Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Năm, 26/11/2020 17:10

Bài Viết:

 

Tiểu thuyết sử thi hôm nay - Những khuynh hướng đổi mới

Thứ Bảy, 21/02/2015 14:30 GMT +7
Nguyễn Thanh Tú
 
     Công cuộc đổi mới tiểu thuyết của chúng ta manh nha từ trước đó nhưng rõ nét hơn từ sau 1986, đến đầu thế kỷ XX thì càng dễ nhận diện. Nhìn chung sự đổi mới đi theo hai xu hướng: hiện đại hóa và đổi mới từ truyền thống.

    
Ở xu hướng thứ nhất có thể hình dung thể loại tiểu thuyết là sự phân nhánh. Trước đó hầu như chỉ có một dòng sử thi thì nay phân ra thành nhiều dòng. Đề tài được mở ra, các cách viết mới được thể hiện. Các dòng đời tư, thế sự…thấm dần rồi tuôn trào vào các ngóc ngách đời sống mà trước đây cấm đoán, kiêng kỵ. Nhất là về hình thức thì thật muôn vẻ: dòng ý thức, đa thanh, trò chơi, kỳ ảo…

  Ở hướng sau thì hình dung tiểu thuyết như sự hợp lưu của nhiều dòng khác, dòng sông sử thi chủ lưu không trong vắt như xưa mà nhiều màu sắc, dĩ nhiên là cường tráng hơn và cũng phức tạp, khó lường hơn. Nhìn một cách bao quát, có mấy khuynh hướng sau:
 
1. Khuynh hướng lịch sử - tái hiện
     
     Chúng tôi gọi là lịch sử - tái hiện lấy căn cứ vào độ chính xác của các sự kiện lịch sử mà tiểu thuyết đó mô tả. Trên cơ sở sự kiện này mà tác phẩm có cả một hệ thống thi pháp tái hiện tương ứng. Đặc điểm nội dung cơ bản bao trùm của tiểu thuyết sử thi là luôn có các trận đánh, các chiến dịch với ngày giờ cụ thể, tầm quan trọng chiến lược, ý nghĩa quân sự, chính trị...Chính vì thế mà một nét thi pháp không thể bỏ qua là không gian nghệ thuật. Lịch sử chiến tranh thế giới cho thấy, hai bên đối nghịch gây chiến với nhau thường là do mâu thuẫn về quyền lợi, mà một trong những quyền lợi chủ yếu là sự làm chủ một không gian địa lý nào đó. Về bản chất, cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và Mỹ gây ra trên đất nước ta là cuộc chiến của bên xâm lược là chiếm đất, bên chống xâm lược là giữ đất và đòi lại đất đã mất. Điều này hình thành một đặc điểm của tiểu thuyết sử thi của ta là mỗi tác phẩm thường mang nội dung phản ánh, miêu tả một trận đánh lớn, một chiến dịch quan trọng. Chính vì thế cảm hứng sử thi cũng thường gắn với không gian (như con đường, trận đánh...), với các sự kiện lịch sử trọng đại (như Tổng tiến công mùa xuân 1968, trận đánh cửa mở Xuân Lộc...). Ngay tên tác phẩm cũng chứng minh điều này: Xuân Lộc, Thượng Đức, Mùa hè giá buốt, Xiêng Khoảng mù sương, Truyền thuyết sông Thu Bồn…. Điều này dẫn tới tiểu thuyết sử thi Việt Nam vẫn còn thiên về kể lại, về tái hiện sự kiện là một chiến dịch, một trận đánh xảy ra ở một địa điểm cụ thể trong một thời gian vật lý xác định mà chưa quan tâm tới sự phân tích, lý giải, cắt nghĩa sự kiện.  Do vậy tác phẩm có thể hấp dẫn bạn đọc ở sự mô tả những trận đánh với tính chất cực kỳ khốc liệt chứ chưa mời gọi bạn đọc đi theo quá trình phân tích tâm lý con người. Có thể hình dung thế này: tiểu thuyết Việt Nam thường dựa trên cái bối cảnh chung, cái nền chung của một trận đánh, một chiến dịch mà từ đó xây dựng tính cách tâm lý nhân vật. Như vậy thì tất yếu nhân vật tập thể rất được coi trọng. Và cũng rất lôgich với tính chất đặc biệt của những cuộc kháng chiến là huy động toàn dân, toàn diện. Sức mạnh của chiến tranh là sức mạnh của cộng đồng, cái cá nhân hoà tan vào cái cộng đồng đó.
 
