Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sự kiện:

 

Tổ chức trọng thể tang lễ GS.TS.NSND Đình Quang

Chúc Sơn | Thứ Năm, 16/07/2015 06:00 GMT +7

Sáng nay, 16 tháng 7 năm 2015, tại Hà Nội, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng một số cơ quan liên quan và gia đình đã tổ chức trọng thể tang lễ GS.TS.NSND Đình Quang. Đông đảo người thân, bạn bè, đồng nghiệp, học trò, văn nghệ sĩ đã đến dự. Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và một số đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã gửi vòng hoa viếng GS. Đình Quang.



 
Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Gia Khiêm, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư TƯ Đảng, Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) Nguyễn Khoa Điềm đã tới viếng và ghi sổ tang.

Theo BTC Lễ tang, đã có gần 200 đoàn đại biểu đại diện cho nhiều Bộ, ban, ngành Trung ương, tỉnh, thành phố, các tổ chức và nhiều nhà khoa học, văn nghệ sĩ; các Hội VHNT, các khối nhà hát Trung ương, địa phương, các trường văn hóa nghệ thuật, các cơ quan truyền thông báo chí và các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ VHTTDL... đã đến viếng và chia buồn.

Thay mặt lãnh đạo Bộ VHTTDL, Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái, Phó Trưởng ban thường trực BTC Lễ tang đã xúc động đọc điếu văn ôn lại cuộc đời và sự nghiệp cách mạng cũng như những cống hiến to lớn của GS.TS, NSND Nguyễn Đình Quang đối với ngành văn hóa và đặc biệt là đối với nền nghệ thuật sân khấu cách mạng nước nhà.

Điếu văn nêu rõ: Trải qua trên 70 năm hoạt động và cống hiến cho sự nghiệp văn hóa và nghệ thuật, GS.TS, NSND, đạo diễn Nguyễn Đình Quang đã để lại những dấu ấn không thể phai mờ trong tâm trí nhiều thế hệ nghệ sĩ và công chúng. Với những cống hiến và thành tựu của ông, GS.TS, NSND Đình Quang đi vào lịch sử Sân khấu VN như một nhà khoa học, một nhà sư phạm nghệ thuật và một trong những cây đại thụ trong lĩnh vực nghệ thuật sân khấu VN, đồng thời là một nhà quản lý ngành văn hóa hết sức tận tụy với công việc...

Với quá trình tham gia cách mạng và những đóng góp trong quản lý và hoạt động văn hóa nghệ thuật, GS.TS Đình Quang đã được Đảng và Nhà nước trao tặng nhiều phần thưởng và danh hiệu cao quý như: Huân chương Độc lập hạng Nhì, Huy hiệu 65 năm tuổi Đảng, Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT, Huân chương Chiến công hạng Ba; Huân chương Chiến thắng hạng Ba; Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác...

"Chúng ta nhắc về những thành tựu của ông trên con đường sự nghiệp, chúng ta nhớ về ông như một trí thức văn nghệ sĩ yêu nước, cả cuộc sống đã làm việc và cống hiến cho Tổ quốc. Chúng ta nhớ về một người thầy tận tụy, một trí thức giàu lòng tự trọng, một cán bộ quản lý chính trực, một người bạn hiền và đôn hậu, một người chồng, người cha hết lòng yêu thương gia đình - những giá trị ấy, không thể ghi trên giấy nhưng sẽ được lưu lại trong lòng nhiều người, những bạn bè, học trò đã có cơ hội được biết ông", điếu văn khẳng định.

Buổi chiều cùng ngày linh cữu GS.TS, NSND Nguyễn Đình Quang đã được đưa về nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang Lạc Hồng Viên ( xã Dân Hoà, huyện Kỳ Sơn, Hoà Bình).


GS.NSND Đình Quang sinh năm 1928 tại Hà Nội, được đào tạo bài bản về sân khấu tại Học viện Hý kịch Trung ương Bắc Kinh. Sau đó, ông tiếp tục tu nghiệp và nhận bằng tiến sĩ ở Đại học Humboldt (Berlin).
 
