Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Thơ kháng chiến chống Mỹ qua những thi phẩm đặc sắc

Thứ Ba, 19/05/2015 10:21 GMT +7
      Võ Gia Trị
(Hội Nhà văn Việt Nam)


Cách đây 40 năm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã toàn thắng vào 30/4/1975 giang sơn Việt Nam từ đây quy về một khối, đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập thống nhất. Đi cùng chiến thắng lịch sử đó văn học nghệ thuật Việt Nam giai đoạn này cũng có được thành tựu riêng nổi bật như trong âm nhạc có những bài ca đi cùng năm tháng, trong hội họa điêu khắc tác phẩm tranh tượng cũng phản ánh sinh động những năm tháng Kháng chiến hào hùng này. Các sự kiện bi hùng của cuộc kháng chiến đã trở thành đề tài cho những mùa truyện ngắn, tiểu thuyết cả trong và sau chiến tranh. Đặc biệt thơ ca Kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã trở thành điểm sáng của văn học nghệ thuật Việt Nam. Những bài thơ hay cứ hữu xạ tự nhiên hương, sống mãi trong lòng bạn đọc và mỗi thi phẩm tự nó khẳng định giá trị cũng như vị trí trong làng thơ. Chúng tôi chọn chín thi phẩm tiêu biểu và sắp đặt chúng trong một bố cục nghệ thuật với hy vọng giúp bạn đọc nhận ra chân dung và vóc dáng thơ ca giai đoạn lịch sử này.
 
1. Bài đầu tiên chúng tôi chọn là bài Thơ chúc Tết năm 1969 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là bài thơ cuối cùng của Người, là lời tiên tri, là sự mệnh lịch sử Bác trao lại cho thế hệ sau “Năm qua thắng lợi vẻ vang/Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to./Vì độc lập vì tự do, Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào./Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào,/Bắc Nam sum họp xuân nào vui hơn!”. Tám năm sau đến ngày 30/4/1975, với sự kiện chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, toàn dân và toàn quân ta đã thực hiện được ước nguyện của Người. Đây là bài thơ đặc sắc có sức tác động mạnh nhất, nó góp phần làm nên lịch sử, nhưng thi phẩm lại giản dị như lời nói thường ngày của Người. Thơ chúc Tết của Bác thực sự là di sản lịch sử và văn chương quý báu, là kỷ niệm đẹp của cả dân tộc.
 
2. Thi phẩm thứ hai là bài Dáng đứng Việt Nam của nhà thơ Lê Anh Xuân. Đóng góp lớn nhất của bài thơ là đã xây dựng thành công nhân vật thời đại cho thơ ca Kháng chiến chống Mỹ. Điểm đặc sắc của bài thơ là tác giả đã dựng thành công tượng đài chiến sĩ giải phóng quân, nhân vật trung tâm của thời chống Mỹ bi hùng “Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhứt/Nhưng anh gượng đứng lên tỳ súng trên xác trực thăng/Và anh chết trong khi đang đứng bắn/Máu anh phun trong lửa đạn cầu vồng”. Lê Anh Xuân đã đứng ở trung tâm thời đại, nơi đang diễn ra những cuộc chiến đấu ác liệt nhất, câu thơ  đậm chất bi hùng sử thi. Từ ngữ cảnh của bài thơ ta còn nhận ra chất bi hài “Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng/ Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn”. Hình tượng người chiến sĩ hiện lên tuyệt đẹp “Anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm/Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tiến công”. Chân dung người lính được tạc nên giản dị, trong sáng và tạo được cảm xúc mạnh“Anh tên gì hỡi anh yêu quý/Anh vẫn đứng lặng im như bức thành đồng/Như đôi dép dưới chân anh dẫm lên bao xác Mỹ/Mà vẫn một màu bình dị sáng trong”. Sự hy sinh cao cả đó đi vào lịch sử dân tộc “Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ/Anh chẳng để lại gì cho riêng Anh trước lúc lên đường/Chỉ để lại cái dáng-đứng-Việt-Nam tạc vào thế kỷ: Anh là chiến sĩ giải phóng quân.” Câu thơ đẹp theo hồn anh siêu thoát bay lên hòa vào khí thiêng dân tộc, để từ đó mùa xuân đất nước hồi sinh “Tên anh đã thành tên đất nước/Ôi anh giải phóng quân! Từ dáng đứng của anh giữa đường băng Tân Sơn Nhứt/Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.”
 