      Nhưng ở tiểu thuyết nước ngoài lại có một hướng gần như là ngược lại, luôn chú ý đến cái cá nhân, bối cảnh chiến tranh được tái hiện thông qua cái cá nhân, câu chuyện của cá nhân.
 
      Từ những nét khác nhau này dễ thấy tiểu thuyết sử thi Việt Nam mạnh về  miêu tả sự kiện, kể lại tình huống mà còn thiếu đi sự phân tích cả một quá trình phát triển tính cách, cái mà L. Tônxtôi gọi là “biện chứng pháp tâm hồn”. Nếu có thì cũng chỉ là những khoảnh khắc trăn trở, dằn vặt, suy nghĩ…của nhân vật để phục vụ cho sự phát triển của cốt truyện. Nhưng vẫn có thể kể tên những tiểu thuyết của Việt Nam đã  vượt ra khỏi cái nền chung để vươn tới bút pháp của phân tích, như Nỗi buồn chiến tranh, Rừng thiêng nước trong, Bến đò xưa lặng lẽ
 
       Dễ dàng chứng minh hầu hết các các tác phẩm đều đi theo khuynh hướng  lịch sử - tái hiện với biểu hiện trước hết là luôn có một bối cảnh lịch sử cụ thể. Đó là Bến đò xưa lặng lẽ chọn không gian miêu tả là làng Quách Xá, Tân Mỹ, An Hưng, Phước Tuyền .... vùng đất phía nam bờ sông Hiếu và một bến đò Hói Cụ mà con đò qua lại hai bờ sông, tên sông là Bến Hải nổi tiếng một thời. Đấy là một cách chọn có ý thức để tạo ra một không gian đầy sự tranh chấp, đầy sự giằng co thể hiện sự tập trung nhất tính phức tạp, ác liệt của thời chiến. Hơn 30 năm chiến tranh, chưa ở nơi đâu trên mảnh đất này chiến tranh luôn thường trực từng phút, từng giờ như ở mảnh đất ấy. Chưa đi sâu vào nội dung tiểu thuyết, với lời kể ấy, kể về không gian ấy thì người đọc đã thấy gai người nhất là với những ai đã từng qua chiến tranh thì ký ức về nó lại trở về sống động.Tiểu thuyết là âm vang của lịch sử. Đi suốt tiểu thuyết là các biến động xã hội từ khi nhân vật được chứng kiến đó là sự kiện cải cách ruộng đất. Đó là chiến dịch Cam Lộ, là Đường 9 Khe Sanh, là cuộc Tổng tiến công 1975.
 
     Đó là cuốn Đường đen nước đỏ được tái hiện mảnh đất Khu Năm, chiến trường rất khốc liệt, lấy mốc thời gian bắt đầu từ Tổng tiến công nổi dậy mùa xuân Mậu Thân năm 1968 đến sau chiến dịch xuân hè năm 1972. Đỉnh máu là một tiểu thuyết về đề tài chiến tranh cách mạng lấy bối cảnh quân ta và quân nguỵ tranh giành nhau một khoảng không gian đỉnh cao 1062 thuộc địa bàn Quảng Nam những năm 1971-1973. Có thể coi tác phẩm là tập 2 của bộ tiểu thuyết nhiều tập mà tập 1 Thượng Đức đã có những thành công. Bên dòng Sầu Diện chọn bối cảnh chiến tranh thời đánh Pháp là vùng đất An Lạc gần cảng biển Hải Phòng. Mùa hè giá buốt lấy cảm hứng từ những trận đánh ở miền Đông Nam bộ, nhất là trong chiến dịch chống càn Juntion City và Chiến dịch Mậu Thân 1968… Đất không đổi màu tái hiện cảnh bộ đội Việt Nam phải trả giá bằng mạng sống của chính mình khi làm nhiệm vụ quốc tế giúp nhân dân Cămphuchia xây dựng lại cuộc sống... Truyền thuyết sông Thu Bồn là những sự kiện gắn liền với tiểu đoàn đặc công 91 với hầu hết là người Thanh Hóa chiến đấu và hy sinh tại Quảng Nam. Không gian tác phẩm là vùng đất “chưa mưa đã nắng” khắc nghiệt, trong chiến tranh thì nổi tiếng dữ dội nhưng tình người cũng thật đậm đà, nơi  ấy có con sông Thu Bồn như là huyền thoại...
 
