Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Thử nhận diện con người Việt Nam hôm nay

Chủ Nhật, 16/11/2014 13:57 GMT +7
GS.TSKH. Tô Ngọc Thanh
Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam
Chủ tịch Hội đồng LLPB Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam

 
          Nghị quyết Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa XI đã tập trung vào vấn đề “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.Điều này cho thấy vấn đề xây dựng và phát triển văn hóa và con người Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng đối với sự nghiệp phát triển bền vững đất nước. Để nhận thức sâu hơn một bước nội dung của nghị quyết, Đảng đoàn, Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo Xây dựng con người Việt Nam hôm nay và trách nhiệm của văn học nghệ thuật. Thay mặt Ban tổ chức hội thảo tôi xin phép được gợi mở một vài điều về con người Việt Nam hôm nay.

 
 
          Con người luôn luôn là một thực thể mang tính lịch sử - xã hội của một xã hội nhất định. Trong bài “Tiểu luận về Feuerbach”, Các Mác đã viết: ... bản chất con người không phải là một cái  trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”[1]. Như vậy có thể thấy mối quan hệ giữa con người và cộng đồng luôn có ý nghĩa giữa một môi trường, một nền tảng, trong đó và trên đó hình thành và phát triển những đặc trưng tinh thần của mỗi giai đoạn lịch sử xã hội nhất định với mỗi con người trong xã hội ấy.
 
          Đối tượng nhận thức và góp phần xây dựng của chúng ta là con người Việt Nam hôm nay, nhưng trong cái nhìn lịch sử xã hội,  hôm nay không phải là giá trị riêng biệt, xuất hiện ngẫu nhiên, mà là kết quả của cả  một quá trình của những hôm qua. Vì thế, để nhận thức về con người Việt Nam hôm nay không thể không xem xét nó trong lịch sử, ít nhất là trong thời đoạn cận đại.
 
          Mặt khác, con người vốn là “tổng hòa những quan hệ xã hội” nên không thể trong một lúc, một Hội thảo, chúng ta có thể bao quát tất cả những quan hệ trong cái “tổng hòa”ấy. Tuy nhiên, trong cái “tổng hòa”, thiết nghĩ mối quan hệ giữa con người và cộng đồng nơi nó sinh ra, lớn lên, hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt ; vì, trong cội nguồn của mình con người vốn là một động vật bầy đàn. Từ khi bước vào thời kỳ văn minh, cộng đồng luôn là cái nôi văn hóa, nơi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển của cộng đồng và của cá thể con người. Trong cả cuộc đời mình, con người tiếp nhận truyền thống văn hóa của cộng đồng, đồng thời đóng góp phần sáng tạo của mình trong quá trình thực hành văn hóa cộng đồng.
 
          Sau đây xin đi vào chủ đề đã nêu trên:
 
          1. Trước Cách mạng Tháng Tám 1945, 95% dân số các tộc người  nước ta là nông dân. Họ canh tác độc canh lúa trong một nền nông nghiêp cơ bắp trên các ruộng nước ở đồng bằng hay thung lũng, trên các loại hình nương rẫy. Họ sinh sống trong những công xã xóm làng – một đơn vị xã hội tương đối khép kín, có chung một lãnh thổ không lớn, chung một biểu tượng thần linh hay tôn giáo, chung một hệ thống văn hóa mang tính dân gian  Mặc dầu thuộc về những dòng họ khác nhau, nhưng mỗi người đều có thân phận là một thành viên công xã được bình đẳng trên danh nghĩa tuy trên thực tế, thân phận đó còn tùy thuộc vào việc mỗi người thuộc nhóm xã hội nào trong một xã hội đã và đang phân tầng trên các cấp độ khác nhau (địa chủ, phú nông, trung nông, bần nông, cố nông ở miền xuôi; chúa đất như lang đạo, phìa tạo hay dân bản, người hầu v.v… ở miền núi). Trong xã hội cổ truyền này, con người sống và hành xử theo luật tục hay lệ làng để được công nhận là “người làng”. Thời ấy, gặp nhau người ta không hỏi tên nhau mà thường hỏi: “Ông/bà/anh/chị người đâu ta?” (ở miền xuôi), hay “người bản, buôn, p’lây nào” (ở miền núi)  tức là hỏi anh là người cộng đồng nào. Người được hỏi sẽ trả lời “Tôi người làng, bản, buôn, p’lây X”. Nếu đó là  một làng bình thường, người hỏi sẽ không tiếp tục nữa. Nhưng nếu đó là một làng có tiếng như làng Đình Bảng chẳng hạn, thì người hỏi sẽ xuýt xoa chúc mừng người được hỏi, vì ông/bà/anh/chị ấy có vinh dự là thành viên một cộng đồng danh giá đến thế, mặc dầu người được hỏi có khi chỉ là một cố nông.
 