Ông được học trò kính trọng, gọi là người "5 trong 1". Ông là một nhà sư phạm trong vai trò Hiệu trưởng đầu tiên của phân hiệu kịch nói và Trường đại học Sân khấu - Điện ảnh với những học trò lừng danh như NSND Trọng Khôi, NSND Doãn Hoàng Giang, NSND Thế Anh, NSND Doãn Châu…
 
NSND Đình Quang là nhà lý luận với những công trình: "Mấy vấn đề về nghệ thuật biểu diễn" (1962), "Kỹ thuật tâm lý diễn viên" (1968), "Nghệ thuật biểu diễn hiện thực tâm lý" (1978), "Sân khấu tiểu luận" (1975), "Phương pháp sân khấu Bectôn Brếch" (1983), "Bàn về sân khấu tự sự" (1982), "Sân khấu Việt Nam" (1998).
 
Ông cũng là một nhà văn hóa với các công trình: "Còn văn hóa còn nhân loại", "Văn hóa và sự phát triển nhân cách", "Nhận thức và xử lý văn hóa trên thế giới", "Văn học nghệ thuật và sự hình thành phát triển nhân cách", "Văn học nghệ thuật Thăng Long - Hà Nội, quá khứ và hiện tại", "Nghệ thuật Việt Nam với sự phát triển nhân cách và văn minh Việt Nam"...
 
Ông là một nghệ sĩ với hàng chục vở diễn do ông dàn dựng như "Hão", "Bệnh sĩ", "Đại đội trưởng của tôi…"
 
Và NSND Đình Quang cũng là nhà quản lý với chức vụ Thứ trưởng Bộ Văn hóa trong giai đoạn đất nước bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới.
 
Ngoài ra, ông còn là nghệ sĩ ngâm thơ, là nhà văn với những kịch bản, truyện ngắn, bút ký…
 
NSND Đình Quang được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật (năm 2007).

 
 Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch Huỳnh Vĩnh Ái đọc điếu văn


Nguyên UV BCT, nguyên Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm viếng GS. Dình Quang






Trân trang Fb của GS. Đình Quang, có rất nhiều lời tâm sự tỏ lòng thành kính với Giáo sư, trong đó có bài ghi lời tâm huyết của Giáo sư đối với văn hóa nước nhà, và có những lời của nghệ sĩ, học trò tỏ lòng thành kính với Giáo sư.

Một bạn đã đăng lại bài trên Văn hóa như sau:

70 năm ngày truyền thống Ngành Văn hóa và Đại hội thi đua yêu nước Bộ VHTTDL: GS.TS, NSND Đình Quang: Góp phần không nhỏ vào việc "an dân, nâng trí" của đất nước (19/06/2015)
 
 VH- Nhìn lại khái quát chặng đường phát triển của ngành Văn hóa từ cái mốc thành lập ngành sẽ thấy nền văn hóa VN đã có sự trưởng thành vượt bậc, tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống xã hội. Đối với giới văn nghệ sĩ có thể gọi là một sự lột xác, đổi mới về nhận thức. Tôi thuộc lớp văn nghệ sĩ trưởng thành và gắn bó suốt cuộc đời mình trên lĩnh vực VHNT, chứng kiến những bước phát triển của ngành từ những năm đầu thành lập. Giải thưởng Hồ Chí Minh, các danh hiệu, giải thưởng có được cũng là nhờ vào những năm được đào tạo và công tác trên lĩnh vực này.

Ngay từ đầu, Đảng đã thấy vai trò quan trọng của văn hóa, định hướng xây dựng nền văn hóa VN. Tuyên cáo ngày 28.8.1945 của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong nội các quốc gia Bộ Thông tin, Tuyên truyền được thành lập (tiền thân của Bộ VHTTDL ngày nay). Thời gian đó, Bác Hồ đã có câu nói nổi tiếng: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Quan điểm “văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận” thấm sâu trong nhận thức của giới văn nghệ sĩ đi theo Đảng suốt những năm tháng kháng chiến cũng như những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Sân khấu có vai trò quan trọng trong công tác tư tưởng và văn hóa của Đảng. Các đoàn văn công được thành lập ở khắp các tỉnh. Kháng chiến bùng nổ, số đông văn nghệ sĩ mà trước kia ở vùng tự do đã tập hợp lại thành lập các đoàn kịch kháng chiến. Cái mốc thành lập ngành Văn hóa có thể coi là tiền đề sản sinh ra một thế hệ kịch tác gia tài năng, đầy tâm huyết. Họ đã dùng ngòi bút của mình cống hiến cho nhân dân, cách mạng, đất nước. Thế hệ kịch sĩ ngày ấy đã đặt nền móng cho nền sân khấu khởi sắc ngày hôm nay, là động lực cho giới kịch nghệ thời đại mới sáng tạo không ngừng trong xu thế hội nhập toàn cầu, xây dựng một sân khấu tiên tiến, giàu bản sắc VN.