     Đi theo hướng này các nhà tiểu thuyết luôn có xu hướng làm sống lại lịch sử một cách trung thực nhất. Cái bảo hiểm cho sự thật lịch sử chính là vốn sống của mỗi nhà văn. Họ viết bằng sự trải nghiệm của một thời binh lửa, tận mắt chứng kiến, và là người từng ở trong cuộc để rồi hôm nay viết ra những điều gan ruột: Nguyễn Chí Trung, Hồ Phương, Nam Hà, Văn Lê, Nguyễn Trí Huân, Chu Lai, Nguyễn Bảo, Khuất Quang Thụy, Trung Trung Đỉnh, Xuân Đức, Đỗ Kim Cuông, Nguyễn Tiến Hải...Chính vì thế, như một hệ quả, cùng với khuynh hướng này là cách viết theo lối tự thuật, tự truyện được thể hiện khá rõ.
 
      Viết về cuộc sống rèn luyện, những tâm tư tình cảm của người lính hôm nay, hai nhà văn trẻ Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Xuân Thủy có những trang viết khá sinh động về hiện thực. Mạch kể của Màu rừng ruộng đi theo bước chân của nhân vật chính (Vinh) tái hiện một không gian nông thôn thời ngay sau giải phóng còn chìm trong đói khát và những hủ tục nặng nề; một không gian Tây Nguyên ẩn đằng sau vẻ đầy chất thơ là sự nguy hiểm của chết chóc bởi bom mìn. Biển xanh màu lá đưa bạn đọc đến với một không gian đặc biệt, không gian biển đảo. Ngòi bút này có duyên với những trang tả cảnh đặc sắc, độc đáo chỉ có ở vùng biển đảo Trường Sa: nơi đó, do cấu tạo địa chất dưới đáy biển mà mặt biển có một màu xanh...như lá. Nơi đó người lính phải đối mặt với những gì dữ dội nhất, nguy hiểm nhất để giữ yên biển trời của Tổ quốc. Bút pháp tái hiện này chỉ có được ở một nhà văn có vốn sống thực tế tại Trường Sa như Nguyễn Xuân Thủy. Tiểu thuyết này minh chứng một cách hùng hồn cho vấn đề vốn sống: hãy sống, hãy trải nghiệm, hãy va đập quăng quật trong cuộc đời thì mới mong có trang viết sống động...Tiếc rằng những trang tiểu thuyết như hai tác phẩm này không thật nhiều. Cũng một lý do dễ hiểu: chúng ta có ít những vốn sống từ cơ sở.
 
     Tái hiện lịch sử thì dễ viết nhưng khó hay. Chỉ cần có vốn sống và năng khiếu tái hiện là có thể có những trang văn mang tính tư liệu về chiến tranh. Nhưng nếu chạy theo sự kiện, làm nô lệ cho sự kiện thì trang viết rất dễ rơi vào “chụp ảnh”. Ngay ở khu vực thể ký, Trận phố Ràng của Trần Đăng, một ký sự tiêu biểu cũng cho ta thấy để có một trang ký hay cũng không hề là sự ghi chép đơn thuần, mà phải là một sự công phu chọn lọc chi tiết đắt, sắp xếp hệ thống theo cảm hứng sáng tạo nhất định. Ở thể tiểu thuyết đòi hỏi cao về tính hư cấu thì sự tái hiện chỉ là một nhiệm vụ trong công việc lao động của nhà văn. Trong giai đoạn 1945-1975 không phải là không có nhiều trang tiểu thuyết đơn giản là ghi chép, là thuật lại sự kiện. Điều này dễ gây ra một cách hiểu phiến diện có phần oan uổng cho cả một nền tiểu thuyết sử thi có nhiều thành tựu là “văn học minh họa”.
 