          Như vậy vào thời kỳ này, danh hiệu “người làng”, hay nói như ngày nay, danh hiệu “thành viên công xã” là chuẩn nhân cách xã hội phổ biến trong xã hội Việt Nam, là niềm vinh dự và thân phận của mỗi người nông dân. Sự phân biệt đối xử của cộng đồng giữa “dân ngụ cư” -  những kẻ “ở nhờ”- với “người làng”, khẳng định điều vinh dự này. Tuy nhiên, cộng đồng làng xã cùng với các thể chế, các quy định lệ và luật tục, hương ước cũng lại là cái “khung chế định’, điều chỉnh hành vi ứng xử của mỗi thành viên trong mọi mối quan hệ. Ngoài ra, thông qua việc tạo điều kiện và phân công cho các nhóm thành viên khác nhau về lứa tuổi và giới tính tham gia và thực hành các hoạt động văn hóa, cộng đồng đã trao truyền truyền thống văn hóa của cộng đồng cho các thành viên, giúp họ hòa nhập nhanh chóng và hiệu quả vào nhịp sống của cộng đồng; đồng thời, tập thể thành viên cộng đồng tham gia hoạt động văn hóa sẽ chọn lọc những sáng tạo của các cá nhân trong họ để bổ sung và làm cho truyền thống văn hóa cộng đồng ngày càng đẹp hơn, giàu có hơn.
 
          2. Trong thời gian của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, mối quan hệ giữa cộng đồng và thành viên được thể hiện chủ yếu trên cơ sở toàn dân đoàn kết một lòng thực hiện mục tiêu duy nhất và nóng bỏng là chiến thắng kẻ thù xâm lược, giành lại độc lập cho đất nước. Hãy nghĩ xem, nếu khi ấy không có hợp tác xã – một hình thức cố kết mới của cộng đồng làng xã – thì liệu những chiến sỹ miền Bắc có thể yên tâm đi chiến đấu không? Liệu có thể có được khẩu hiệu tràn đầy quyết tâm “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người” không? Ở miền Nam sức mạnh của cộng đồng càng thể hiện rõ. Nếu không thì không thể có sự đoàn kết chống dồn dân lập ấp, không thể có đội quân tóc dài hùng mạnh. Những giá trị văn hóa cộng đồng được phát huy mạnh mẽ trong hoàn cảnh cam go của chiến tranh. Từ tinh thần “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” chuyển sang lời tuyên ngôn quyết liệt “Còn cái lai quần, ta vẫn còn đánh Mỹ” của chị Út Tịch và kỳ tích của hàng chục km địa đạo Củ Chi, Vịnh Mốc. Như vậy, trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh, mối quan hệ máu thịt giữa cộng đồng làng xã và thành viên chẳng những không bị giảm sút, mà còn được nâng lên tầm cao mới. Cộng đồng làng được mở rộng thành cộng đồng dân tộc trong nhiệm vụ chung của đất nước. Bên cạnh danh hiệu “người làng”, nay, mỗi người còn có danh hiệu xã hội khác mang tầm quốc gia, như “bộ đội”, “thanh niên xung phong”, “dân quân tự vệ”, “xã viên hợp tác xã” v.v… trong những cộng đồng xã hội mới tương ứng  và có những chuẩn riêng đối với thành viên của mình.
 
          3. Sau năm 1975, những cộng đồng phục vụ chiến tranh hoặc giải thể, hoặc chuyển đổi sang chức năng sản xuất, ở nông thôn chỉ còn lại các hợp tác xã nông nghiệp và những cộng đồng đoàn thể và ở đô thị là các xí nghiệp nhà nước hoặc công tư hợp doanh. Chế độ tập thể theo cơ chế bao cấp lúc đó về thực chất là tập trung quyền hành vào một nhóm người nào đó với danh nghĩa của một tổ chức được Nhà nước trao quyền và công nhận. Kết quả là nền kinh tế bị trì trệ, dân chúng nghèo nàn, thậm chí đói kém (150 gram thóc cho một ngày lao động của xã viên).
 
          Chủ trương “Đổi mới” của Đảng bắt đầu từ chính sách “Khoán 10” trong nông nghiệp đã kịp thời đưa đất nước ra khỏi tình trạng bê trễ này. Sau đó thì nền kinh tế với cơ chế thị trường, mở cửa và hội nhập được thực hiện trong toàn xã hội, cố nhiên, với sự điều phối của Nhà nước.
 