3. Điểm đặc sắc của thơ ca giai đoạn này là sự xuất hiện của thơ thiếu nhi, gam màu tương lai đang bừng sáng trong hiện thực, và đại diện tiêu biểu là nhà thơ Võ Quảng với bài Mời vào. Bài thơ kỳ lạ này gắn với thơ ca Kháng chiến chống Mỹ cứu nước vì nó được viết năm 1970 khi cả nước vẫn chìm trong khói lửa chiến tranh. Thi phẩm không có những từ liên quan đến chiến tranh nhưng vẫn mang hơi thở thời đại vì nó hồn nhiên như chính cuộc sống, và cho đến nay vẫn nóng hổi tính thời sự. Bài thơ được trẻ yêu thích và người lớn mới hiểu hết nó. Bài thơ được in trong các tập thơ của Võ Quảng, được chọn vào sách giáo khoa, được phổ nhạc, được trình diễn... và nó còn được các cụ hưu trí đánh giá cao và trân trọng đăng ở báo tường. Họ phát hiện ra Võ Quảng là người sớm nhất nói đến mở cửa vì từ 1970 khi thi phẩm ra đời nó đã mang tên “Mở cửa”. Bài thơ là hoạt cảnh đồng thoại tươi mới với tiếng gõ cửa và lời thoại của các nhân vật là Thỏ, Nai, Vạc “Cốc, cốc, cốc!/-Ai gọi đó?/-Tôi là Thỏ/-Nếu là Thỏ/Cho xem tai/ Cốc, cốc, cốc!/-Ai gọi đó?/-Tôi là Nai/-Nếu là Nai/Cho xem gạc/ Cốc, cốc, cốc!/-Ai gọi đó?/-Tôi là Vạc/-Nếu là Vạc/Cho xem chân” mỗi nhân vật đều trung thực thể hiện đặc trưng của mình để được nhận diện. Bài thơ phản ánh tinh thần cảnh giác cao của thời chiến thuở đó. Và rồi bạn Gió, biểu tượng của độc lập tự do, ào đến “Cốc, cốc, cốc!/Ai gọi đó?/Tôi là Gió/Nếu là Gió/Xin mời vào/Kiễng chân cao/Trèo qua cửa/Cùng soạn sửa/Đón trăng lên/Quạt mát thêm/Hơi biển cả/Reo hoa lá/Đẩy buồm thuyền /Đi khắp miền/Làm việc tốt.” Đây là các nhân vật đồng thoại trong thế giới trẻ thơ. Cái tên “Mở cửa” của bài thơ nhắc ta nhớ đến hiện thực đất nước thủa đó dù chiến tranh nhưng tấm lòng vẫn rộng mở, bạn bè thế giới sôi nổi ủng hộ Việt Nam. Thời chiến tranh bài thơ còn có nhân vật phản diện lúc là Sói khi là Cáo. Với Sói thì phải phản ứng mạnh mẽ “Mày đừng gọi/Hãy cút ngay/Mày là tay/Ăn trẻ nhỏ”, với Cáo thì “Mày đừng láo/Hãy cút ngay/Mày là tay/Trộm gà vịt”. Trong chiến tranh cái xấu cái ác đan xen và bài thơ như lời dặn dò các bé thơ hãy nêu cao cảnh giác với hiểm họa chiến tranh. Thuở đó bom mìn kẻ thù cũng đẹp như đồ chơi, không ít trẻ chết vì dại dột chơi với chúng. Nhân vật phản diện Sói và Cáo, sau chiến tranh, được tác giả bỏ đi như cầu mong đất nước từ nay chỉ đón tiếp những điều tốt lành. Tên bài thơ theo đó cũng đổi, không chi “Mở cửa” mà cao hơn là “Mời vào”. Bài thơ còn chỉ ra cách để những điều tốt lành luôn đến với chúng ta, đó là: Chọn bạn mà chơi và “Đi khắp miền làm việc tốt”. Thi phẩm đồng dao này thiêng như lới tiên tri: Năm năm sau khi bài thơ ra đời vào năm 1975 đất nước đón bạn “Gió” hòa bình-độc lập-tự do, mười năm sau là làn “Gió” đổi mới và hai mươi năm sau đất nước “Mở cửa” hội nhập. Bài thơ góp cho thơ ca giai đoạn này cái nhìn tươi mới của tương lai. Thi phẩm là hiện thực thời đại cũng như mãi mãi sau này. Bởi sự tự nhận diện luôn là công việc thời sự của cả nhân loại. Nổi bật ở thi phẩm đặc sắc này là tiếng gõ cửa  minh triết gian dị của cuộc sống trong bối cảnh đất nước đang chuyển mình vào tương lai. 
 
4. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước tác giả Nguyễn Đình Thi tỏa sáng với thi phẩm Lá đỏ hừng hực khí thế thời đại “Gặp em trên cao lộng gió/Rừng lạ ào ào lá đỏ”. Bài thơ “Lá đỏ” nổi tiếng được ông viết năm 1974, một năm trước đại thắng mùa Xuân 1975. Trên cái nền “Lá đỏ” hào hùng đó là sự mềm mại của hình tượng người con gái, xuất hiện ở tầm cao và gió lộng thời đại. “Rừng lạ” ở đây là Trường Sơn huyền thoại đang xao động chuyển mình trong bước đi của những sư đoàn chủ lực. Âm thanh và sắc màu tạo nên không khí và linh hồn cho câu thơ. Hình tượng người con gái ở núi rừng Trường Sơn trong bài thơ thân thương giản dị “Em đứng bên đường/Như quê hương/Vai áo bạc quàng súng trường”. Có thể nói tác giả khắc họa hình tượng nghệ thuật trong không gian tối ưu, vừa cụ thể vừa mang tính điển hình cao, đó là cái đẹp giản dị sâu thẳm. Đây cũng là nhân vật điển hình mang tính thời đại. Câu thơ như chuyển động theo nhịp đi vô cùng khẩn trương của chiến trường sắp bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng “Đoàn quân vẫn đi vội vã/Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa”. Hai câu cuối của bài thơ là lời chào gặp mặt, là lời chào tiễn biệt, cũng là lời hẹn ước của thanh niên thời đó “Chào em, em gái tiền phương/Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn...” Bài thơ ngắn nhưng gợi được không khí thời đại. Chỉ phút giây gặp gỡ thoáng qua, bằng tài năng và nghệ thuật Nguyễn Đình Thi đã ghi lại cho vĩnh cửu cái tình thời đại ở giai đoạn hào hùng này của lịch sử. Đặc biệt thi nhân đã để lại sắc “Lá đỏ” tuyệt đẹp trên bức tranh thơ ca thời cả nước lên đường ra trận.
 
5. Nữ sĩ Phan Thị Thanh Nhàn nổi tiếng với những câu thơ như được ướp hương hoa bưởi để từ đó định vị cái Hương thầm của tình yêu thời chinh chiến. Tình yêu luôn nảy sinh từ hoàn cảnh sống cụ thể “Cửa sổ hai nhà cuối phố/Không hiểu vì sao không khép bao giờ/Đôi bạn ngày xưa học chung một lớp/Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa” Đó là cuộc sống thường nhật, bình dị và xiết bao thân thương. Trong cái bình thường của cuộc sống, nữ sĩ đã phát hiện ra cái khác thường xuất hiện trong trái tim con gái thời chiến “Dấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay/Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm/Bên ấy có người ngày mai ra trận”. Đó là tình yêu trong sáng của tình đầu “Họ ngồi im không biết nói năng chi/Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi/Nào ai đã một lần dám nói”. Trong hoàn cảnh đó bông hoa bưởi bỗng trở thành nhân vật quan trọng “Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối/Anh không dám xin/cô gái chẳng dám trao/Chỉ mùi hương đầm ấm thanh tao/Không dấu được cứ bay dịu nhẹ” Cái hay của bài thơ nằm ở chỗ “Cô gái như chùm hoa lặng lẽ/Nhờ hương thầm nói hộ tình yêu/(Anh vô tình anh chẳng biết điều/Tôi đã đến với anh rồi đấy...)” Đó cũng là kiểu tình yêu của thời chiến, nữ giới đã chủ động hơn. Đó là sự chủ động thông minh, và vẫn giữ được sự kín đáo nữ tính của mình. Chính làn hương đó đã trở thành hương thơm đặc trưng của cô gái và chàng trai ngày mai ra trận “Rồi theo từng hơi thở của anh/Hương thơm ấy thấm sâu vào lồng ngực/Anh lên đường hương sẽ đi theo khắp”. Câu chuyện tình yêu của họ như được ướp hương hoa bưởi “Họ chia tay/ vẫn chẳng nói điều gì/Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.” Đó là tình yêu vô cùng sâu lắng và trong trẻo mà Phan thị Thanh Nhàn đã khám phá được từ hiện thực cuộc sống những năm kháng chiến. Bài thơ được viết năm 1969 nó đặc trưng cho thơ Phan Thị Thanh Nhàn thuở ấy. Nhà thơ đã làm nhiều thơ và bài thơ Hương thầm kỳ lạ thay vẫn ấn tượng nhất, nó cứ lặng lẽ toả hương, và hương hoa bưởi theo thời gian đã bay từ cuối những năm 60 sang cả thế kỷ hai mươi mốt này để làm xúc động không ít bạn yêu thơ. Đó đúng là sức mạnh hữu xạ tự nhiên hương của thơ ca.
 
6. Bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ của nhà thơ Nguyễn Mỹ đã tạo được điểm sáng cho thơ Kháng chiến chống xâm lược Mỹ. Bài thơ mở màn cho trào lưu cách tân nghệ thuật thơ ở giai đoạn này. Chủ nghĩa ấn tượng từ cuộc sống hiện thực hiện hình tuyệt đẹp trong thơ “Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/Tươi như cánh nhạn lai hồng”. Đó là linh hồn cuộc sống mà nhà thơ cảm được từ hiện thực “Trưa một ngày sắp ngả sang đông/Thu bỗng nắng vàng lên rực rỡ/Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ/Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa”. Nguyễn Mỹ đã nói thật hay về tình yêu thời chiến tranh “Chồng của cô sắp sửa đi xa/Cùng đi với nhiều đồng chí nữa/Chiếc áo đỏ rực như than lửa/Cháy không nguôi trước cảnh chia ly” Cái hay ở đây là thay vì dùng màu tím để nói lên tình yêu thì Nguyễn Mỹ lại dùng gam màu đỏ chói ngời, đó là tình yêu hiện thực, là “màu đỏ” mang hơi ấm nồng nàn viên mãn của cuộc đời. Và nhờ sắc đỏ đó bài thơ mang hương vị thời đại hào hùng và được cuộc sống cũng như tâm thế xã hội lúc đó chấp nhận. Sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Mỹ là kỳ tài. Anh đã chơi mầu thật hay trên ngôn từ khi đặt gam màu đỏ bên màu trắng và màu xanh “Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia/Không giấu nổi tâm hồn cô rực cháy”. Nguyễn Mỹ đã có đóng góp thật lớn cho thơ ca giai đoạn này khi miêu tả thành công khuôn mặt tình yêu thời chống Mỹ “Không che được nước mắt cô đã chảy,/Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời/Cháy trên bình minh đang hé giữa làn môi/Và rạng đông đã bừng trên nét mặt/Một rạng đông với màu hồng ngọc”. Cái gam màu tình yêu của Nguyễn Mỹ thật nồng nàn sâu lắng và si mê, một cõi yêu được hình thành trong hoàn cảnh chia ly “Cây si xanh gọi họ đến ngồi/Trong bóng rợp của mình nói tới ngày mai/Ngày mai sẽ là ngày sum họp/Đã toả sáng. Những tâm hồn cao đẹp/Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si/Và người chồng ấy đã ra đi...” buồn đấy nhưng vẫn đượm sắc thái lạc quan. Ba dấu chấm đặt sau câu thơ sao mà mênh mông thế. Nào, ta hãy cùng nghe tiếng nói xao xác của cuộc đời hiện hình qua con chữ như linh hồn anh thì thầm với chúng ta hôm nay “Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế/Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ/Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào/ Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau!” Bi kịch tình yêu vừa có cái gì đó như thân phận, nhưng nó cũng mang màu sắc cao cả của thời đại. Và màu đỏ cũng là lời kêu gọi “Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy/Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy/Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi/Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người/Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp/Một làng xa giữa đêm gió rét...” Cái tuyệt vời ở đây là tính biểu tượng không thoát ly khỏi thực tế cuộc sống, nó như cánh diều bay trên cao được neo bởi sợi dây nối đất để ai cũng có thể chiêm ngưỡng. Nguyễn Mỹ đã thành công khi giải quyết nghịch lý thân phận tình yêu thời chinh chiến “Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi/Như không hề có cuộc chia ly...” 
 
