Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Sức sống của một công trình lí luận văn học

Thứ Hai, 19/01/2015 15:11 GMT +7
PGS.TS Trần Khánh Thành
    Đại học Quốc gia Hà Nội

 
1. Một công trình lý luận văn học vượt qua được thử thách của thời gian hơn nửa thế kỷ quả không dễ. Làm sao tiếp cận được chân lí khoa học nhân văn trong biến thiên không ngừng của lịch sử, làm sao những tiếng nói nghệ thuật hôm qua không lạc lõng với hôm nay? Câu hỏi đó phần nào được giải đáp trong công trình lý luận văn học đã xuất bản đúng 70 năm trước của giáo sư Đặng Thai Mai: Văn học khái luận  (1944).

 
 
Đặng Thai Mai viết Văn học khái luận trong thời điểm đời sống văn học đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết trên cả phương diện lí luận và thực tiễn sáng tác. Trước đó mấy năm trên diễn đàn văn học công khai đã nảy sinh cuộc tranh luận nghệ thuật rất sôi nổi kéo dài từ năm 1935 đến năm 1939 giữa hai phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Từ cuộc tranh luận này nhiều vấn đề lý luật nghệ thuật được đặt ra như mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống xã hội, thiên chức cao quý và sứ mệnh thiêng liêng của nhà văn, chức năng của nghệ thuật, tính nhất thời và tính muôn đời của văn chương, phương hướng xây dựng nền văn hóa mới… Những vấn đề đó được đặt ra trong cuộc tranh luận, chúng được cọ xát từ hai luồng ý kiến khác nhau và nhờ thế có vấn đề đã trở nên sáng tỏ. Mặc dù khi viết Văn học khái luận, “cuộc bút chiến khá ồn” hơn 5 năm về trước “đã thành câu chuyện cũ” nhưng Đặng Thai Mai đã tiếp tục bảo vệ và phát triển quan điểm của phái nghệ thuật vị nhân sinh một cách khéo léo, thuyết phục và toàn diện hơn. Và một điều đáng trân trọng là tinh thần của Đề cương văn hóa Việt Nam (1943) được Đặng Thai Mai tiếp nhận và trình bày sâu sắc trong Văn học khái luận. Cuốn sách gồm 7 chương, trình bày 7 vấn đề cơ bản của lý luận văn học: Định nghĩa hai chữ văn học, vấn đề nguyên tắc, vấn đề sáng tác, nội dung và hình thức, điển hình và cá tính, vấn đề tự do trong văn nghệ, tinh thần quốc gia và văn học. Đặng Thai Mai đã lý giải những vấn đề lý luận đó bằng một lập luận chặt chẽ, bằng những tri thức mới mẻ, sâu rộng tiếp nhận từ cả hai nguồn văn hóa phương Đông và phương Tây. Đến nay đã  70 năm trôi qua nhưng nhiều vấn đề lý luận trong Văn học khái luận vẫn còn nguyên giá trị, vẫn phù hợp với bản chất và quy luật vận động của văn học. Ở đây chúng tôi xin nhấn mạnh lại một số vấn đề quan trọng mà đời sống văn học hôm nay vẫn cần phải quan tâm.
     