2. Khuynh hướng lịch sử - hư cấu
   
       Gọi là lịch sử - hư cấu để chỉ lối viết dựa trên cái nền lịch sử mà hư cấu, sáng tạo. Hư cấu vốn là một trong những hoạt động cơ bản của tư duy nghệ thuật, một khâu có ý nghĩa quyết định trong sáng tạo của nhà nghệ sỹ. Nhưng đối với đặc trưng phản ánh rộng lớn của tiểu thuyết thì phẩm chất này đòi hỏi ở nhà văn phải cường tráng hơn nhiều. Sáng tạo trong tiểu thuyết là sáng tạo ra một cuộc sống thứ hai. Cuộc sống trong tiểu thuyết, nói như một nhà lý luận nước ngoài, không phải là bản thân đời sống mà là một mô hình về đời sống. Do vậy cuộc sống này non lép, ốm o hay đầy đặn, giàu sinh khí phụ thuộc rất nhiều vào tài năng tưởng tượng hư cấu của nhà tiểu thuyết. Đi theo lối lịch sử - hư cấu thì nhà văn hư cấu trên cái nền của sự thật lịch sử. Người ta đã và sẽ còn tranh cãi trong tiểu thuyết lịch sử thì bao nhiêu phần trăm là sự thật, bao nhiêu phần trăm là hư cấu. Theo chúng tôi, trước hết là phải rõ ràng về mặt quan điểm. Đó là quan điểm nhân dân là người sáng tạo và làm nên lịch sử. Nhà văn viết về bất cứ sự kiện lịch sử nào cũng đều phải thấy nhân dân là lẽ phải, nhân dân là chính nghĩa. Nhân dân ủng hộ ai, giúp ai, người ấy, lực lượng ấy sẽ thắng lợi và ngược lại. Đây không còn là bài học mà là một nguyên lý sáng tạo của thể tài tiểu thuyết lịch sử. Chiến tranh và hòa bình hay Sông Đông êm đềm…không chỉ là tài sản tinh thần của dân tộc Nga mà chúng trở thành ký ức nhân loại: nhân dân luôn yêu hòa bình. Sức mạnh nhân dân là sức mạnh bảo vệ hòa bình, tình yêu thương và công lý. Tiểu thuyết sử thi Việt Nam đã và đang đi theo con đường ấy, nhờ thế đã gặt hái được những thành tựu quan trọng. 
 
     Tác phẩm về đề tài lịch sử là sự sáng tạo, hư cấu trên cái nền đã ổn định của sự kiện lịch sử và nhân vật lịch sử. Nhà văn có thể tha hồ bay lượn trong không gian tưởng tượng sáng tạo nhưng phải nhằm mục đích làm sáng tỏ hơn lịch sử, đem đến những cảm hứng, làm giàu thêm vốn thẩm mỹ mới cho bạn đọc về lịch sử. Viết về Nguyễn Trãi hay Lê Lợi nhà văn không nên lệ thuộc vào con số tỉ lệ bao nhiêu là thực bao nhiêu là hư (ai mà thống kê cho rõ được), anh ta có thể hư cấu tới 80%, 90%, điều ấy không quan trọng. Điều cơ bản là hư cấu làm sao để cho bạn đọc thấy đó vẫn là Nguyễn Trãi, vẫn là Lê Lợi. Nghĩa là qua những sáng tạo mới nhà văn phải làm cho bạn đọc thêm hiểu, thêm yêu, thêm quý trọng nhân vật lịch sử, nếu đó là nhân vật tích cực, chính diện và ngược lại.
 
     Một điều tối kỵ của tác phẩm về đề tài lịch sử là làm sai lệch chân dung nhân vật của lịch sử, sai lệch sự kiện lịch sử.
 
     Lịch sử, xét đến cùng là những gì đã đi qua được người hiện tại ý thức lại. Những bài học lịch sử về đấu tranh chống ngoại xâm sẽ vô ích nếu không làm đọng lại ở người học hôm nay về lòng yêu nước, yêu tự do, lòng kính trọng cha ông đã dũng cảm kiên quyết bảo vệ nền độc lập tự chủ cho nước nhà, từ đó mà được tiếp thêm niềm tin, niềm tự hào để mà sống mạnh mẽ hơn, trung thực hơn, chân chính hơn. Văn học cũng mang mục đích ấy. Nhà văn viết về quá khứ nhưng mục đích là làm sao cho độc giả hôm nay nhận rõ thêm chân giá trị của ngày hôm qua, để họ sống sao cho xứng đáng với lịch sử. Hãy cứ hình dung con đại bàng tác phẩm về đề tài lịch sử được nâng đỡ bởi hai cánh sự thật và thẩm mỹ mà bay vào bầu trời văn hoá đương đại và văn hoá tương lai!
 
