Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Thành tựu kịch thơ trước Cách mạng tháng Tám

Thứ Bảy, 01/11/2014 16:49 GMT +7
Đỗ Thị Thanh Nga (Hà Nội)

Ngay từ cuối những năm ba mươi của thế kỷ XX, trong đời sống văn học sôi động, phong phú đương thời, kịch thơ đã có bước khởi đầu vô cùng ấn tượng cả về số lượng lẫn chất lượng.

Nếu như kịch nói giai đoạn trước 1945 đi sâu khai thác trực diện các xung đột hiện thực trong xã hội đương thời, thì kịch thơ lại thiên về cảm hứng lãng mạn. Về đề tài, các tác giả kịch thơ thường lựa chọn chính lịch sử dân tộc hoặc các tích trong sử ký, liệt truyện của Trung Hoa để xây dựng cốt truyện kịch. Hướng về quá khứ, các vở kịch đề cao tấm gương trung nghĩa, tiết liệt của các bậc tiền nhân như sự khảng khái can trường của Trần Can, tài trí của Hưng Đạo Vương, sự hi sinh cao cả thầm lặng của Lý Chiêu Hoàng, nỗi niềm trăn trở của Ngọc Hân công chúa,… Không khí hào hùng, bi tráng của quá khứ được gợi lại qua từng nhân vật, với cá tính đậm nét qua từng xung đột: lòng tận trung của Phạm Thái, sự quyết liệt, can đảm của Yêu Ly, lòng thủy chung sắt son và trung nghĩa của Kiều Loan,… Xung đột kịch chủ yếu xoay quanh mâu thuẫn giữa khát vọng cao cả, dục vọng thấp hèn, ước mơ vĩnh cửu và những giới hạn nhất thời, cái đẹp, tình yêu với âm mưu, thủ đoạn, sự hèn nhát mạo danh cái cao cả.
 
Trong bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam giai đoạn này, thực dân và phát xít tìm mọi cách ru ngủ nhân dân bằng các chính sách cai trị văn hóa mới, ru ngủ thanh niên qua thuyết Đại Đông Á, các khẩu hiệu Nhật – Pháp phục hưng, Cách mạng quốc gia,… tổ chức các phong trào thể dục thể thao vui vẻ trẻ trung nhằm tạo ra ảo tưởng về dân chủ, quên đi tinh thần đấu tranh. Mưu đồ đó thực sự đã vấp phải làn sóng phản đối ngầm của trí thức Việt Nam. Họ lợi dụng chính những khoảng trống tự do của bầu “dân chủ” đó để gửi gắm tinh thần dân tộc qua những sáng tác đề cao lịch sử oai hùng của đất nước, hướng người xem đến lý tưởng sống cao đẹp qua hiệu ứng thanh lọc của mỗi vở bi kịch, qua mỗi hình tượng nhân vật. Phong trào phục cổ thực chất là một phong trào chấn hưng văn hóa dân tộc. Các tác phẩm cũng chia hai dòng rõ rệt dưới ảnh hưởng của thời cuộc. Cũng như Thơ mới, kịch thơ thể hiện tâm sự, quan niệm, cách xử thế của các thi sĩ trong “cuộc đời bát nháo” (chữ dùng của GS Văn Tâm). Các vở Vân muội, Tâm sự kẻ sang Tần, Cô gái ma, Bóng giai nhân… đại diện cho dòng lãng mạn đi sâu vào những chuyện bi tình, nêu bật hình tượng nhân vật lạc loài, mặc cảm “sinh nhầm thế kỷ”, tâm trạng chán chường, “lánh đời”.
 
Dễ dàng nhận thấy đa phần tác phẩm kịch thơ đều có đề tài lịch sử. Với đề tài lịch sử, tác giả kịch thơ có thể khai thác tính kịch ở những biến cố lịch sử hấp dẫn với chiến trận, những cuộc tranh giành quyền lực; và lấy “chất thơ” từ cảm hứng lãng mạn về một quá khứ vàng son, cùng những mối bi tình đã đi vào huyền thoại.
Dòng  mang âm hưởng anh hùng ca là những tác phẩm đầy tráng khí, những vần thơ mỹ lệ, hào hùng làm sống lại những trang vàng lịch sử, khơi gợi lòng yêu nước, nêu cao tinh thần dân tộc, như: Trần Can, Hận Nam Quan, Kiều Loan, Lên đường, Về Hồ, Bến nước Ngũ Bồ…  Đặc thù của kịch là cấu trúc của các tầng bậc xung đột, vì vậy việc lựa chọn nội dung của đề tài đặt ra yêu cầu khá khắt khe với nghệ sĩ. Theo những chủ đề mà tác giả hướng tới có thể lựa chọn cho mình những khúc quanh nhất định của lịch sử làm nội dung phản ánh nhưng thông thường sẽ phải là tình huống để bộc lộ rõ nhất tính cách nhân vật. Hình thành trong bối cảnh văn hóa đa chiều, hệ tư tưởng không thống nhất nên kịch thơ về đề tài lịch sử giai đoạn này có nội dung đa dạng, phong phú.

