Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Sáu, 27/11/2020 21:24

Bài Viết:

 

Thơ nữ Việt Nam đương đại: Những giá trị vĩnh cửu…

Thứ Năm, 19/02/2015 16:59 GMT +7
 
Trần Hoàng Thiên Kim

       Trong lịch sử thi ca dân tộc Việt Nam, ngay dưới chế độ phong kiến, khi quan niệm trọng nam khinh nữ còn nặng nề, đã xuất hiện một lớp các nhà thơ nữ lên tiếng bênh vực người phụ nữ. Những trang viết của họ đã có nhiều đóng góp cho nền văn chương nước nhà, để lại nhiều tên tuổi lớn. Bước sang thời kỳ văn học hiện đại, một lực lượng đông đảo các cây bút nữ xuất hiện. Những sáng tác của họ đã góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng cho sự phát triển của nền thơ ca Việt Nam. Thơ của họ đã gây ấn tượng cho người đọc, được dư luận khẳng định và đã được giới thiệu ra nhiều nước trên thế giới.
 
       Thơ của các cây bút nữ trẻ xuất hiện từ khoảng 10 năm trở lại đây chịu sự ảnh hưởng của những mạch nguồn thơ nữ trước đó, từ thế hệ các tác giả trưởng thành trong chiến tranh như Xuân Quỳnh, Y Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lâm Thị Mỹ Dạ, Thúy Bắc, Lê Thị Mây... cho đến Thu Nguyệt, Tuyết Nga, Lê Thị Kim, Đỗ Bạch Mai, Thảo Phương, Phi Tuyết Ba, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Đoàn Ngọc Thu, Đặng Thị Thanh Hương... Cùng với việc tiếp tục khai thác hướng đề tài cũ nói về thân phận người đàn bà, về tình yêu về lòng thủy chung son sắt, tình mẹ con, bầu bạn, những tác giả thơ nữ trẻ đi sâu khai phá những đề tài mới đầy những biến động của đời sống, những va đập của đời thường, niềm khát khao mãnh liệt hướng tới những cái mới, những chân trời lạ lẫm. Họ chịu đi tiên phong trong sự cách tân đổi mới của văn học nghệ thuật hòa cùng công cuộc đổi mới của đất nước. Thơ của thế hệ mới bên cạnh những đề tài cũ, thể loại cũ, họ đi sâu khai thác bản thể, khám phá những chuyển động của bản thể căng phồng sự sống, khám phá tình yêu, nhục cảm, cái tôi cá nhân bí ẩn và đầy bất trắc. Tiếng thơ của họ bên cạnh những khát khao yêu thương, sẻ chia, bù đắp, những khát khao chồng vợ, tổ ấm gia đình hạnh phúc, còn xuất hiện một cảm hứng mới rất hiện đại mang đầy bản năng trong ngôn từ, cảm xúc: tính nhục cảm. Có một thế hệ mới đã xuất hiện như Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Trần Hoàng Thiên Kim, Bình Nguyên Trang, Dạ Thảo Phương, Đường Hải Yến, Nguyễn Thúy Hằng, Trương Quế Chi, Phạm Vân Anh, Ngô Thị Hạnh, Ngô Thanh Vân, Lynh Bacardy, Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, Phương Lan, Khương Hà, Lê Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý, Truơng Gia Hòa, Tú Trinh... Họ là những cây bút trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X, chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, có những nét phá cách và có nhiều thể nghiệm mới mẻ. Cùng với hành trình tìm cho mình những phong cách thơ mới định hình, thơ nữ trẻ đang có những cựa quậy, những đột phá mới. Bên cạnh đó, họ vẫn hướng tới những giá trị vĩnh cửu của người phụ nữ Việt Nam.
 
1. Hạnh phúc được làm mẹ, làm vợ
 
     Mỗi người phụ nữ sau những ồn ào của một ngày bận rộn là những giây phút trở về với gia đình. Ông cha ta vẫn nói “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” chính vì thế thơ nữ luôn hướng tới đời sống gia đình, nỗi khát khao làm vợ làm mẹ. Đó là thiên chức trời ban.
Trước đây, nữ sỹ Xuân Quỳnh là người có những trang viết về con giản dị mà sâu sắc, thẫm đẫm tình yêu thương của tình mẫu tử. Ẩn chứa trong mỗi lời thơ của chị là sự chở che, bao bọc cho đứa con yêu dấu. Cả những âu lo lẫn với niềm lạc quan trong những ngày tháng đạn bom loạn lạc: “Tuổi thơ con có những gì/ Có con cười với mắt tre trong hầm/ Có làn gió sớm vào thăm/ Có ông trăng rằm sơ tán cùng con”(Tuổi thơ của con).
 
