Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Thơ Mã Giang Lân – Bí ẩn của sự giản dị

Thứ Ba, 18/11/2014 03:27 GMT +7
Hỏa Diệu Thúy- Nguyễn Thị Dịu
(Hội Văn học nghệ thuật Thanh Hóa)


"Tôi muốn làm cho tôi ngạc nhiên" - G.Apollinaire

Thơ như là duyên nợ với Mã Giang Lân, bút danh của Giáo sư, Tiến sỹ Lê Văn Lân. Suốt mấy chục năm qua, trên hành trình kiên trì giải mã thơ[1], thỉnh thoảng người ta lại thấy bút danh Mã Giang Lân xuất hiện với chùm quả là một tập thơ giàu sắc điệu. Với tập thơ thứ 6, Những lớp sóng ngôn từ, tác giả nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2013.

G.Apollinaire, nhà thơ Pháp từng có quan điểm về thơ và chuyện làm thơ: "Tôi muốn làm cho tôi ngạc nhiên". Dường như trong quy luật sáng tạo, làm ngạc nhiên chính mình đồng nghĩa với việc tạo hứng thú cho độc giả. Để gây ngạc nhiên, thông thường, tác phẩm  phải có yếu tố/phẩm chất "khác lạ", ít nhất là từ lớp vỏ hình thức. Tuy nhiên, trong văn chương nghệ thuật, nhiều khi sự giản dị, bình dị, lại sức hút ghê gớm, ấy là khi sự giản dị đã đạt tới tầm minh triết, đạt đến minh triết tất giản dị, giống như sự trong veo của ca dao, tục ngữ, của nước suối nguồn. Đọc Mã Giang Lân, tác giả của Trụ cầu Hàm Rồng một thuở và giờ đây là Những lớp sóng ngôn từ, người ta thấy "ngạc nhiên" bởi sức hút từ một lối viết giản dị. Đây thực sự là điều bí ẩn.

Bí ẩn sau những thi tứ giản dị: Theo hành trình từ tập thơ đầu Bình minh tiếng súng đến tập thơ mới nhất - Những lớp sóng ngôn từ của Mã Giang Lân, có cảm giác luôn được gặp những gì thật quen thân, gần gũi chung quanh. Đây, đối tượng xúc cảm của tác giả trong tập thơ mới nhất: Đi tàu, Về quê, Xóm núi, Cháu vẽ, Người chị họ nói, Ba người mua ô tô, Gọi mùa màng, Lại về biển, Một sáng Hàm Rồng, Động Long quang, Cây đa ở Lam Kinh, Lang thang, Sa Pa một ngày, Bên hồ, Năm 2010 nghĩ, Cánh đồng sau vụ gặt, Nhìn mãi nhìn mãi góc vườn, Buổi chiều đó, Hành hương  v.v… những nhan đề cho thấy “tạng” thơ, trường xúc cảm của tác giả luôn dành cho/ hướng về cuộc đời hiện hữu, bình dị.

Song, từ những gì rất bình dị kia, tác giả luôn tìm thấy/ khái quát thành những vấn đề mang chiều sâu triết học. Nói đúng hơn, cây bút xứ Thanh muốn tìm chân lý, tìm bản chất quy luật nhân sinh từ những gì giản dị nhất, đơn giản nhất. Điều này vừa là đặc điểm vừa là thế mạnh của tác giả. Còn nhớ, trước đây, tác giả chọn biểu tượng thể hiện ý chí bất khuất, bất khả chiến bại của dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ bằng một hình ảnh cũng vô cùng giản dị: trụ cầu. Trụ cầu được đặt tên cho bài thơ được nhiều người biết đến thời đó: Trụ cầu Hàm Rồng [2]. Tứ thơ về trụ cầu đã chuyển tải thông điệp mang chiều sâu triết lý, với hàm nghĩa sâu xa: trụ cột, trụ vững, kiên cường, bất khuất…ý nghĩa này đặc biệt thuyết phục khi tác giả đặt trong thế đối lập: “trụ cầu” giữa một bầy “cướp trời” những con ma, thần sấm “không ngày nào không tới” điên cuồng bắn phá hủy diệt. Đáng kể hơn, trụ cầu chỉ làm bằng “cốt sắt xi măng” trong khi kẻ địch có đủ loại vũ khí tối tân: “đạn hai mươi ly bắn thủng xi măng”, “tên lửa nổ thép già thành nước”, “bom tấn ép bẻ cong cột sắt”… thế mà “trụ cầu” vẫn  “ung dung đứng đó” bền gan, bền chí kiêu hãnh thách thức kẻ thù. Từ hình ảnh chiếc trụ cầu bằng xi măng đến hình ảnh chiếc trụ cầu kiên cường bất khuất là thi pháp của sự minh triết, Mã Giang Lân đã tìm ra “bí quyết của sự giản dị”, ấy là thơ không chỉ thuần về cảm xúc, thơ hay đồng nghĩa với sự minh triết của trí tuệ.