          Xin không kể lại những thành tựu lớn lao chưa từng có do công cuộc mấy chục năm “Đổi mới” đem lại – một điều mà mọi người đều thấy rõ và không thể nói hết trong một tham luận ngắn. Tôi muốn tìm hiểu sâu hơn một điều không mới nhưng ít được nhắc đến. Đó là sự biến đổi về chất mối quan hệ giữa cộng đồng và thành viên mà cốt lõi của nó là sự công nhận trọn vẹn hơn của xã hội đối với tư cách cá thể (individue) của thành viên. Sự công nhận này biến người xã viên trở thành người chủ có quyền quyết định và chịu trách nhiệm đối với vận mệnh của chính mình và cả gia đình mình. Nó cho phép những “con phe” biến thành những thương nhân, cho phép những “vua lốp” bị “kiểm tra hành chính” trở thành những chủ xí nghiệp tư nhân và sau mấy chục năm, xã hội đã xuất hiện một tầng lớp doanh nhân, trong đó có không ít những “đại gia”, đóng góp cho sự phát triển vượt bậc trên các mặt của xã hội. Sự công nhận đã giải phóng và khơi dậy năng lực hoạt động và trí tuệ tiềm tàng của các cá thể.
 
          Với khẩu hiệu “Hãy tự cứu lấy mình”, một không khí dân chủ mới đã xuất hiện trong đời sống tinh thần và văn hóa của nhân dân nói chung và giới văn nghệ sỹ nói riêng. Tính giai cấp mà một thời là chuẩn duy nhất để đánh giá các hoạt động văn hóa nay đã được đặt vào đúng vị trí của nó trong tổng thể các chuẩn giá trị khác. Đời sống tinh thần của nhân dân được tôn trọng, các giá trị di sản văn hóa không còn bị coi là lạc hậu lỗi thời hoặc thậm chí phản động nữa. Đình chùa, miếu mạo được bảo vệ, các hội làng được khôi phục. nhân dân tự do lễ bái v.v…
 
          Mối quan hệ “người làng” và “làng” vốn đã được mở rộng ra thành mối quan hệ giữa Tổ quốc và công dân trong chiến tranh giành độc lập dân tộc thì nay trở thành mối quan hệ “dân giàu & nước mạnh”. Từ thân phận “người làng” của “làng” chuyển thành “công dân” của “nước” là một tiến bộ lớn góp phần không nhỏ vào thành tựu của công cuộc đổi mới.
 
          4. Nhưng “cá thể” trong mối quan hệ nghĩa vụ và trách nhiệm công dân không đồng nghĩa với chủ nghĩa cá nhân vị kỷ mà biểu hiện của nó với các cấp độ khác nhau đang đầy rẫy trong xã hội hôm nay. Đó là nạn tham nhũng, hối lộ; đó là trò đánh thầy, còn thầy thì ve vãn trò; đó là con đánh đập, xua đuổi cha mẹ; là tội phạm chống người thi hành công vụ; là lâm tặc, khoáng tặc, vàng tặc; là mãi dâm, lừa đảo; là mua quan bán tước, mua bằng bán học vị và cả những hành động dã man thời trung cổ nữa, v.v… và v.v…, không sao kể xiết. Trong lúc đó hệ thống pháp luật và các thể chế chính quyền, tức là những phương tiện chế định và chuẩn hóa hành vi cá thể thì lại còn đang trên đường hoàn thiện, chưa đủ sức mạnh điều chỉnh hành vi phá hoại xã hội của không ít cá thể. Sự phát triển quá mức và vô thức của cá thể mang tính cá nhân vị kỷ với xã hội hôm nay chưa đồng bộ, tạo nên sự mất cân bằng trong mối quan hệ cộng đồng và cá thể thành viên. Đó là một trong những nguyên nhân cơ bản của những mảng tối trong hiện thực xã hội chúng ta hôm nay
 
          5. Thế còn những giá trị cao đẹp trong truyền thống văn hóa ngàn đời của ông cha thì sao, chúng biến đâu mất rồi ? Thực ra, thân phận của những giá trị di sản cũng chỉ mới được đặt đúng vào vị trí và ý nghĩa lịch sử của chúng từ trong công cuộc “Đổi mới”, nhất là từ khi có Nghị quyết Trung ương V- khóa VIII về việc “Xây đụng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.” Còn trước đấy, có lúc chúng bị coi là tàn dư của chế độ phong kiến vì chúng chứa đựng những tư tưởng lạc hậu, lỗi thời. Còn nhớ, cách đây mấy chục năm, một vị giáo sư già vừa mới đề nghị khôi phục khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” trong các trường phổ thông thì lập tức có nhiều bài chính luận lên án cái đề nghị mà họ gọi là “thủ cựu” của ông.
 
