Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Địa phương:

 

Thâm nhập lãnh địa vàng “thổ phỉ” Pác Lạng

Âu Vượng | Thứ Hai, 07/10/2013 03:21 GMT +7
(Văn Hiến) - Từ năm 1990 của thế kỷ trước, mỏ vàng Pác Lạng (dân làm vàng hay gọi là núi vàng Ma Nu) nằm trên địa bàn hai xã Thượng Quan và Đức Vân, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn bùng nổ. Dân khắp nơi kéo đến tá túc khai thác vàng trái phép. Nhiều cuộc đuổi, truy quét, giải toả của chính quyền diễn ra liên tục, nhưng chỉ một thời gian ngắn thì đâu lại vào đó. Lòng núi biến dạng rỗng ruột, tài nguyên bị mất cắp theo năm tháng, nghiện ngập dặt dẹo cứ tồn tại từ năm này sang năm khác... Để thông tin đến bạn đọc, chúng tôi đã có cuộc thâm nhập lãnh địa vàng “thổ phỉ” xuyên qua hai thế kỷ này...

 

JPEG - 41.2 kb
Thanh niên thôn Khau Liêu, ai cũng biết khò vàng

Bài 1: Nỗi niềm Khau Liêu

Trên ngọn núi cao nhất của xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn tỉnh Bắc Kạn có một khu dân cư khá đông đúc, nhà dân nhấp nhô bám theo sườn núi, có tên là thôn Khau Liêu. Mặc dù dốc đứng, đến người đi bộ cũng vô cùng khó khăn, thế nhưng người dân nơi khác vẫn miệt mài đến xin tạm trú, tạm vắng càng làm cho Khau Liêu luôn đông đúc...

Cả thôn theo nghề sái sẩm

Phải mất hơn chục km đường đất lầy lội, vén mây vượt qua mưa rừng gió núi nơi đỉnh cao nhất của vòng cung Ngân Sơn, cuối cùng tôi cũng đến với thôn Khau Liêu. Ông Triệu Văn Trung – Trưởng thôn cho biết: Khau Liêu được hình thành từ những năm 1990 của thế kỷ trước, do những người đi mót sái vàng cắm trụ lại lâu ngày thì thành thôn như hôm nay. Ban đầu chỉ có mấy hộ gia đình cư trú, sau khi bãi vàng Pác Lạng nổ ra dân thấy làm ăn dễ, số người đến cư trú tăng lên, nay đã là 47 hộ gia đình, 187 nhân khẩu thường trú. Phân trường Tiểu học Khau Liêu được Nhà nước đầu tư khang trang, với 38 em học sinh các lớp Tiểu học. Mặc dù đã cố gắng hạn chế người đến xin tạm trú, thế nhưng tại Khau Liêu vẫn đông, nay đã khoảng 70 hộ, số nhân khẩu di chuyển theo mùa vụ nên thôn không nắm rõ, vì họ chỉ xin tạm trú để thuận tiện cho việc đi dặt dẹo (ngôn từ của người làm vàng dành cho người đi mót nhặt sái) ở mỏ vàng. Ở Khau Liêu mùa nào cũng vậy, mở mắt ra nhìn thấy mây trắng xóa bủa vây gốc cây, từ sáng sớm người nông dân một điệp khúc quen thuộc là cắp nách vỏ bao tải, bên trong có cái búa đinh nhỏ, họ leo đến những nơi có các đống đá từ trong các hang vàng đổ bỏ, họ ngó nghiên nhặt nhạnh, bóc gõ từng hòn đá to bằng cái nồi cơm để gọt lấy những viên đá có quặng vàng nhỏ như ngón tai, cái chén rồi bỏ vào bao tải, được khoảng 15 đến 20 kg (gọi là một xách) họ gùi về nhà. Khi nào được đủ mẻ sát, họ nổ máy nghiền, bỏ đá vào xay như lúa gạo, có điều phải nghiền mịn như bột, rồi tua qua nước lấy những hạt vàng nhỏ li ti, gom lại rồi dùng ngọn lửa khò cô thành viên đen bán. Phần quặng lắng lại đầu máng nước (gọi là mòi), họ lại thu gom rồi ngâm vào bể nước, rồi thả chất xyanua tạo lắng để tách lấy vàng. Công việc nhặt đá trên núi không hề dễ dàng, vừa phải có kinh nghiệm, có cả quan hệ nữa mọi việc mới được hanh thông.