Với bút pháp thiên về gợi nhằm khám phá bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng, tỏ ra lợi thế trong việc tiếp cận và giải mã đời sống xã hội hiện đại. Tác giả của Những lớp sóng ngôn từ không hề tỏ ra thiếu tự tin, trái lại tiếp tục trình làng cách thức bấy lâu vẫn sử dụng như một cá tính phong cách. Và cũng thật lạ, thi pháp ấy giúp tác giả chứng minh cho nguyên tắc thẩm mỹ: cái đẹp đồng nghĩa với sự giản dị. Điều đáng kể là, tác giả có khả năng “chộp bắt” rất tinh những khoảnh khắc, tín hiệu đời thường mang giá trị cốt lõi nhân bản. Và chỉ qua một thao tác tưởng chừng đơn giản của một bậc thầy cấu trúc, tư tưởng của thi tứ bật sáng, gây ngỡ ngàng. Chẳng hạn, tứ thơ lạ và đẹp trong bài Trên chuyến bus ban mai  bắt đầu bằng chi tiết tốp học sinh “ào lên xe run rẩy” và lập tức cái “ríu rít trẻ thơ” dồn “người lớn thành đống phế thải”, mùi “bánh mì, xôi xéo, bích quy, nước uống” mà chúng mang theo làm tan biến hết thảy: mùi xăng tiếng máy, cuộc sống với những lo toan bề bộn, nhếch nhác được/bị nhường chỗ cho cái tinh khôi, sôi nổi, trẻ trung. Đến đây, các em không chỉ đồng nghĩa với “ban mai” mà còn “làm mới ban mai”. Thi tứ của bài Cây đa ở Lam Kinh đến từ phát hiện thú vị: cây đa “dáng lão nông” xù xì, cong queo, mốc thếch vẫn trổ ra “lá nõn xanh non”. Thi tứ của bài Đi tàu đến cũng đến từ một phát hiện “ngược”: Con tàu “vô tâm” “lao vào đêm tối” tự tin, dũng mãnh vì “tin có con người trên tàu”, trong khi con người lại đang “gà gật theo nhau”(!). Những thi tứ thường đến một cách “Ngẫu nhiên”[3], bất ngờ, lúc thì giữa toa tàu hạng ba, lúc thì trên chuyến bus buổi sáng sớm, lúc đang chen chúc giữa phố đông, có lần về quê tình cờ gặp và nghe “Người chị họ nói”, có lúc giữa quán bia nhân một buổi được chiêu đãi “rửa xe”, có khi ngồi nhìn cháu vẽ v.v… Tứ thơ của Những lớp sóng ngôn từ luôn đến từ giữa cuộc đời, ở đấy có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, những điều tầm thường cạnh những điều cao quý, nỗi đau và hi vọng, mộng mơ và cả những hoài nghi v.v…Nhà thơ tỏ ra không những không “xa lạ” mà ngược lại, chủ động nắm bắt, đón nhận một thực tế nhiều cung bậc, mà phần lớn là những nghiệm sinh giữa dòng đời. Phải chăng đó là kết quả hay sự chi phối của một cách sống giản dị, ôn hòa, giàu yêu thương và nhân ái. Cá tính ấy khiến tác giả luôn có xu hướng tìm chân lý trong những điều giản dị, hoặc từ những điều giản dị để tìm ra chân lý, quy luật cuộc sống. Vì vậy, Những lớp sóng ngôn từ nói riêng, thơ Mã Giang Lân nói chung, vừa có khả năng tâm tình, chia sẻ vừa là đối tượng tìm hiểu, khám phá. Thơ ấy có thể đồng hành với nhiều đối tượng bạn đọc.

Bí ẩn trong cách diễn đạt giản dị: Có thể nhận thấy, về mặt thi pháp, dường như Mã Giang Lân không thuộc típ "tân hình thức", tác giả hầu như không có ý định đánh đố hay bộc lộ những thao tác kỹ xảo về diễn đạt, ngôn từ. Rất thật, chân xác, mộc mạc từ đối tượng cảm xúc đến cách diễn tả; từ ngôn từ đến hình ảnh, hình tượng thơ. Song, linh tính mách bảo, có điều gì kì diệu ẩn sau hình thức bình dị kia.