Kịch thơ về chủ đề yêu nước
 
Mượn tích xưa nói chuyện đời nay, các nhà viết kịch hầu hết đều kín đáo gửi gắm trong mỗi vở lòng yêu nước thầm kín của mình. Trong thời điểm thực dân Pháp kiểm duyệt và khủng bố gắt gao, lòng yêu nước của trí thức đương thời chỉ được bộc lộ kín đáo qua việc ngợi ca những hình tượng anh hùng dân tộc đã lưu danh sử sách như Hưng Đạo Vương, Nguyễn Trãi, Lê Lai, Lê Lợi,…  Vở Hận Nam Quan của Hoàng Cầm (1935) khắc họa hình tượng Nguyễn Trãi trong mối trăn trở nợ nước và tình nhà, đã lựa chọn tận trung báo quốc là tận hiếu với cha, gác tình nhà lên đường vì nghĩa lớn. Vở Duy Tân của Thao Thao (in trên báo Bắc kỳ số 44, ngày 2/2/1945), dựng lại cuộc đấu tranh giữa các phe phái Tân – Cựu trong triều nhà Nguyễn về đường lối cứu nước. Trận giết Liễu Thăng của Đỗ Hoàng Lạc (in trên Tri tân số 65) với ba hồi, dựng lại trận chiến oai hùng của quân Lam Sơn vây tên tướng giặc cáo già. Vở kịch ngắn Lê Lai dựng lại hình tượng người anh hùng hi sinh cho chủ, cho đại nghiệp. Vở Ngọc Hân công chúa chỉ có một màn, tái hiện nỗi niềm trăn trở của công chúa trong đêm tân hôn trước sự chia cắt của đất nước, và nguyện ước muốn cùng người anh hùng áo vải thống nhất giang sơn một dải. Nhìn chung, nội dung của các vở kịch mang tính anh hùng ca thường toát lên cảm hứng ngợi ca không khí hùng tráng của lịch sử, lòng tự hào về các nhân vật kiệt xuất. Chỉ có một số vở gợi ra không khí bi kịch khi nhân vật phải đứng ra trước sự lựa chọn quyết liệt giữa hai tình cảm đều có sức nặng như nhau. Có thể kể đến vở Lý Chiêu Hoàng (Tri tân  số 32) của Phan Khắc Khoan, vở kịch đề cao lòng hi sinh vì đại nghĩa của vị nữ vương bất hạnh cuối cùng của triều Lý – hoàng hậu đầu tiên của triều Trần. Vở Kiều Loan (Khởi thảo tháng 2-1942, viết lại lần thứ tư và sửa sang hoàn chỉnh tháng 5-1944) của Hoàng Cầm là bi kịch giữa tham vọng bá quyền và lòng trung nghĩa với đất nước, giữa tình yêu và quyền lực. Trong vở này, Gia Long được xây dựng như kẻ chiếm đoạt ngôi vua, cướp nước của nhà Tây Sơn. Kiều Loan, người con gái giả điên ngàn dặm tìm chồng, có nhan sắc và tiếng hát lay động lòng người trở thành mối họa trong mắt vua tôi triều Nguyễn.  Kết thúc vở, nàng tự tay đâm chết người chồng mà mình rất mực yêu thương nhưng đã tham vàng phụ ngãi, làm tay sai cho bạo chúa Gia Long.
 
Kịch thơ phản ánh khát vọng tìm đường, được xả thân vì lý tưởng của kẻ sĩ
 
Một nội dung khá phổ biến trong kịch thơ về đề tài lịch sử giai đoạn này là khát vọng kẻ sĩ được xả thân đền ơn tri ngộ, xả thân vì đại nghĩa. Đây là một chủ đề lặp lại nhiều trong những vở kịch mượn đề tài lịch sử thời Xuân Thu chiến quốc.  Một loạt các vở có thể kể tên như Kinh Kha, Người mù dạo trúc, Quán biên thùy, Yêu Ly, đều hướng chủ đề về hình ảnh kẻ sĩ chết vì người tri kỷ. Các nhân vật như Phàn Ư Kỳ, Kinh Kha, Cao Tiệm Ly, Yêu Ly đều là những con người không màng danh lợi, tranh đấu không vì một mục đích tối thượng là vì dân, vì nước cụ thể. Họ là hiện thân của trí thức tiểu tư sản Việt Nam trong giai đoạn nhận đường, chưa tìm ra lý tưởng để phụng sự.
 