JPEG - 36.8 kb
Họ còn biết sửa chữa cả máy nghiền đá

Chị Bàn Thị Mùi, có hơn 10 năm nhặt sái vàng cho biết: “Mỗi ngày đi dặt dẹo cũng được khoảng trăm nghìn, ngày trước có lúc may mắn cũng kiếm vài trăm nghìn đồng mỗi ngày, nhưng bây giờ thì khó khăn lắm. Vì đông người đi dẹo quá. Chịu khó như mình cũng chỉ đủ tiền mua gạo ăn...”. Còn anh Phạm Văn Sinh quê quán ở mãi Nam Sách, tỉnh Hải Dương đến mỏ Pác Lạng từ năm 2000. Thấy nghề mót nhặt sái sẩm cũng sống được, đã lấy quách cô vợ thôn Khau Liêu định cư luôn cho thuận nghề nhặt đá kiếm sống.

Có xe máy mới là.. thoát nghèo

Để minh chứng cho việc các nhà đều gắn bó với nghề đi dẹo trên núi vàng, ông Trung thản nhiên quả quyết: “Cả thôn Khau Liêu ai cũng phải đi mót quặng vàng, nhặt đá sái, chịu khó dặt dẹo thì mới có cơm ăn, anh bảo ở đây không có ruộng, đất trồng ngô cũng ít lắm, chẳng đủ cho người già làm, bọn trẻ phải đi dẹo trên núi mới có tiền mua gạo. Sống ở giữa mỏ vàng Pác Lạng nhưng không có ai giàu đâu, nhưng chịu khó, có sức khoẻ thì chẳng ai bị đói cơm”.

Trong câu chuyện, được biết Thôn Khau Liêu có 47 hộ gia đình thường trú ổn định, nhưng không có đất ruộng cấy lúa. Cả thôn chỉ có 92 con gia súc, bao gồm: 12 con trâu, 41 con bò, 39 con dê. Thời tiết khắc nhiệt, mùa đông đến gia súc, gia cầm chết rét như ngả rạ nên chẳng mấy ai đầu tư nuôi nhiều vì sợ chúng chết rét thì lỗ vốn. Đàn gia cầm cũng nuôi thả tự nhiên, nhà nào nhiều chỉ có vài con nuôi chơi để cải thiện lúc có khách, mọi đồ ăn thứ uống người dân Khau Liêu đều phụ thuộc các phiên chợ.

Chính vì thôn không ruộng, rẫy, không ao chăn thả cá nên nhà nào cũng cơ cấu phương tiện sản xuất gồm: Bao tải, búa đinh, cuốc xẻng, xà beng và máy nghiền đá, bể lắng hóa chất, cuối cùng là đồ nghề phục vụ cô vàng. Từ cơ cấu sản xuất chính là nhặt sái, nhặt đá trên núi kiến ăn qua ngày, cuộc sống cơ cực, mọi người trong thôn sống đoàn kết, thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Mỗi khi có bãi đá nào có thể kiếm cơm được, họ gọi nhau đến cùng hưởng, với hy vọng ai cũng có cái ăn qua ngày.