      2. Thứ nhất là vấn đề bản chất của văn học, mối quan hệ giữa lý trí và tình cảm trong sáng tạo văn học. Trong phần bàn về hai chữ văn học, Đặng Thai Mai không chỉ giải thích nguồn gốc khái niệm mà điều quan trọng hơn là chỉ ra bản chất của loại hình nghệ thuật này. Ông đã phê phán khá triệt để quan điểm của Hồ Hoài Thẩm và Lep Tônxtôi khi họ quá nhấn mạnh tình cảm trong sáng tạo văn học. Hồ Hoài Thẩm cho rằng “thực chất văn học là tình cảm”, và Lep Tônxtôi cũng từng khẳng định “nghệ thuật là để biểu hiện tình cảm”.  Trong lịch sử sáng tạo nghệ thuật có rất nhiều người coi trọng nội dung tình cảm, có người thu hẹp tiếng nói nghệ thuật trong thế giới cảm xúc, cảm giác chủ quan của nghệ sĩ. Đó là khuynh hướng cực đoan, phiến diện. Là người rất hăng hái trong mặt trận văn hóa nghệ thuật, khát vọng dùng văn học tác động thức tỉnh nhân dân, thúc đẩy xã hội, Đặng Thai Mai rất coi trọng nội dung tư tưởng của văn học. Nhưng ông không phiến diện, không vì coi trọng tư tưởng mà xem nhẹ tình cảm. Ông cho rằng: “Tình cảm một áng văn không thể lìa hẳn ngoài lý tính mà độc lập. Hơn nữa, muốn viết được những áng văn có thể cảm xúc người ta một cách tha thiết, nhà văn cũng phải đè nén tình cảm chủ quan của mình để cho lý tính có thể phân tích và biểu hiện tâm duy theo lối bút pháp thanh sở của thái độ khách quan” (1). Với cách lý giải này, Đặng Thai Mai đã chỉ ra mối quan hệ không thể tách rời của tư tưởng và tình cảm. Đặc biệt trong quá trình sáng tạo, tình cảm động lực thúc đẩy niềm cảm hứng, còn trí tuệ là định hướng, dẫn đường. Từ nhận thức đó, ông đưa ra một “định nghĩa” khá toàn diện về văn học: “Văn học có lực lượng để kích động tình cảm của buồng tim, để thỏa mãn sự yêu cầu mơ màng của tưởng tượng và đồng thời lại có một hệ thống lý tính thanh sở để dẫn đạo lương tri và trí tuệ của giống người nữa”(2).  Định nghĩa này đã nói lên được  bản chất của văn học và con đường tác động của nó đối với con người. Văn học là tiếng nói tư tưởng và tình cảm của con người, là lương tri, lương tâm của con người gửi vào nghệ thuật. Dù ở thời đại nào cũng không nên xem nhẹ một trong những mặt đó. Sự hài hoà giữa lý trí và tình cảm tạo nên vẻ đẹp hài hoà của cuộc sống con người. Cái đẹp của văn học cũng được tạo nên từ hai nguồn sáng ấy: vẻ đẹp trí tuệ và vẻ đẹp tâm hồn. Trí tuệ anh minh định hướng cho tình cảm cao thượng, tâm hồn cao đẹp chắp cánh cho trí tuệ vươn xa. Văn học không chỉ khám phá đời sống mà còn đáp nhu cầu “mơ màng của tưởng tượng”, văn học không chỉ phản ánh ngoại cảnh mà bộc lộ “tâm giới”, không chỉ quan tâm đến cuộc sống quá khứ, hiện tại mà còn vươn tới tương lai. Quan niệm của Đặng Thai Mai về văn học khá toàn diện, uyển chuyển, khắc phục được những phiến diện, cực đoan của Hải Triều và Hoài Thanh trong cuộc tranh luận về bản chất và chức năng của nghệ thuật từ mấy năm trước đó.
 
Vấn đề thứ hai mà Đặng Thai Mai đặc biệt quan tâm là phẩm chất của nhà văn trong hoạt động nghệ thuật. Trước hết ông khẳng định mối quan hệ không thể tách rời của văn học và đời sống hiện thực, mối gắn bó máu thịt của nhà văn với cuộc sống nhân dân. Để viết được những tác phẩm văn chương đích thực, văn chương vì đời thì nhà văn phải sống hoà nhập với nhân dân, thấu hiểu được tâm tư tình cảm của họ như thế mới tạo nên tác phẩm chân thực, có sức lay động lòng người. Những nguyên lý cơ bản trong sáng tác được ông nói lên đầy tâm huyết: “Nếu khối óc nhà văn không có những luồng sóng bất bình, nếu như tâm hồn kẻ cầm bút không cảm thấy những nỗi đau đớn thiếu thốn của kiếp người, những điều mong mỏi thiết tha của thời đại, nếu không lĩnh hội được tính cách luôn luôn biến thiên của thế giới, của nhân sinh, nếu như đối với hiện tại và tương lai không có một yêu cầu, một hy vọng, một tin tưởng gì thì cái thứ văn chương mơn trớn béo tốt như đẫy thịt, trơn như tảng trán hói của nhà trưởng giả, cũng chỉ là một “văn chơi” mà thôi, chả có ý nghĩa gì là văn học”(3).  Hơn ai hết, nhà văn chân chính là người dễ đồng cảm với nỗi đau nhân thế, nỗi khổ của kiếp người và nhạy cảm trước những biến đổi của đời sống. Nhà văn phải không chỉ nắm bắt được bản chất của thực tại mà còn là nhà tiên tri của thời đại. Nhưng khi nhận thức được chân lý, nhìn thấy được sự thực ở đời nhà văn cần có dũng khí, bản lĩnh mới có thể công khai bảo vệ chân lý, bênh vực lẽ phải, lên án cái xấu, cái ác. Đặng Thai Mai đã chỉ ra rằng điều đáng sợ là “nhà văn không có nhân cách xứng đáng với nghề nghiệp của mình”. Đó là những kẻ “không có tý cốt cách, những văn sĩ “bò sát” chỉ ton hót một hạng thống trị, hoặc a dua theo thời thượng. Trong lúc họ hy sinh bản ngã để chuốc lấy những danh giá lợi lộc nhất thì, cố nhiên là họ chỉ có thể viết được những áng văn “công thức” mà thôi”(4). Phải ý thức rất sâu sắc về phẩm chất của nhà văn và nhân cách của con người, Đặng Thai Mai mới viết lên những điều thấm thía như thế. Đó không chỉ là sự khái quát từ thực tiễn sáng tạo đương thời mà còn là chuyện của muôn đời. Những nhà văn “bò sát” như thế thời nào chả có và họ không thể viết được những tác phẩm văn chương có giá trị. Văn chương là tiếng nói của lương tâm, lương tri. Văn chương không thể đồng hành với cái ác, cái xấu và sự hèn nhát. Nhà văn chân chính bao giờ cũng biết tôn trọng bản ngã, tôn trọng chân lý, có như vậy họ mới có thể là những nhà văn chủ nghĩa, là chiến sĩ đấu tranh cho công lý và tự do.
 