        Nối tiếp truyền thống của những nhà thơ đàn chị đi trước, thơ nữ trẻ đương đại cũng đã dành một mảng lớn để viết về đời thường. Trong đó, những trang viết đầy tình yêu thương vẫn dành cho con, những thiên thần bé nhỏ của cuộc đời mình, là bến bờ cho người mẹ gửi gắm niềm ước mơ, nguồn sống tương lai. Mỗi trang viết về con là bấy nhiêu nỗi niềm bao dung, bao đổi thay lớn lao trong tâm thức và mỹ cảm văn học của những cây bút nữ. Thiên tính nữ đã đưa họ trở về với mạch nguồn trong trẻo, dịu dàng của những ánh mắt, nụ cười con thơ. Thơ họ dù có phá cách đến bao nhiêu đi chăng nữa, thì trong những trang viết về con, họ vẫn là những người mẹ Việt Nam với những nét thuần hậu nhất, đắm say nhất. Chín tháng mười ngày cưu mang là chín tháng mười ngày người mẹ lắng nghe những chuyển động của đứa con hiện hữu trong cơ thể mình. Cảm nhận nó lớn lên từng ngày, từng ngày. Chờ đợi từ cái máy tay đầu tiên của con, rồi con đạp, con cựa quậy, người mẹ hạnh phúc biết bao khi đứa con lớn lên bằng nguồn thức ăn của mình, hình thành nhân cách bắt đầu ngay từ trong bào thai mình cưu mang: “Con đang ở đâu trong từng chuyển động/ Trong từng nhịp thở phập phồng/ Từng cú quẫy nhẹ tênh như một chú cá bẩy mầu/ Rỉa ngón tay của mẹ thời thơ ấu/ Con đang ở đâu khi bụng mẹ nhấp nhô từng đợt/ Và ngón chân nhỏ tròn như một quả ping pông? (Này con, con ở đâu – Trần Lê Sơn Ý). Con là ánh sáng của cuộc đời, thắp sáng những niềm mong của mẹ, xua tan những muộn phiền và nước mắt, để mẹ lại được khát vọng những ước mơ thầm kín  “Rút khỏi đầu tấm voan ảm đạm / vắt nỗi buồn mẹ lên cành trăng non / Lập Duy / Vỗ cánh / Gót chân hồng lanh canh / tiếng cười bi ve ôm mặt trời nhồi bông / mơ mẹ / Bên kia bến ngủ / ngượng ngùng giấu con / khát vọng mẹ / thanh xuân thao thức / Nước mắt này hai bầu tinh khiết / nguyên vẹn cho con / Cạn hai bầu vú / con bay / Ngày mai /điềm tĩnh lại mẹ sẽ tập đi bằng ánh sáng Lập Duy” (Lập Duy – Phan Huyền Thư). Đứa con là cả một niềm mơ ước lớn lao đang được hồi sinh trong lòng những người mẹ cưu mang chín tháng mười ngày, người mẹ gửi gắm những ước vọng lớn lao vào hình hài bé nhỏ kia. Người mẹ muốn chở che cả những niềm đau mai sau mà chắc chắc bất cứ một phận người nào cũng phải trải qua trong cuộc sống này. Và cũng chính có con, người mẹ biết cách vượt qua tất cả, để trước hết, làm một người đàn bà bình thường, có mọi buồn vui của đời sống, mọi âu lo vặt vãnh, mọi thử thách gian truân:” Con trai ơi! Con đã cho mẹ một sinh lực phi thường/ Để biết im lặng và nhẫn nại/ Để làm việc bằng hai ba/ Để đến ngày được làm người đàn bà bình thường nhất (Đồng tử - Vi Thùy Linh). Trong niềm vui lớn lao vì sự hiện diện của đứa con thơ dại, người mẹ bỗng cảm giác thèm mong thế giới hòa bình để đứa con bé bỏng của mình lớn lên an lành. Người mẹ cầu mong mọi sự thiệt thòi hãy đổ hết lên đầu mẹ, để đứa con của mình thênh thang bước đi trên con đường rải thảm. Những bà mẹ trẻ đã trở về bản ngã của tình mẫu tử để giãi bày tiếng nói yêu thương nhân ái: “Say giấc đi con với giọng ru ký ức/ Gác trọ rùng mình lúc bình minh/ Núm cao su cô độc/ Mẹ thèm cuộn trong tá lót con. (Lời cho bé yêu – Lynh Barcadi). Và cũng là nỗi đau của người mẹ khi không thể có được đứa con yêu dấu mình hằng mong đợi: “Mẹ ước/ Con là của mẹ/ Không phải của những cát bụi hôm qua/ Mẹ ước/ Ước mơ của người đàn bà bình dị/ Mà nỗi đau trong mình đã chạm đến biển khơi/ Biển không có gió / Biển không còn cát/ Con nơi nào mẹ thét gào đớn đau run rẩy (Sóng chết – Ngô Thị Hạnh).
 