Hiệu quả của nghệ thuật cấu trúc: đúng là trong Những lớp sóng ngôn từ nghệ thuật cấu trúc không chỉ biến những thi tứ giản dị trở thành những mệnh đề triết học hoặc những đúc kết nghiệm sinh sâu sắc, mà còn tạo ra sự đa tầng nghĩa của cảm xúc thơ, điều này không đến từ sự ngẫu nhiên. Độ thâm sâu, đa nghĩa với những ý tưởng bất ngờ được tạo ra từ hiệu quả của cấu trúc. Hầu như trong Những lớp sóng ngôn từ các bài thơ đều có cấu trúc đa tầng về đối tượng cảm xúc, vì vậy, khó xác định chủ đề hay tư tưởng chính của bài thơ. Không biết, nhà thơ có quan tâm đến những trào lưu lý thuyết mới hay không, song, từ thực tiễn sáng tạo, tác giả đã bộc lộ tư duy “hậu hiện đại” trong việc “phi trung tâm” hóa chủ đề và tư tưởng chủ đề trong các thi phẩm của mình. Kết quả là mỗi bài thơ đều có những lớp chủ đề giả định và gây hiệu ứng bất ngờ. Phương thức để tạo ra cấu trúc “phi trung tâm” mà tác giả thường sử dụng là thủ pháp đối (điều này không mới), với nhiều tầng đối, kết hợp với liệt kê tăng tiến vừa tạo chiều sâu tư tưởng vừa tạo độ mở cho tứ thơ. Kết cấu tỏ ra lỏng lẻo này dễ tạo cảm giác “bối rối” trong xác định chủ đề chính, tư tưởng chủ đề chính của tác phẩm, ngỡ đã tìm thấy, đã xác định được, song đọc lại có cảm giác, tư tưởng của bài thơ dường như vẫn đang lấp ló đâu đây. Chẳng hạn, ở bài thơ Mở, tứ thơ mở ra nhiều hướng không – thời gian, với nhiều đối tượng thực tiễn trong một kết cấu đối. Đang hướng tới cảm xúc hồn nhiên, lãng mạn “tìm lại ngày xanh trứng sáo/ em hồn nhiên đến trường”, bỗng trở lại với những ngày “bom đạn xanh xao chân thật”. Đang “ngày” chuyển sang “đêm”, đang “giá trị” chuyển sang “phi giá trị”, đang tin tưởng chuyển sang hoài nghi, bi quan: “ánh điện màu cô gái nào cũng đẹp”, “chẳng biết rồi hoa cỏ có vẹn nguyên”. Thực tiễn ấy làm nhói lên nỗi tiếc nhớ quá khứ bi hùng với “những đoàn xe cắt vụ đêm đen”, với những “bạn bè hăm hở đi không về” và “bom B52 nhằm cháu bé Khâm Thiên”…; từ mối quan tâm “hướng ngoại” – cộng đồng, xã hội, chuyển sang “hướng nội” – riêng tư: “tôi mở về em”… Cho đến Những lớp sóng ngôn từ, người ta nhận thấy luôn có một dòng “đối thoại”, chủ thể trữ tình phân thân để tự đối thoại, nói đúng hơn là “độc thoại nội tâm” với những tranh luận, tranh biện trước những nỗi niềm nhân sinh thế sự. Kiểu độc thoại “dòng ý thức” này khiến chủ đề và tư tưởng chủ đề của bài thơ không chụm lại hay tập trung cho một vấn đề cụ thể mà thường tràn từ vấn đề này sang vấn đề khác, từ xúc cảm này sang xúc cảm khác,từ đối tượng này sang đối tượng khác, ý tưởng thơ, vì vậy, rộng mở, đa chiều giàu tính phát hiện, khám phá.

Hiệu quả của nghệ thuật ngôn từ:Ở cấu trúc ngôn ngữ, mặc dù vẫn với những ngôn từ trong sáng, giản dị, song, chỉ với một thao tác cấu trúc, tác giả đem đến cho người đọc những hình ảnh thật ấn tượng. Đây, tác giả “vẽ” dòng sông, bến nước quê mình hay diễn tả cái gay gắt, nghiệt ngã của nắng và gió xứ Thanh: Nắng cong bến nước, gió quất vẹo sông mưa chùng chình không tới (Về quê). Còn ở hình ảnh này là “lá ướt long lanh” hay “thiếu nữ long lanh”: Lá ướt long lanh thiếu nữ/ gió sông mơn man gợi nhớ (Động Long Quang). Hơn thế, hình ảnh những chiếc lá xanh tươi tốt đọng sương long lanh ở không gian thiêng Hàm Rồng còn làm gợi nhớ những chàng trai, cô gái đã ngã xuống bảo vệ mảnh đất này ở giữa tuổi “long lanh”…Cấu trúc ngôn từ của câu thơ thật giàu sức gợi, cảm nhận mãi không cùng. 