  Tiểu thuyết sử thi rất gần gũi, như là anh em với tiểu thuyết lịch sử.
 
   Đi theo khuynh hướng này các tiểu thuyết sử thi của ta thường hư cấu ở phương diện nhân vật. Nhưng không chỉ có hôm nay, tiểu thuyết sử thi 1945-1975 cũng đã thành công trong việc xây dựng những nhân vật rất sinh động. Những nhân vật đã trở thành những tượng đài văn học, như chị Sứ, Lữ, chị Út Tịch,…Các nhân vật này được hư cấu nhưng vẫn nằm trong khung khái niệm, hoặc được đẩy cao, như đã nhận xét, trở thành siêu nhân vật. Nhưng các nhà tiểu thuyết hôm nay lại để cho nhân vật vượt thoát khỏi địa hạt của sử thi. Chúng tôi gọi đó là sự rạn nứt hay phá vỡ cấu trúc … là vì thế. Các tác phẩm của các nhà văn Nam Hà, Hồ Phương, Xuân Đức, Thái Bá Lợi, Chu Lai, Nguyễn Bảo, Văn Lê, Trầm Hương, Khuất Quang Thụy, Nguyễn Quốc Trung, … đã có những thành công.
 
3. Khuynh hướng tự thuật, tự truyện
 
  Tự thuật tự truyện nằm giữa loại văn hư cấu và phi hư cấu. Kể chuyện của mình thì là sự thật (phi hư cấu) nhưng vẫn phải vận dụng trí tưởng tượng để sáng tạo những chi tiết mới góp phần tạo cho tác phẩm sinh động (hư cấu). Trong thực tế văn xuôi phi hư cấu cũng có sức hấp dẫn riêng, ở tính tư liệu, tính xác thực, tính cá nhân…
 
      Tự truyện thường là thể văn tự sự do người kể - nhân vật chính tự kể về câu chuyện của mình, về cuộc đời mình. Tự thuật rộng hơn, cũng thường là tự sự do người kể - nhân vật chính tự kể lại, thuật lại những câu chuyện của mình, mình trực tiếp tham gia hoặc chứng kiến. Tự truyện, tự thuật đều mang tính cá nhân sâu sắc, các khái niệm tác giả, người kể, nhân vật thường là một. Trong một vài công trình nghiên cứu trước đây chúng tôi đã khái quát thành khái niệm kịch hoá trần thuật Khi người trần thuật xưng “tôi” thì “tôi” mang tư cách là nhân chứng của sự thật. Lời kể của “tôi” lúc này được tăng cường đến mức tối đa tính chất đáng tin cậy của câu chuyện kể.
 
    Điều đáng quan tâm là ở khu vực văn xuôi viết về chiến tranh nói chung rất hay đi theo khuynh hướng này. Nhất là ở nước ta, thời gian chiến tranh kéo dài quá lâu, tính chất quá ác liệt nên đã ăn sâu vào tâm thức, đặc biệt là đối với những thế hệ trực tiếp cầm súng đánh giặc. Ngoài hồi ký, bút ký, ký sự… của các tướng lĩnh, các văn nghệ sỹ…là những trang viết nóng hổi tươi rói cuộc sống chiến trường, những suy tư về lý tưởng, hoài bão của những thanh niên trí thức, như Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, Nhật ký Nguyễn Văn Thạc, B.trọc (Phạm Việt Long)…Đáng tiếc là hôm nay bạn đọc chỉ được tiếp xúc với những trang nhật ký cảm động trong vắt một tình yêu đất nước của một vài tác giả. Trên thực tế, ở những ngày “vui sao cả nước lên đường” có hàng vạn những tác giả như thế, có hàng triệu những trang nhật ký như vậy.
 