7. Người thơ Phạm Tiến Duật có bài thơ Trường-sơn đông, Trường-sơn tây với những câu thơ tươi trẻ và lãng mạn “Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn/Hai đứa ở hai đầu xa thẳm/Đường ra trận mùa này đẹp lắm/Trường-sơn đông nhớ Trường-sơn tây”. Trong cái đẹp của thiên nhiên có cái đẹp của hồn người. Hiện thực trong bài thơ rõ ràng là hiện thực của tâm hồn đang yêu “Trường-sơn tây anh đi,thương em/Bên ấy mưa nhiều, con đường gánh gạo/Muỗi bay rừng già cho dài tay áo/Rau hết rồi em có lấy măng không?” Không khí và hương vị của rừng Trường Sơn nồng nàn qua từng con chữ. Bài thơ phảng phất lối hát đối của liền anh liền chị Quan họ. Khúc thơ trên là lời nam thì khúc thơ sau là lời nữ “Em thương anh bên Tây mùa đông/Nước khe cạn bướm bay lèn đá/Biết lòng anh say miền đất lạ/Chắc em lo đường chắn bom thù”. Tôi cũng từng thấy ở Trường Sơn, khi đi qua các khe nước trên triền núi, bước chân chiến sĩ làm động hàng trăm con bướm bay lên như bùng nổ những sắc màu rực rỡ. Có thể nói cái hay trong thơ Phạm Tiến Duật là hiện thực Trường Sơn đang chuyển động trong công việc hàng ngày “Anh lên xe trời đổ cơn mưa/Cái gạt nước xua đi nỗi nhớ/Em xuống núi nắng về rực rỡ /Cái nhành cây gạt nỗi riêng tư”. Và giao cảm tình yêu đôi lứa của họ được thể hiện thông qua bề bộn cuộc sống của thời cả nước lên đường ra trận “Từ nơi em gửi đến nơi anh/Những binh đoàn nối nhau ra tiền tuyến/Như tình yêu nối lời vô tận/Đông Trường-sơn nối Tây Trường-sơn”. Bài thơ giản dị như lời nói tâm tình của trai gái Trường Sơn thuở đó, và cái hay là ở chỗ Phạm Tiến Duật đã ghi lại được cái giọng điệu đặc trưng đó qua thơ mình. Trường Sơn hùng vĩ cũng được tác giả đưa vào thơ tuyệt đẹp.
 
8. Chú bé Trần Đăng Khoa là hiện tượng thần đồng trong làng thơ Việt Nam thời Kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Mới tám tuổi Khoa đã viết được bài thơ Hạt gạo làng ta làm nhiều nhà thơ lớn ngỡ ngàng khâm phục. Bài thơ đẹp như một khúc đồng dao lấm láp, thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng “Hạt gạo làng ta/Có vị phù sa/Của sông Kinh Thầy/Có hương sen thơm/Trong hồ nước đầy/Có lời mẹ hát/Ngọt bùi hôm nay.”. Đó là những câu thơ mang hồn quê “ Hạt gạo làng ta/Có bão tháng bảy/Có mưa tháng ba/Hạt mồ hôi sa/Những trưa tháng sáu/Nước như ai nấu/Chết cả cá cờ/Cua ngoi lên bờ/Mẹ em xuống cấy...” Đó là những năm tháng gian khổ kháng chiến chống xâm lược Mỹ “Hạt gạo làng ta/Những năm bom Mỹ/ trút lên mái nhà/Những năm khẩu súng/Theo người đi xa/Những năm băng đạn/vàng như lúa đồng/Bát cơm mùa gặt/Thơm hào giao thông...” Cuộc sống của những năm tháng hào hùng đó hiện hình sinh động trong câu thơ bình dị của Khoa. Đó là nhưng câu thơ lam lũ ơn tình “Hạt gạo làng ta/Có công các bạn/Sớm nào chống hạn/Vục mẻ miệng gàu/Trưa nào bắt sâu/Lúa cào rát mặt/Chiều nào gánh phân/Quang trành quét đất...” Cái tình của Trần Đăng Khoa rất thật trong cảm hứng thời đại lúc đó, nó giản dị, ý nghĩa và cảm động biết bao khi một chú bé cũng ý thức được niềm vui vừa lớn lao vừa hồn nhiên là được cùng người lớn đóng góp sức mình cho cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc “Hạt gạo làng ta/Gửi ra tuyền tuyến/Gửi về phương xa...Em vui em hát/Hạt gạo làng ta.
 