       Vấn đề bình đẳng giới ngày nay đang được xã hội quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên người phụ nữ hiện đại cũng vì thế mà chịu nhiều áp lực hơn giữa công việc thường ngày với cuộc sống gia đình. Họ vẫn làm tốt chức trách nơi công sở, thăng tiến trong sự nghiệp, mà vẫn đảm bảo được gia đình hạnh phúc, cơm ngon canh ngọt, bếp lửa ấm nồng. Nhưng cũng chính trong thời khắc đó, lắm lúc người phụ nữ cảm thấy áp lực nặng nề của đời sống đang đè lên vai mình. Trong sự bộn bề của đời sống, trong những giây phút thăng hoa của tứ thơ, vẫn ẩn chứa một nỗi niềm đàn bà không nguôi quên bổn phận nhưng cũng không thể không nghĩ tới những nhọc nhằn của thiên chức làm mẹ: “Từ lúc có con, giấc ngủ không bao giờ nhẹ nhàng với mẹ/ Trời lúc nào cũng nóng/ Và bàn chân lúc nào cũng nặng nề/ Tóc mẹ đã ngắn đi nhiều, ngắn đi dần/ Những chiếc áo, vòng tay/ Vòng ngực cổ rực rỡ cũng không còn vừa với mẹ (Trần Lê Sơn Ý).
 
Nhà thơ Walt Whitman nói: tôi bảo không có gì vĩ đại hơn làm mẹ những con ng­ười. Thơ nữ trẻ đương đại bên cạnh cái dữ dội, là một nốt lặng trở về khao khát thế giới thực tại bình yên, trở về với thiên tính nữ, sự yếu mềm cần chở che, bao bọc. Họ là những tâm hồn quá yếu mềm, khát khao yêu, khát khao dâng hiến, khát khao làm mẹ, khát khao yên ấm trong vòng tay gia đình. Họ là những tiếng nói đương đại với nét trầm sâu lắng, cũng có một hành trình gian truân khổ ải để đến được bến bờ hạnh phúc. Họ đã và đang góp phần làm cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong văn chương kim cổ trở thành một biểu tượng đẹp đẽ về tình yêu thương, sự thủy chung và lòng nhân ái.
 
2. Nỗi cô đơn của tâm hồn thơ nữ
       
       Cô đơn là một trạng thái tình cảm của con người. Lúc cô đơn là lúc con người buồn bã. Với những nghệ sỹ, cái tôi cô đơn thăng hoa thường sáng tạo nên những tác phẩm có giá trị. Cô đơn là giây phút của sáng tạo. Bà Huyện Thanh Quan tức cảnh sinh tình trước Đèo Ngang hun hút chiều tà hoàng hôn, khi nỗi nhớ nhà, thương nước ùa về da diết, để rồi “Dừng chân đứng lại trời non nước/ Một mảnh tình riêng ta với ta”. Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, tiếng là mạnh mẽ, khinh bạc thế, nhưng kiếp đàn bà lắm hệ lụy, bà vẫn có lúc phải than rằng “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng/ Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”. Nữ thi sỹ Xuân Quỳnh, người đàn bà của những yêu thương và đắm say, người luôn phấp phỏng âu lo trước hạnh phúc mong manh của tình yêu và định mệnh, đã viết những câu thơ gọi lên những dự cảm kiếp sống: “Em lo âu trước xa tắp đường mình / Trái tim đập những điều không thể nói / Trái tim đập cồn cào cơn đói/ Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn…(Tự hát – Xuân Quỳnh)
 
        Nếu như các nhà thơ nữ thế hệ trước, thường diễn tả nỗi cô đơn bằng một biểu tượng nào đó, hoặc nói một cách xa vời, ý tại ngôn ngoại... thì thơ nữ thế hệ trẻ ăm ắp nỗi cô đơn trong từng trang viết, nỗi cô đơn, buồn bã trực diện và dồn dập. Dường như, đó là một yếu tố không thể thiếu thường song hành cũng đời sống vốn bận rộn và lắm lo toan của họ. Dường như, bên cạnh đời sống ồn ã, tấp nập ngoài kia, bao giờ cũng có chỗ cho nỗi cô đơn trống vắng trong góc khuất của tâm hồn. Thơ họ là để thể hiện, là giải tỏa nỗi buồn, cô đơn ăm ắp cả lý tính và xúc cảm, đôi khi buồn mà không thể cắt nghĩa nổi nỗi buồn ấy.
 