     Sáng tạo văn chương nói chung luôn là sự sáng tạo ra một cuộc sống mới, tạo ra một sinh mệnh mới, nhất là trong thể tiểu thuyết, một thể loại có dung lượng lớn thì cuộc sống ở đó đòi hỏi một sự phức tạp, nhiều sự kiện, nhiều mối quan hệ chằng chéo. Do vậy, các nhà tiểu thuyết đều ít nhiều hư cấu trên cơ sở cuộc đời cá nhân mình, có điều sự đậm nhạt ở mỗi tác giả, tác phẩm là khác nhau. Vì lẽ này người ta đòi hỏi nhà tiểu thuyết phải trường sức, trường vốn, nếu không sẽ rất dễ lặp lại mình, hoặc là quanh quẩn vì chỉ viết được những gì mình đã biết. Nhà văn không chịu học hỏi, suy ngẫm tìm tòi, may lắm là có một tác phẩm đọc được, còn không sẽ cho ra những cuốn sách dở. Ở khu vực tiểu thuyết về đề tài chiến tranh chúng ta càng dễ nhận ra dấu vết của hình thức tự truyện, tự thuật. Cũng dễ hiểu, phần lớn các tác giả hôm nay đã từng sống chết nơi chiến trường, rời khỏi chiến hào họ lại cầm bút dựng lại mô hình trong tác phẩm những trận đánh giặc mình đã từng tham gia hoặc có nhiều ấn tượng sâu sắc.
 
      Trên thế giới cũng có nhiểu các tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh đi theo lối viết tự thuật, tự truyện. Ví như gần đây là Phía Tây không có gì lạ của Erich Maria Remarque và Những thứ họ mang của Tim O’Brien. Ở Việt Nam tiểu thuyết nổi tiếng viết theo lối này là Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Qua lời tự bạch của nhân vật bạn đọc cũng thấy có những nét tương đồng với cuộc đời của chính tác giả tiểu thuyết: từng làm lính đánh bộ ở địa bàn Quảng Ngãi (Việt Nam), cùng có một con gái. Các tên địa danh cụ thể trong tiểu thuyết cũng là tên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi: làng Thần Khê, Ba Làng An, sân bay Chu Lai, làng Mỹ Khê… Nỗi buồn chiến tranh có nhân vật dẫn chuyện là nhà văn Kiên. Điểm sáng tạo mới của Bảo Ninh là sự lồng ghép giọng kể: vừa là của Kiên vừa là nhân vật trong truyện của Kiên (Kiên là tác giả). Cuối câu chuyện lại xuất hiện người kể xưng tôi, nhưng không phải là nhân vật nữa mà là hình tượng tác giả kể về thao tác tạo ra tác phẩm từ bản thảo của “nhà văn phường”. Như vậy nhân vật Kiên mang tư cách của một người lính trực tiếp cầm súng ở chiến trường Tây Nguyên, hết chiến tranh trở thành nhà văn kể lại (tự thuật) câu chuyện của cuộc đời mình. Kiên là bóng dáng của tác giả Bảo Ninh được xây dựng từ chính sự  trải  nghiệm cuộc đời Bảo Ninh.
 
     Chính hình thức tự truyện đã tạo ra Bến đò xưa lặng lẽ một ấn tượng đặc biệt về cách kể. Chọn ngôi kể là người đã chết cũng là nhân vật chính trong truyện (Khảm) ít nhất tiểu thuyết đã tạo ra những hiệu quả nghệ thuật sau: Một là cảm thương hóa lời kể. Một câu chuyện về đề tài chiến tranh cách mạng với sự khốc liệt riêng của nó được đặt dưới cái nhìn của người đã chết, lời của tiểu thuyết là lời của người đã chết tạo ra tính chất bi thương từ trang đầu đến cuối. Bi thương chứ không bi lụy. Chiến tranh là mất mát, là hy sinh, là tàn phá. Cái chất bi thương rất hợp với đề tài của tiểu thuyết, càng hợp hơn với ý nghĩa của tác phẩm. Hai là tạo ra ảo giác ở người đọc về sự trung thực của câu chuyện. Có thể gọi đó là thủ pháp khách quan hóa, trung thực hóa lời kể. Là lời của người cõi âm, mà người cõi âm thì cần gì biết đến sự nể nang, sợ hãi người cõi dương. Câu chuyện người âm kể thì gần đúng với sự thật, không thể nói thánh, nói trạng như người dương thế. Chọn lời kể như thế không mới nhưng rõ ràng nó gây được hiệu ứng thẩm mỹ. Thời gian trong truyện là thời gian đồng hiện, hiện tại và quá khứ được soi chiếu qua điểm nhìn người kể một cách rất linh hoạt, từ hiện tại rồi chuyển về quá khứ, từ cảnh này nhảy cóc sang cảnh khác tạo ra một thế giới thật nhiều cảnh. Ngồn ngộn tư liệu. Ngồn ngộn cảnh vật. Tư liệu sống. Cảnh vật sống. Câu chuyện được kể theo hồi ức của người kể đã chết nhưng không phải đi theo “dòng ý thức”  mà là dòng sự kiện được người kể nhớ lại. Sự nhớ lại để kể qua một hồi ức tỉnh táo của người ở thế giới bên kia, một sự kể “biết hết”.
 