Có thể nói một trong những chủ trương và cách đi đúng hướng giúp cho nền văn hóa văn nghệ của ta phát triển rực rỡ là nhà nước đã rất chú trọng đào tạo lực lượng văn nghệ sĩ. Đoàn Văn nghệ Kháng chiến Liên khu đã liên tục mở các khoá bồi dưỡng văn nghệ sĩ trẻ ở Cổ Bôn rồi Quần Tín do nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh thường trực quản lý. Tôi được học khoá 3 cùng với Vũ Tú Nam, Trần Thanh Tâm, Giăng Màn, Thanh Xuân, Chung Anh, Đinh Thị Hoài… Năm 1949 tôi được chỉ định làm trưởng đoàn Đoàn kịch chiến sĩ quân đội Liên khu IV và Bình Trị Thiên. Năm 1951 tôi chuyển sang phụ trách Ban Tuyên truyền mặt trận và Đoàn Văn công 325. Nhà nước đã tổ chức rất nhiều lớp học để đào tạo chuyên môn cho các ngành nghề như sân khấu, mỹ thuật… Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Chính phủ đã nghĩ ngay tới việc đào tạo phát triển lực lượng những người làm văn hóa nghệ thuật một cách chuyên nghiệp, bài bản. Vì vậy mà tôi và một số cán bộ văn hóa đã được cử sang Trung Quốc học nâng cao nghiệp vụ.

Năm 1965 kết thúc khoá học ở Trung Quốc, tôi tham gia Ban giám đốc Nhà hát Kịch TƯ. Năm 1968, tôi lại được cử sang CHDC Đức học tập nghiên cứu phương pháp B.Brech và năm 1973 tôi tốt nghiệp Tiến sĩ ở Đức về. Bộ phân công tôi phụ trách Ban Nghiên cứu Sân khấu. Tới năm 1979 tôi được giao trách nhiệm thành lập ĐH Sân khấu và Điện ảnh, đây là trường Đại học đầu tiên của ngành. Năm 1984, Bộ lại điều tôi về làm Thứ trưởng phụ trách khối nghệ thuật và ở luôn cho tới ngày nghỉ hưu năm 70 tuổi.

Với chặng đường phát triển 70 năm, ngành Văn hóa đã đạt nhiều thành tựu, đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu hưởng thụ văn hóa của các tầng lớp nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới, đặc biệt là góp phần củng cố sự “sâu rễ bền gốc” nơi nhân dân, giữ vững an ninh, góp phần kiến tạo thần thái bình yên của một xã hội đang trên đà xây dựng và phát triển. Để có được những thành tựu quan trọng mang ý nghĩa to lớn, có một nguyên nhân rất căn bản, đó là sự đồng thuận của lòng dân đối với đường lối đổi mới của Đảng, trong đó văn hóa - nghệ thuật đã góp phần không nhỏ vào việc an dân, nâng trí cho đất nước.