Kịch thơ về bi kịch tình yêu trong bão tố lịch sử
 
Bi kịch tình yêu cũng là một chủ đề nổi bật trong kịch thơ giai đoạn này. Vở Eternal Regret (Trường hận) của Vi Huyền Đắc là sự sáng tạo lại từ bản Trường Hận ca của Bạch Cư Dị, là một vở kịch Pháp ngữ xuất sắc, được chuyển ngữ dưới bàn tay tài hoa của Thế Lữ thành vở Dương Quý Phi (gồm hai phần Cẩm Hương đìnhMã Ngôi Pha). Cùng với Yêu Ly của Lưu Quang Thuận, Trường hận – Dương Quý phi của Vi Huyền Đắc – Thế Lữ được nhà nghiên cứu Phạm Vĩnh Cư đặc biệt đề cao, đánh giá là hai kết tinh của thể loại bi kịch trong kịch Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Quả thực, ngòi bút của hai tác giả đã làm sống lại tấn bi kịch tình yêu, nó đồng thời là tấn bi kịch lịch sử đã được biết bao nhà thơ và nghệ sĩ Trung Hoa, Á Đông thuộc nhiều thời đại khác nhau khai thác. Sức hấp dẫn của câu chuyện tình tuyệt đẹp giữa Đường Minh Hoàng – Dương Quý Phi – An Lộc Sơn nằm ở khát vọng nhân bản muôn đời của nhân loại: khát vọng tôn thờ cái đẹp. Hai nhà văn Việt Nam hiện đại đã đưa đến cho câu chuyện lịch sử pha màu huyền thoại ấy những nét mới lạ. Ở đây, bi kịch tôn thờ cái đẹp, và chỉ duy nhất cái đẹp đã được gia tăng âm hưởng bằng sự xuất hiện của nhân vật An Lộc Sơn, tạo cho câu chuyện tình tay ba mang sắc thái mới. Thoát li sự thật lịch sử, nhân vật An Lộc Sơn ở trong vở này không còn dáng vẻ thô lỗ hung bạo của một tộc trưởng man di vùng thảo nguyên. An Lộc Sơn xuất hiện như một tráng sĩ siêu quần, có tiền đồ xán lạn, biết yêu, biết tôn thờ cái đẹp, sẵn sàng ném cả cái tiền đồ ấy xuống chân người mình ái mộ. Đây là điểm thắt nút của bi kịch. Người đọc, người xem vốn đã ngưỡng mộ mối chân tình hoàn hảo mà Đường Minh Hoàng dành cho Dương phi, lại bị cái nhiệt tình nồng cháy của An tướng quân lôi cuốn. Chính ngọn lửa ấy đã chinh phục Ngọc Hoàn, làm bừng lên trong nàng tình yêu mãnh liệt không gì dập tắt nổi với An Lộc Sơn. Chính tình yêu này đã làm cho hình tượng Dương Quý Phi lộng lẫy hơn bao giờ hết.
 
Cùng chủ đề bi kịch tình yêu, vở Huyền Trân công chúa (1935) của Huy Thông, Lý Chiêu Hoàng của Phan Khắc Khoan, Kiều Loan của Hoàng Cầm đan lồng bi kịch tình yêu vào bổn phận cá nhân với dân tộc. Nhìn chung, những vở bi tình đều có điểm chung: khi đất nước li loạn, tình yêu cá nhân không thể tồn tại, con người mang trọng trách lịch sử trên vai buộc phải hi sinh tình cảm riêng tư vì đại cục. Nhưng sự hi sinh đó đầy đau đớn, day dứt chứ không hề thanh thản. Cảm xúc đem đến cho dộc giả, khán giả là nỗi ngậm ngùi, xót xa trước sự chia lìa của đôi lứa, cái chết của nhân vật như một tất yếu khi cưỡng lại bánh xe của lịch sử. Đây cũng là nét khác biệt trong kịch lịch sử trước cách mạng tháng Tám và giai đoạn sau cách mạng tháng Tám. Những vở kịch thơ giai đoạn 1945-1954 coi nhẹ phần hi sinh của cá nhân và chủ yếu nhấn mạnh và đề cao lý tưởng chung cao đẹp.
 