       Một trong những cái tôi cô đơn trong thơ nữ trẻ đương đại là cái tôi thiếu hụt tình cảm, thiếu vắng sự sẻ chia, nỗi khao khát hoàn thiện bản thân, khao khát tìm được sự đồng điệu, cụ thể ở đây là “Anh”: “Nỗi cô đơn ập vào sự chịu đựng của em  - con đê muốn vỡ/ Mây như quầng mắt người mất ngủ/ Hai vì sao tìm đến nhau buốt sáng/ Bao giờ anh đến? Bao giờ anh đến? (Bài ca số phận – Vi Thùy Linh). Thơ trẻ đương đại thường tìm cho mình một lối thoát sau nỗi cô đơn, nỗi buồn tràn ngập, một tiếng reo vui khi trái tim được giải thoát khỏi những đợi mong, những thổn thức. Nhưng, tiếng nói thơ nữ đương đại khác trước ở chỗ, họ luôn dự cảm mong manh trước niềm vui tạm thời đó. Phía sau niềm vui là nỗi lo lắng mới, niềm lo lắng thường trực và khó xua tan. Xã hội hiện đại luôn kéo theo nó những bất ổn không dễ gì biết trước được, con người luôn phải đuổi theo nó đến tận cùng, cứ phải lo lắng, cứ phải tìm kiếm, cứ phải ý thức nỗi buồn, nỗi cô đơn luôn thường trực, bao giờ cũng có trên đường chạy của mình: “Nỗi cô độc mọc dại ngút ngàn đường chạy/Không hiểu sao lại khóc nhiều đến thế?/ Không hiểu sao lại buồn nhiều đến thế? (Viết cho ngày sinh nhật 10.10.2003 – Trương Quế Chi)
 
       Cuộc đời trước mắt như một dấu hỏi lớn. Các ngả đường như một dấu hỏi lớn. Trước vô vàn nẻo đường tương lai, đôi khi con người phải lựa chọn thật nhiều, hoang mang thật nhiều. Cũng từ đó con người thấy cô độc trước sự đông đúc của những chọn lựa. Thơ nữ đương đại, những cô gái đương đại viết về những vấn đề đương đại luôn cảm thấy trước mắt mình nhiều ngả rẽ, nhiều nỗi cô đơn, nhiều nỗi buồn. Có một thực tại nghiệt ngã, và ngược chiều nhau, khi cuộc sống càng bận rộn, càng ít thời gian dành cho mình, con người lại cảm thấy cô đơn ngay trong sự bận rộn đó. Những giờ phút hiếm hoi dành để chăm sóc bản thân mình, cũng là lúc những cô gái cảm thấy bất lực trước con chữ, trước trang thơ. Ngổn ngang nỗi buồn thiêu đốt từng vi mạch. Trang thơ tự cắt nghĩa nỗi buồn mà không lý giải nổi: “Thật ra nỗi buồn đâu có màu sắc gì/ Chỉ là màu vàng của ánh đèn vàng đêm đêm soi vào mắt cô gái trẻ để tìm cho ra nỗi buồn có màu sắc gì/ Nhưng mắt quá trong/ Khoắng lên cũng vô ích (Lô lô – Ly Hoàng Ly). Ngày đã tắt nắng, ngọn lửa cháy bùng lên trên không trung trong đêm, giữa mặt đất, nhưng nỗi buồn không vơi đi mà bị nhân lên gấp bội. Đôi khi nỗi buồn dài dặc kéo lê cuộc sống vô vị, thành nỗi cô đơn dai dẳng và khó dứt:”Em đã cô đơn những ngày không bạn bè/ Không phố xá và anh không đến nữa/ Mùa đã mới mà nỗi buồn vẫn cũ/ Lòng tan hoang như ô cửa gió lùa” (Một đóa hoa vàng – Bình Nguyên Trang). Nỗi buồn cứ thế lan ra, đôi khi cứ mặc nó tuôn chảy trong tâm khảm, trong trí nhớ, trong tiềm thức. Chúng ta có cảm giác rằng, nỗi buồn, nỗi cô đơn như một thứ gia vị của cuộc sống hiện đại “tôi còn buồn là tôi còn sống” (Inasara) nên cứ để kệ nó cuốn trôi, cuốn trôi cảm giác của mình đi. Thơ nữ trẻ đương đại thể hiện bản thể cô đơn đáu đáu và trực diện, như là tự sự với chính bản thân mình, tự sự với trang giấy trắng ngổn ngang. Đôi lúc cái tôi cô đơn òa vỡ và nhận thấy sự phù du của kiếp người: “Nhiều khi đơn độc/ Muốn thức dậy ở cõi khác/ Hình dung một nụ cười/ Đưa sợi tóc lên ngậm miệng/ Cũng đỡ nhớ niềm vui...” (Buổi sáng – Phan Huyền Thư). Tuy nhiên, nỗi cô đơn như một con dao hai lưỡi, mình biết chế ngự nó, thì mình vượt qua, nhưng mình bị nó chế ngự thì mình trở thành nô lệ. Cái tôi cô đơn, buồn bã mang tính tiêu cực sẽ biểu hiện một quan niệm lệch lạc: “Chẳng biết có đêm nào như đêm nay/ Bằng một nỗi cô đơn hoàn hảo/ Tôi thấy mình chết trong khoảng khắc khi nhìn vào gương soi (Lẩn thẩn – Khương Hà). Chẳng thể có một nỗi cô đơn hoàn hảo, nếu nó hoàn hảo, nó sẽ lại nguyên vẹn. Cũng như không thể biến nỗi cô đơn trở thành cái chết vô nghĩa. Nỗi cô đơn phải làm cho người ta giàu hơn lên trong tâm hồn, giàu hơn khát vọng sống, khát vọng yêu. Cũng không thể để nó triệt tiêu của chúng ta những đam mê và sức lực: “Nỗi buồn gặm nhấm con người từng ngày/ Nó ngốn của chúng ta sức lực” (Một ngày chưa có trong sự thật – Vi Thùy Linh)
 