9. Nhà thơ Hữu Thỉnh với thi phẩm Đường đến thành phố đã góp phần tạo nên vóc dáng sử thi cho thơ ca giai đoạn này, anh tạo được không gian nghệ thuật riêng, đó là tiếng vọng âm vang của hiện thực thời chinh chiến. Hiện thực trong thơ Hữu Thỉnh đa nghĩa, đa chiều có không gian trải dài khắp đất trời Tổ quốc, là bài học cuộc sống để thơ anh không ngừng lớn lên “Ta nhìn lên trời trời dạy ta khao khát/ta đi trong rừng rừng nuôi ta dài rộng”. Trường ca “Đường đến thành phố” là điểm hội tụ của thơ ca thời đại, thể hiện trong nét bút chì người thương tô theo bước chân người chiến sĩ đang lao đi trong chiến dịch Hồ Chí Minh thần tốc “Em cứ tô đậm nữa đi em/Tô thật đậm để hiện ra đất nước/Hiện ra ngày chúng ta hằng mong”. Hiện thực trong thơ là hiện thực đời lính “Qua một chặng đường dài/Chính khẩu súng đã làm ta tươi tốt”. Đó là hiện thực nội tâm cực kỳ phong phú của buồn, vui, ngẫm ngợi, của tình cảm nhớ nhung, yêu thương, được anh đặt trong những hoàn cảnh, số phận vừa cụ thể vừa điển hình của thời đại, và tất cả như dồn nén trong những câu thơ đầy trăn trở “Đêm chuẩn bị có gì mà khẩu súng/Trằn trên tay lại dựa vào vai?”. Hiện thực trong thơ anh có hình khối và chiều sâu tâm trạng, cũng là hiện thực mang giọng điệu riêng của một hồn thơ. Ví dụ hiện thực Mẹ là một hiện thực đặc biệt giàu cảm xúc “Mẹ dõi theo ta thức khua dậy sơm/Nắm cơm chiến hào xúc động quá sao mai!” và “Ngày mai chúng mình tiến vào thành phố/Chẳng có cách chi báo tin cho mẹ/Mẹ đỡ lo, thấp thỏm đôi bề/Ba đứa con có mặt trong này/Mấy cuộc chiến tranh mẹ gánh cùng một lúc/Chiến tranh bao giờ chấm dứt/Nếu một đứa con của mẹ không về/Mẹ ít ngủ mẹ thường thức khuya/Đêm nào cũng dài/Căn nhà có mấy mét vuông/Làm lụng đến già còn bao nhiêu tất bật”. Những vần thơ được anh viết bằng nhịp tim yêu thương của mình đã góp phần định hình tầm vóc cho thơ ca giai đoạn này và anh cũng là đại diện đặc sắc cho những mùa trường ca rộ nở. Thi phẩm “Đường đến thành phố” còn là điểm hẹn thời đại. Nhiều nhà thơ khác cũng hướng đến điểm hẹn 30/4/1975 này như nhà thơ Ý Nhi có bài “Mặt trời tháng Tư”, nhà thơ Lê Quang Trang có “Vang vọng tháng tư” và cả Nguyễn Đình Thi trong bài “Lá đỏ” cũng mộng mơ đến điểm hẹn thời đại này “Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn...” rồi Võ Quảng trong bài “Mời vào” cũng đã dự cảm đến điểm hẹn 30/4/1975 với hình tượng Gió độc lập tự do ào đến. Thơ ca giai đoạn này còn nhiều lắm những bài thơ hay. Mọi cái đẹp trong thơ không phân biệt đều đáng quý như nhau. Họ mang tinh thần thời đại và cũng là những con người tất mộng mơ. Tôi như kẻ lữ hành đi giữa đồng hoa, chọn vài bông về cắm bình với hy vọng giúp bạn đọc qua đó nhận ra cả cánh đồng hoa tuyệt đẹp này./. 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
{{item.Title}}