          Thêm nữa, để xây dựng một xã hội “hiện đại”, ngoài việc giao lưu học hỏi những nhân tố văn hóa của thế giới hiện đại, chúng ta cũng phải “hiện đại hóa” con người và đời sống xã hội. Đây là điều tất yếu phải làm trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập, nhưng sự nhấn mạnh quá nhiều về khía cạnh “hiện đại hóa’ vô tình đã dẫn đến sự thờ ơ với  truyền thống. Chỉ lấy một ví dụ: các giờ vàng trên phương tiện truyền thông tràn ngập những lối sống, chuẩn nhân cách “hiện đại”, còn các giá trị di sản thì thường chỉ được trình ra vào khoảng từ 22 giờ trở đi.  Trong bài “Giới trẻ Việt Nam “sống” theo MTV”, tác giả Trịnh Hiếu Đông viết trên mạng Thể thao và Văn hóa ngày 03/02/2009 như sau:
 
          “Chúng ta không còn ngạc nhiên khi thấy các cô bé, cậu bé Hà Nội chưa bao giờ bước chân ra nước ngoài cũng ăn mặc phục trang y hệt bạn bè cùng lứa tuổi với chúng trên một quảng trường nhộn nhịp Tôkyô hay một khu phố tĩnh lặng nào đó tại thủ đô Viên của nước Áo. Những đợt tụ tập của giới “Gô tích” hay “Harajuku” làm sặc sỡ phố phường lên nhiều nhưng cũng làm người ta băn khoăn về sự giống nhau đều khắp… lại gây ra phản ứng phụ, dẫn tới phai mòn bản sắc, quá nhiều “cá nhân tính” lại rất có thể dẫn tới triệt tiêu cả con người cá thể”.
 
          Chúng ta thường nghe các nhà truyền thông thanh minh rằng họ phải làm như thế mới phù hợp với thị hiếu lớp trẻ, nhưng không ai nghĩ rằng thị hiếu ấy lại do chính những chương trình MTV đem đến vì về thực chất, thị hiếu hay mốt đều là kết quả của một quá trình “được/bị giáo dục”.
 
          Như vậy, chúng ta đang chứng kiến một quá trình xuất hiện và hình thành con người với tư cách cá thể như là một trong những nét trội trong phẩm chất con người Việt Nam hôm nay. Phải chăng đó sẽ là một trong những động lực chính trong sự nghiệp phát triển một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” của nhân dân ta trong tương lai? Cố  nhiên, “tư cách cá thể không hoàn toàn phủ định và thay thế tư cách thành viên”. Trái lại, trong quan hệ với cộng đồng, tư cách cá thể sẽ có vai trò tích cực, có những đóng góp thiết thực và có chất lượng hơn cho sự phát triển của cộng đồng so với tư cách thành viên khi xưa.
 
          Tuy nhiên, hiện nay chuẩn nhân cách của cá thể chưa được định hình. Chúng ta có thể bắt gặp trong thực tiễn vô số những biểu hiện của nhân cách cá thể trong tất cả tầng lớp xã hội, giai cấp, nhóm xã hội nghề nghiệp, ở tất cả các cấp độ hoàn thiện khác nhau. Nhiệm vụ chung của xã hội, trong đó đặc biệt là nhiệm vụ của giới văn học nghệ thuật, là tôn vinh, khẳng định những chuẩn nhân cách cá thể mong muốn theo hướng sáng tạo, trung thực, tâm huyết, trách nhiệm, mỗi người vì mọi người và mọi người vì mỗi người. Đồng thời, kiên quyết lên án những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, thói vô cảm, vô trách nhiệm đối với bản thân và với cộng đồng.
 
          Chắc chắn đây sẽ là một trong những chân trời rộng mở, tuy không hoàn toàn xa lạ những cũng không phải là “người quen cũ,”cho những sáng tạo văn học nghệ thuật của chúng ta. Kính chúc quý vị sức khỏe và nhiều thành công
          Tháng 7/2014
 _______________________________       
[1] Sách “Những vấn đề nhân học tôn giáo” Hội Khoa học lịch sử Việt Nam và Tạp chí Xưa và Nay. Nxb. Đà Nẵng, 2006,Trang 29.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}