     Đi theo hướng này các tác phẩm luôn có xu hướng đẩy sự miêu tả về gần với hiện thực chiến tranh. Các tác giả như muốn nói với bạn đọc: đây là câu chuyện của tôi, tôi chứng kiến, tôi biết, tôi kể lại. Thời điểm câu chuyện được kể không quá xa so với thời điểm kể, do vậy các sự kiện, hiện tượng cứ như là mới mẻ, tươi nguyên. Đó là các tiểu thuyết: Thượng Đức, Lính trận, Đỉnh máu, Bến đò xưa lặng lẽ, Rừng thiêng nước trong, Phòng tuyến Sông Bồ, Xiêng Khoảng mù sương, Đất không đổi màu, Một ngày là mười năm… Tìm hiểu hiệu quả của lối tự thuật, tự truyện phải gắn liền với vấn đề ngôi kể. Trong một tác phẩm thường có nhiều ngôi kể đan xen, điều này sẽ được chúng tôi nói vào một dịp khác.
 
4. Khuynh hướng văn hóa - tái hiện
 
      Tiêu biểu là các tác phẩm của Nguyễn Chí Trung và Trung Trung Đỉnh. Vượt lên trên sự mô tả chiến tranh đơn thuần Tiếng khóc của nàng Út (Nguyễn Chí Trung) có xu hướng lí giải sự thắng thua trong chiến tranh bằng chiều sâu văn hóa hơn là những câu chuyện giặc tàn ác, phi nhân, ta dũng cảm, chính nghĩa đã quen thuộc. Huyền thoại về xứ Bàu Ốc qua lời kể của nhân vật bà On nằm ngay ở phần đầu tác phẩm: “Những người dân Việt đến Bàu Ốc đích thực vào năm nào, tháng nào, ngày nào, không ai biết thực rõ. Chỉ nghe truyền miệng…”. Cứ thế, các huyền thoại hiện dần lên vừa linh thiêng vừa huyền bí, xa xăm: “Ngày đi mở đất của ông cha còn đào thấy những bãi sỏi rộng và dài…”. Lời kể quay về quá khứ làm sống lại lịch sử các vùng đất và đặc điểm tập quán của các bộ tộc Ê Đê, Xơ Đăng, Chăm Roi…. Rồi chuyện đi lấy Nước Thần, Nước Xu Đỏ của đồng bào: “Năm nào? Hồi đó, không ai nói năm… Hừ! Đi cả dân tộc Kor, dân tộc Ca Dong, dân tộc Cơ Tu, dân tộc Xơ Đăng, dân tộc Ba Na…Người dài như kiến kéo nhau đi tìm mồi, nhiều như lau lách…”. Dĩ nhiên không chỉ kể để mà kể, những câu chuyện ấy có quan hệ chặt chẽ với chủ đề chung của tiểu thuyết. Được nghe những câu chuyện ấy, chúng ta càng rõ hơn rằng cuộc kháng chiến thần thánh của đại gia đình các dân tộc Việt Nam không chỉ là tổng hợp sức mạnh cách mạng của ngày hôm nay mà còn là sức mạnh của cả một nền văn hóa. Chiều sâu văn hóa dân tộc lại được kể từ chính những người dân được coi là linh hồn tinh thần của làng, là bà On, là ông Thương,… nên càng tạo ra hiệu quả thẩm mỹ: thiêng liêng hóa lời kể và “bảo hiểm” cho tính chất “trung thực” của câu chuyện.
 