Vấn đề tính dân tộc trong văn học nói riêng và trong văn hoá nói chung cũng là vấn đề mang tính thời sự. Hiện nay, trong thời đại hội nhập quốc tế một cách sâu rộng và toàn diện thì vấn đề bản sắc văn hoá càng được đặt ra. Trong Văn học khái luận, Đặng Thai Mai đã dành trọn một chương để bàn về Tinh thần quốc gia và văn học. Mấy chữ tinh thần quốc gia sau này được ông sửa lại là “tinh thần dân tộc”. Ở chương này ông lý giải một cách khoa học khách quan quy luật tiếp biến văn học trong quá trình giao lưu văn hoá giữa các dân tộc nhằm tránh quan điểm dân tộc hẹp hòi, bảo thủ khi tiếp nhận tinh hoa văn hoá nhân loại. Ông chủ trương: “Chúng ta cần phải bảo vệ những di sản quốc gia trong ngôn ngữ, văn tự nước ta, chúng ta lại càng cần bồi bổ tư tưởng và xây đắp một nền văn hóa mới, bằng tất cả mọi phương tiện có công hiệu và đã kinh nghiệm ở nước ngoài”(5). Điều đáng trân trọng là ông rất thẳng thắn khi trình bày ý kiến của mình về tinh thần dân tộc. Ông không đồng ý với cách giải thích của Lan Khai về tinh thần dân tộc là “kết quả của sự gom góp tất cả các nét hay mà dân tộc ấy sẵn có”. Đặng Thai Mai nhìn tính dân tộc một cách toàn diện hơn và biện chứng hơn. Ông cho rằng, tinh thần dân tộc luôn được vận động và nó có cái hay cái dở. Nhà văn phản ánh tinh thần dân tộc trên cơ sở đời sống của dân tộc chứ không phải minh hoạ theo một vài khái quát trừu tượng. Ông cho rằng, “một nền nghệ thuật chỉ biểu hiện cái hay của dân tộc và quên bẵng cái dở đi,vị tất đã có những hiệu quả tốt”. “Không phải là vì nhà nghệ sĩ im lỉm đi mà nết xấu, nết dở tự nhiên nó tiêu tan! Tôi lại e rằng nếu không có thể nhận thấy nết xấu trong dân tộc thì cũng không có thể biểu hiện được cái hay của nó”(6).Văn học nghệ thuật của chúng ta cần giáo dục tinh thần tự phê một cách nghiêm khắc. Những lời ca tụng giả dối chẳng ích lợi gì cho dân tộc. Trong quá trình giữ gìn bản sắc văn hoá cũng rất cần thiết phải hiểu rõ cái hay cái dở của dân tộc mình. Đó là bài học mà Đặng Thai Mai đã rút ra từ bảy mươi năm trước.
 
Mặc dù chưa bao quát được toàn bộ những vấn đề cơ bản của lý luận văn học, mặc dù có những quan niệm hơi cứng nhắc về tự do sáng tác, về phương pháp sáng tác, về nội dung và hình thức trong sáng tạo văn học nhưng công trình Văn học khái luận là một cuốn sách lý luận có giá trị cao, đặt nền móng cho lý luận văn học cách mạng, góp phần thúc đẩy tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.
_________________________
                                            
(1). Văn học khái luận (tái bản), Nxb. Liên hiệp, Sài Gòn, 1949, tr. 23
(2). Văn học khái luận (tái bản), Nxb. Liên hiệp, Sài Gòn, 1949, tr. 26
(3). Văn học khái luận (tái bản),  Nxb. Liêp Hiệp, 1949, tr.61 - 62
(4). Văn học khái luận (tái bản),  Nxb. Liêp Hiệp, 1949, tr. 90 - 91
(5). Văn học khái luận (tái bản),  Nxb. Liêp Hiệp, 1949, tr. 195
(6). Văn học khái luận (tái bản),  Nxb. Liêp Hiệp, 1949, tr. 179 – 180
 
                                                              
 
 
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}