Thể thơ tám chữ tự do như là hình thức cơ bản của kịch thơ Việt Nam.
 
Về hình thức, các nhà viết kịch thơ thường dùng câu thơ tám chữ. Điệu tám chữ giúp cho sự thuật tả tư tưởng được dồi dào thoải mái. Đây cũng chính là hậu thân của câu nói lối, vốn có giá trị tuyên xướng rất thích hợp với sân khấu... Theo Hoài Thanh thì thơ tám chữ là biến thể của ca trù, thể hát nói, gần gũi với lời thoại. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Huệ Chi thì thể thơ này là sản phẩm sáng tạo lại của các nhà thơ mới từ thể cổ phong trường thiên. Ngoài ra các thể thơ truyền thống như ngũ ngôn, thất ngôn, lục bát, song thất lục bát cũng được sử dụng linh hoạt trong lời thoại cho phù hợp tâm trạng nhân vật và hành động kịch.
 
          Qua khảo sát, có thể thấy từ những tác phẩm kịch thơ đầu tiên (Anh Nga, Tiếng địch sông Ô của Phạm Huy Thông) đến những tác phẩm kịch thơ giai đoạn sau cách mạng đều sử dụng thể thơ tám chữ. Vậy đâu là ưu thế của thể loại để nó trở thành hình thức độc tôn của kịch thơ? Đặc trưng của thoại kịch là bộc lộ xung đột, hành động và tính cách qua lời thoại, và lời thoại phải là ngôn ngữ đời thường. Kịch thơ lịch sử đòi hỏi phải tạo ra không khí cổ kính, trang nghiêm. Thể thơ tám chữ với kết cấu lỏng, không giới hạn câu chữ, không gò ép niêm luật vận đối gần gũi với lời thoại thông thường.  Độ dài số lượng câu hoàn toàn phù hợp với hành động của nhân vật. Có thể khảo qua một vài trường hợp tiêu biểu. Vở Phạm Thái của Phan Khắc Khoan viết về nhân vật Phạm Thái với xung đột là mâu thuẫn giữa khát vọng dùng chí anh hùng khôi phục lại triều Lê đã mục nát với hiện thực bất khả thi là vương triều đã đến ngày tận số. Bên cạnh đó, còn có xung đột giữa lý tưởng phụng sự quốc gia và tình yêu cá nhân (mối tình Nhị nương - Quang Ngọc), giữa dục vọng tầm thường và lí tưởng cao cả (nhà sư - Nhị nương – Quang Ngọc); giữa cái thanh cao, từ bi của đạo Phật với ham muốn thấp hèn (nhà sư giở trò đê tiện với Nhị nương). Vở kịch đăng kéo dài trên Tri tân (10 số), hành động chủ yếu qua lời thoại, hầu như không có chỉ dẫn sân khấu. Dung lượng hiện thực phản ánh khá bề bộn, mỗi lớp cảnh đều chứa đựng xung đột mà chỉ có kết cấu mở của bài thơ tự do tám tiếng mới phù hợp để diễn tả.
 
Phan Khắc Khoan diễn tả nội tâm nhân vật lịch sử Trần Thái Tông và Chiêu Thánh rất sâu sắc bằng thể thơ tám chữ trong vở Lý Chiêu Hoàng. Vở kịch đăng trên Tri tân từ số 28 đến 32, gồm hai hồi. Cốt truyện xoay quanh việc Trần Thủ Độ ép nhà vua phế hoàng hậu Chiêu Thánh để củng cố quyền lực thực sự trong tay họ Trần. Kịch tính phát triển qua xung đột trong nội tâm mỗi nhân vật: Trần Thái Tông một bên là đạo cương thường, nghĩa thân sơ, tình tri kỷ với một bên là quyền lực, ngôi báu và trọng trách với gia tộc họ Trần. Chiêu Thánh bị giằng xé giữa một bên là tình yêu, lòng mưu cầu hạnh phúc đời thường với một bên là ước muốn được thoát tục, tránh xa tham vọng trần thế. Trần Thủ Độ hiện thân của tham vọng bá quyền, mạnh mẽ, cương quyết, tàn nhẫn chia cắt mối lương duyên do chính tay y xếp đặt:
 
Kịch tính được đẩy lên cao trào khi vị vua trẻ quyết theo người vợ yêu đến chốn tu hành thoát tục, mong là một thường dân để trọn nghĩa tao khang, Trần Thủ Độ đến ép nhà vua hồi cung bằng cách đòi thiết triều ngay chốn Thiền môn. Những lời khuyên bảo của vị trụ trì khiến nhà vua thức tỉnh, cởi áo cà sa, về triều lo phận sự mà lòng đầy day dứt với mối thâm tình. Lời thoại bằng thơ không chỉ biểu đạt được hành động đầy lưu luyến của nhà vua mà còn diễn tả được chiều sâu tâm trạng sau hành động.
 