       Không thể để nỗi buồn rứt, rỉa mình như một thứ mồi ngon. Tuổi trẻ biết buồn biết cô đơn nhưng phải vực dậy để tiến kịp đời sống như vũ bão tính bằng giây đang qua đi trên thế giới. Cũng không thể “khai tử” mình khỏi vũ trụ “Buồn tập tễnh/ Về ăn giỗ mình” (Phan Huyền Thư) được. Đó là nỗi buồn, nỗi cô đơn ảo não tự hủy hoại. Thơ nữ trẻ đang lạm dụng sự phát ngôn về nỗi cô đơn, buồn chán trong thơ. Chực như thế giới bị nỗi buồn xâm chiếm và chỉ cần một rung động nhẹ thôi nó cũng ngân lên những bài ca về nỗi buồn, nỗi cô đơn nhỏ bé, vụn vặt, vô tích sự. Dường như họ nghĩ rằng, không có cụm từ buồn, cụm từ cô đơn trong trang viết thì thơ không lay động được trái tim người đọc.
 
       Mặc dầu có những hạn chế nhỏ khi bộc lộ cái tôi cá nhân cô đơn, buồn bã, nhưng thơ nữ trẻ đương đại đã có những khoảnh khắc thăng hoa của cái tôi cô đơn. Họ trả lại cho thi ca vẻ đẹp của cái tôi cô đơn buồn bã tràn sức sống mà một thời không được phép đánh thức. Họ trở về đúng nghĩa với chính mình, là cái tôi cần sẻ chia, cần bù đắp. Những nỗi cô đơn mặn mà cần một bờ vai rộng chở che, yêu thương. Là sự khao khát tình yêu, khao khát người yêu những lúc vắng xa cách trở... Cái tôi cô đơn biết nâng niu tình yêu và hạnh phúc, làm đẹp hơn cho đời những giây phút trở về với nguồn cội của tâm hồn, một tâm hồn nữ yếu đuối, vị tha và giàu lòng trắc ẩn.
 
       Như vậy, trong một khuôn khổ nào đó, thơ nữ trẻ đương đại đã có những thành tựu đáng ghi nhận ban đầu. Họ đang có tiền đề thuận lợi cả về chủ quan lẫn khách quan để bứt phá trong chặng đường tiếp theo. Nếu như họ không yên phận với cái tôi bản thể đang trỗi dậy đầy thách thức với cuộc đời, mà có những mối quan tâm đến cộng đồng rộng lớn, thì “nguồn sống mới” của họ sẽ mang một “tầm vóc” mới. Họ sẽ xứng đáng hơn với nội lực thơ trẻ đang có nhiều cách tân thử nghiệm để hòa vào làn sóng đương đại thế giới./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}