       Các nhà văn Bùi Bình Thi với Xiêng Khoảng mù sương, Bùi Thanh Minh với Sào huyệt cuối cùng, Phạm Quang Đẩu với Một ngày là mười năm, Nguyễn Quốc Trung với Đất không đổi màu... theo hướng này đã đưa vào tác phẩm những không gian văn hoá lạ của hai nước bạn Lào và Cămpuchia tạo ra một sự mời gọi hấp dẫn riêng. Các tác phẩm đều hướng tới một chủ đề phổ quát: dưới cái bề nổi của không gian chiến tranh là một không gian của những xung đột văn hóa, rõ hơn là xung đột giữa một bên là văn hóa và một bên là phản văn hóa. Sức mạnh văn hóa là sức mạnh chính nghĩa được tích tụ từ ngàn đời nên bao giờ cũng chiến thắng.
 
     Có thể coi Lính trận là một khám phá mới của Trung Trung Đỉnh. Tác phẩm chưa đầy 300 trang kết cấu giản đơn gần như không có cốt truyện. Mạch câu chuyện đi theo cuộc hành trình của những người lính miền Bắc vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên, song hành với họ là tình yêu và cái chết….Địa danh chiến trường PleiMe trở thành cái tên đi suốt tác phẩm, khắc sâu vào tâm trí người đọc với đủ các cung bậc, gam màu của chiến tranh. Nổi lên giữa các trang sách là màu đỏ của máu vì đánh trận và màu xanh, màu tím thi vị của tình yêu. Bạn đọc khó quên chi tiết một nhân vật trong truyện ghi lại tên tuổi những đồng đội đã hy sinh sau một trận đánh. Người trẻ nhất tuổi chỉ vừa đôi tám, người “già” nhất cũng chưa tới 23. Những người lính ngã xuống cùng một khát vọng làm người anh hùng. Trong số họ, rất nhiều người chưa kịp có một cái hôn đầu.
 
     Cuốn sách được chia làm hai phần, phần đầu: Đường ra trận; phần hai: Trận Pleime - Ia Đrăng. Phần đầu gây ấn tượng bởi những mối tình của lính, có khi là thật, có khi chỉ là tưởng tượng và những cái chết. Điều này tạo cho tác phẩm có hai cảm hứng luôn song hành là cảm hứng lãng mạn và cảm hứng bi kịch. Nhưng cái mạch ngầm của tác phẩm mới là dòng chảy chính, âm thầm mà bền bỉ, cường tráng mà có phần dữ dội, là văn hóa Tây Nguyên.
 
     Từ những hiện tượng cụ thể này có thể nêu ra một khuyến nghị: các nhà tiểu thuyết sử thi khi đào sâu vào các tầng vỉa văn hóa, lấy văn hóa làm chất liệu sáng tạo, thì ít nhiều đều tạo ra được ấn tượng nơi người đọc.
 
      Một trong những yếu tố văn hóa rất hay được các nhà tiểu thuyết sử dụng để tăng cường chất huyền thoại cho tác phẩm là văn hóa tâm linh. Tâm linh không nên hiểu theo nghĩa mê tín, đó đích thực là một phần của cuộc sống tinh thần con người được biểu hiện ở giấc mơ, linh cảm, thờ cúng tổ tiên...Các nhà văn Văn Lê, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Chí Trung...đã thể hiện, vận dụng khá nhuần nhuyễn sắc thái văn hóa này trong tác phẩm.
 
     Chúng tôi hình dung bốn khuynh hướng này như bốn con đường để các nhà tiểu thuyết trở về với năm tháng chiến trường mà tái hiện, tái tạo làm sống lại những trang sử đầy tính bi tráng cao cả. Yêu cầu cao của bạn đọc, là ngoài đòi hỏi tài năng miêu tả của nhà văn, còn là sự phân tích của nhà tâm lý, sự lý giải, cắt nghĩa của nhà sử học, đưa ra một cái nhìn ở chiều sâu tư tưởng về cái còn mất của nhà triết học của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại đã qua.
 
   Nhìn một cách tổng quan tiểu thuyết sử thi đổi mới trên tinh thần lấy truyền thống làm nền tảng, trên cơ sở đó tiếp thu những hướng viết hiện đại. Do vậy nó giàu bản sắc Việt, ở lòng yêu nước, trọng tình, quý người; ở một hình thức giản dị nhưng sâu lắng.  Cái hạn chế rõ nhất là nhiều nhà tiểu thuyết còn vụng trong việc phân tích tâm lý nhân vật. Tính cách nhân vật còn khuôn mẫu, khô cứng chưa thích ứng với những không gian biến hóa khôn lường của chiến tranh, vì thế có những quyển, những trang văn còn nhạt, sượng, đơn giản./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}