Nhìn chung ngôn từ trong thơ Mã Giang Lân là thứ ngôn từ mộc mạc và thuần khiết, trong veo về nghĩa, vì vậy, trong những trường hợp sử dụng đắc địa, khả năng diễn tả và sức gợi thật mãnh liệt. Trong “Một sáng Hàm Rồng”, tác giả trở lại “chiến trường xưa” và nhận thấy: Cây xanh đến nao lòng/hồn các anh xanh thế không. Chữ “xanh” có gì lạ, nhưng “hồn xanh” thì thật lạ. Cùng một lúc, những cung bậc cảm xúc: tiếc thương, tự hào, trân trọng, đau xót…hội tụ trong một cấu trúc so sánh thật giản dị. Có thể bắt gặp rất nhiều những cụm từ, những hình ảnh, hình tượng thơ vừa quen vừa lạ, vừa sống động, vừa hàm súc kiểu thế này trong thơ Mã Giang Lân: “nắng hoa cau”, “ngày nhạt canh suông”, “ngày xanh trứng sáo”, “chân nhang cong đầu đao mái ngói”, “làng xa như cái nong treo nghiêng” v.v…Chẳng có gì xa lạ trong ngôn từ và hình ảnh thơ, cũng không có gì mới mẻ trong những thủ pháp tu từ, song, có một thực tế không thể phủ nhận, đó là sự tinh tường của nghệ thuật tổ chức, cấu trúc ngôn từ để tạo nên những hình ảnh, hình tượng thơ rất đỗi tài hoa.  

Thơ Mã Giang Lân là thơ của một nhà khoa học làm thơ. Thơ ấy hội tụ phẩm chất trí tuệ của một nhà khoa học, kết hợp với cá tính điềm đạm, trong một trái tim mẫn cảm khiến thơ ông hội tụ nhiều cung bậc cảm xúc, vừa sắc sảo, suy tư, vừa hồn hậu, trong trẻo; vừa bộc trực chân thành vừa hài hước dí dỏm; nghiêm trang mà cũng rất lãng mạn. Tuy nhiên, những cung bậc ấy, hòa lẫn vào nhau tạo nên giọng điệu riêng của thơ Mã Giang Lân.

Có thể nhận thấy, xuyên suốt trong Những lớp sóng ngôn từ là tư duy triết lý. Diễn ngôn của Những lớp sóng ngôn từ là diễn ngôn về những chiêm nghiệm, tổng quát. Có thể nói chiều sâu suy tưởng, khái quát được coi là thế mạnh của tập thơ này và cũng thế mạnh của một ngòi bút đã ở độ tuổi "đắc nhân tâm". Cũng ở đây, trong Những lớp sóng ngôn từ người ta thấy thơ đang đồng hành cùng với cuộc sống, và dường như  thi ca vẫn là phương tiện hữu hiệu để phát đi những thông điệp nhân văn. Vì vậy, thơ Mã Giang Lân không chỉ để sẻ chia mà còn để ngẫm, không chỉ để giãi bày mà còn để giác ngộ.

Với một trái tim nồng hậu luôn “mở” về phía đời, khiến hành trình thơ Mã Giang Lân như một dòng chảy không ngưng nghỉ và luôn hướng ra biển đời nhân bản. 
_________________ 
([1]) GS.TS Lê Văn Lân đã có hàng chục công trình nghiên cứu Thơ, tiêu biểu là: Cấu trúc thơ, Nxb. ĐHQG,H, 2011; Thơ-hình thành và tiếp nhân, Nxb. ĐHQG, H, 2004;Thơ hiện đại Việt Nam, những lời bình, Nxb. Giáo dục, H, 2003 v.v…
(2) Bài thơ đạt giả ba cuộc thi thơ Báo Văn nghệ năm 1969 - 1970
(3) Tên các bài thơ của Mã Giang Lân
 
-------------------------------
1.     Mã Giang Lân, Bình minh tiếng súng, NXB Hội Nhà văn, 1975
2.     Mã Giang Lân, Hoa và dòng sông, NXB Hội Nhà văn, 1979
3.     Mã Giang Lân, Một tình yêu như thế, NXB Hội Nhà văn, 1990
4.     Mã Giang Lân, Những mảnh vỡ tiềm thức, NXB Hội Nhà văn, 2009
5.     Mã Giang Lân, Về một cây cầu, NXB Hội Nhà văn, 2010
6.     Mã Giang Lân, Những lớp sóng ngôn từ, NXB Hội Nhà văn, 2013
7.     Mã Giang Lân, Những cấu trúc của thơ, NXB ĐHQG Hà Nội, 2011
 
 
 
 

[1] GS.TS Lê Văn Lân đã có hàng chục công trình nghiên cứu Thơ, tiêu biểu là: Cấu trúc thơ, Nxb. ĐHQG,H, 2011; Thơ-hình thành và tiếp nhân, Nxb. ĐHQG, H, 2004;Thơ hiện đại Việt Nam, những lời bình, Nxb. Giáo dục, H,
 
 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}