Dù chưa thật là những kịch bản hoàn chỉnh so với quy định của một vở kịch nói thông thường, nhưng với ngôn ngữ thơ trau chuốt, tiết tấu thoại uyển chuyển, mỗi vở kịch thơ đều có sức hấp dẫn với khán giả. Các tác giả kịch thơ với sở trường miêu tả, đi sâu vào mọi ngõ ngách tâm hồn nhân vật trữ tình trong thơ bằng ngôn ngữ điêu luyện, đã tạo được tính cách nhân vật với chiều sâu nội tâm, những xung đột trong tính cách.
 
Cấu trúc các vở kịch thơ dù dài hay ngắn, dù đủ cả năm hồi hay chỉ là một hai hoạt cảnh đều chú ý đến việc tạo kịch tính, xây dựng xung đột kịch. Sử dụng lời thơ có ngắt nhịp khi trình diễn, kịch thơ lấy nhịp ngắt và âm vực cao thấp của giọng đọc thơ làm một không gian tự do cho diễn viên bộc lộ khả năng biểu cảm trong diễn xuất. Trong khi cảm hứng của ngôn ngữ kịch nói hướng về những lời nói thật đắt, có thể được chắt lọc nhằm ẩn ngụ các triết lý thâm thúy, nhưng về hình thức phải là lời nói thường, hệt như trong đời sống, thì cảm hứng của ngôn ngữ kịch thơ lại hướng về những lời thơ réo rắt hay trầm hùng, vừa gây được tính kịch, vừa thỏa mãn khoái cảm của sự cảm thụ chất thơ trong ngôn từ. Tất nhiên, kịch thơ không vì thế mà buông lỏng hành động kịch, phá vỡ các quy tắc tập trung mâu thuẫn, nhằm đẩy xung đột vào những nút thắt để cho nội dung kịch đạt đến cao trào. Có khác chăng là nhịp tiến triển các mâu thuẫn ấy ở kịch nói diễn ra dồn dập hơn còn kịch thơ thì chậm rãi hơn, không khí chùng hơn. Vì vậy kịch thơ hợp với loại hình kịch lãng mạn, kịch hiện thực tâm lý hơn là những loại hình kịch đòi hỏi tái hiện cuộc sống chân thực với tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình.
 
Tuy mới chỉ hình thành và phát triển trong thời gian khoảng một thập kỷ, kịch thơ về đề tài lịch sử đã đạt được nhiều thành tựu cả về nội dung và nghệ thuật. Trong đó những vở như Trường hận- Dương Quý phi của Vi Huyền Đắc và Thế Lữ, Yêu Ly của Lưu Quang Thuận đã đạt đến chuẩn mực của bi kịch cổ điển. Có những vở kịch thơ tạo dấu ấn khó phai trên sân khấu kịch trước cách mạng như Bóng giai nhân của Yến Lan, Nguyễn Bính, Kiều Loan  của Hoàng Cầm, với lời thoại chau chuốt, nhân vật sinh động, tình huống kịch gay cấn. Dù lấy đề tài lịch sử nhưng mỗi tác giả đều không nệ cổ, không bị bó buộc bởi các tình tiết lịch sử, mà khai thác các chi tiết bằng cảm quan của nhà văn hiện đại.  Nội dung các vở kịch đều phản ánh những trăn trở của trí thức trong buổi giao thời, trước những biến động bão táp của lịch sử. Có thể xem kịch thơ là một thành tựu đặc biệt nảy sinh ở giai đoạn Thơ mới và kịch phát triển đến đỉnh cao và chuyển hóa sâu sắc về nghệ thuật.
___________________________
1.  Phạm Vĩnh Cư –  Thể  loại bi kịch trong văn học Việt Nam thế kỷ XX, Tạp chí Văn học, số 4 – 2001, tr. 101.
2. Phạm Vĩnh Cư - Sáng tạo và giao lưu (Tiểu luận, nghiên cứu và phê bình văn học), Nxb Giáo dục ,H.2007, tr 63.
3. Phạm Vĩnh Cư - Sáng tạo và giao lưu (Tiểu luận, nghiên cứu và phê bình văn học), Nxb Giáo dục ,H.2007, tr 64.
4. Lê Thanh – Kịch viết bằng thơTạp chí Tri Tân, số 133, tr.5.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}