”, Nghiên cứu văn học, (9), tr.13-28.
7. Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn (đồng chủ biên) (2006), Văn học Việt Nam sau 1975 Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy, Giáo dục, Hà Nội.
8. Nguyễn Xuân Khánh (2003), “Suy nghĩ về hiện thực trong đổi mới tiểu thuyết”, Nhà văn, (12), tr.59-62.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}