Hôm chúng tôi đến Khau Liêu đúng ngày mưa phùn, gió rét, mọi người không thể đi dẹo. Đám phụ nữa thì tập trung tụm năm, tum ba quanh bếp củi sưởi lửa tán gẫu. Cánh đàn ông thì quây quần uống rượu rôm rả. Còn ai không biết uống rượu thì mở máy nghiền ra lau dầu, bơm mỡ các vòng bi. Tôi chộp hỏi một thanh niên: “Có học sửa chữa máy nổ không mà tháo giỏi thế?”. Anh ta trả lời thản nhiên: “Đàn ông ở đất vàng này ai cũng là thợ máy nổ, nếu không biết sửa chữa có mà chết đói”.

Đi bộ khắp thôn Khau Liêu, một ngày mưa, mọi người không đi dẹo nên khá đông đúc, với sơ tính của chúng tôi thì con số tạm trú có thể lên đến vài trăm người. Một thôn nhỏ nhưng đến cả chục quán bán đồ dùng sinh hoạt hàng ngày như: Đồ bảo hộ lao động, thiết bị máy nổ, máy phát điện, dây điện, ống dẫn nước, sửa chữa cả ô tô, hàng ăn uống giải khát, đại lý bánh kẹo, cả tiệm chăm sóc sắc đẹp. Các dịch vụ mở ra chủ yếu để phục vụ cho người đến khai thác khoáng sản. Còn dân trong thôn Khau Liêu chẳng có nhu cầu lớn ngoài mấy thứ phục vụ đi mót sái quặng.

Thôn này không tư liệu sản xuất, chỉ sống bằng nghề đi dẹo, nhưng kinh tế trong thôn cũng khấm khá. Theo báo cáo của Trưởng thôn, ở Khau Liêu đã có hơn chục chiếc ô tô con. Còn xe gắn máy không thể đếm được, vì ai biết đi xe máy, thì đã có dùng. Trong thôn chỉ còn 10 hộ diện nghèo, 4 hộ cận nghèo. Những hộ nghèo toàn rơi vào những hộ thiếu lao động chính, do không có người đi dẹo sái sẩm mới bị cảnh nghèo.

Câu chuyện nghèo và tiêu chí xóa nghèo ở Khau Liêu cũng rất khác. Nếu như các địa phương khác căn cứ vào nhân lực, tư liệu sản xuất, tai nạn rủi ro để được nằm trong tốp hộ nghèo, thì Khau Liêu xóa nghèo theo vật chất hiện có. Vì cùng cảnh mót sái sẩm trên non xanh có được như thế nào, có lẽ chỉ có “Ngọc Hoàng” mới biết. Chính vì vậy, việc xóa nghèo dựa trên sự thực thà của từng gia chủ. Vì không có các căn cứ chính xác để tính xếp hộ nghèo, mỗi khi xã “giao chỉ tiêu xóa nghèo”, dân Khau Liêu đều nhìn vào tài sản phát sinh của các gia đình để bình bầu mỗi dịp cuối năm. Ví dụ năm 2012 này, thôn Khau Liêu vừa bình xét cho 3 hộ được thoát nghèo, vì cả thôn đều nhìn thấy mỗi hộ nghèo này đã mua được hẳn hai xe máy mới trong năm, nên kiên quyết không xếp họ vào diện nghèo nữa.

Ông Đinh Quang Hiếu – Bí thư huyện uỷ Ngân Sơn chia sẻ:

“Chúng ta không thể có đủ người ngồi đó mà trông vàng mãi được. Ai cũng thế thôi, họ nằm trên vàng mà không lấy mới là lạ. Tôi nói thế không phải là ai cũng làm vậy. Hơn hai chục năm qua, tôi từng tham gia nhiều cuộc giải toả tại đó rồi, vất vả lắm. Nhưng giải toả xong, họ lại kéo đến dựng lán trại, giữ vàng ở Pác Lạng là khó lắm. Theo tôi, tại sao tỉnh không giao hẳn cho Công ty khoáng sản Bắc Kạn để người ta tổ chức bảo vệ và khai thác luôn. Mỏ vàng mà có chủ thì mới giữ được khỏi nạn khai thác trái phép…”.

(Còn nữa)


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}