Có thể nói, từ khi Cách mạng Tháng Tám thành công đã mở ra cho những người làm văn hóa văn nghệ cả nước một hướng đi mới mang tính chuyên nghiệp chứ không hoạt động tự phát, bán chuyên nghiệp như trước kia. Đối với những người làm sân khấu thì coi đây là cuộc “lột xác”. Giá trị và vai trò của người nghệ sĩ được nâng cao, từ chỗ bị xã hội cũ coi là “xướng ca vô loài” thành chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa. Với thời đại mới, luồng gió mới, các nghệ sĩ khắp nơi được tập hợp, các đoàn văn công được thành lập, hàng loạt vở diễn sân khấu ra đời ở các chiến khu, sống trong lòng nhân dân, phục vụ kháng chiến, tuyên truyền đường lối chính sách, vận động quần chúng lên đường đánh giặc. Hoà bình lập lại, sân khấu phát triển mạnh mẽ, từ phong trào sân khấu bán chuyên nghiệp, sân khấu lửa trại phát triển thành các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp. Thời kỳ này, nhiều tác phẩm nghệ thuật lớn cũng ra đời, xứng với tầm vóc của thời đại, của đất nước. Nhiều tác phẩm sân khấu ra đời trong thời kỳ này mang dáng vóc sử thi, ca ngợi chiến công, ca ngợi anh hùng cách mạng, cổ vũ cuộc chiến đấu, lên án kẻ thù. Sau năm 1975 cùng với cuộc hội tụ của cả dân tộc, sân khấu về lại mái nhà chung- Hội Nghệ sĩ sân khấu Việt Nam. Cuộc hội tụ này đã tiếp thêm sinh lực cho các nghệ sĩ, nối vòng tay lớn, bước vào giai đoạn sáng tạo sung mãn, tràn đầy sức lực.

Tôi biết những năm gần đây, Bộ VHTTDL đã có rất nhiều chủ trương, nhiều quy hoạch đề án và chính sách để phát triển VHNT nói chung, nghệ thuật biểu diễn nói riêng. Chính phủ vừa phê duyệt Quyết định mới về chế độ phụ cấp ưu đãi nghề nghiệp và chế độ bồi dưỡng với người làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn; thực hiện chế độ ưu đãi đối với học sinh, sinh viên các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc thù trong các trường VHNT… Thế nhưng trên thực tế, các đơn vị nghệ thuật truyền thống đều đang hoạt động vô cùng khó khăn vì không có khán giả. Còn lo lắng hơn khi thiếu hụt trầm trọng lực lượng làm nghề cho các loại hình sân khấu truyền thống như tuồng, chèo, cải lương… Tôi rất mong các cơ quan quản lý nhà nước quan tâm đặc biệt tới việc xây dựng cơ chế, chính sách sưu tầm, phục hồi và phát triển nghệ thuật truyền thống có nguy cơ thất truyền; xây dựng cơ chế đặc thù hỗ trợ ngân sách nhà nước đặt hàng, sáng tác các tác phẩm biểu diễn có chất lượng cao phục vụ chính trị; chú trọng đào tạo lực lượng tác giả, đạo diễn, diễn viên, nhạc công… cho các loại hình nghệ thuật truyền thống. Nghị quyết số 33-NQ/TW về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước lại thêm một lần xác định vị trí quan trọng của văn hóa. Theo tôi, các cơ quan có trách nhiệm, các Bộ, ban, ngành cần phải vào cuộc với Bộ VHTTDL để biến Nghị quyết thành hành động.


Đào Anh ghi

Một bài khác trên báo Vưn hóa cũng được chia sẻ vào trang của GS. Đình Quang:


S.TS.NSND Đình Quang: Suốt đời là người của công việc 
 
Chúng ta vĩnh biệt ông vào giữa những ngày nóng bất thường tháng 7 năm 2015. Đời ông trải qua 87 mùa hè dữ dội, khắc nghiệt thử thách ý chí và sức khỏe vốn giới hạn của con người. Vậy là đã vượt qua ngưỡng của tuổi xưa nay hiếm.
 
Với con người ham sống mãnh liệt, nhưng sống không đơn thuần chỉ là tận hưởng hương vị nồng nàn của sự sống phong phú bí ẩn đến không cùng, mà sống là để lao động, sáng tạo không ngừng đem dâng tặng lại cho đời, cho nhân dân những sản phẩm tinh thần, có giá trị nhân văn và giá trị thẩm mỹ. Sống với GS.TS.NSND, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTT là phấn đấu cho lý tưởng đã lựa chọn từ thuở đầu xanh tuổi trẻ, kiên định đi theo cho đến hơi thở cuối cùng là trở thành một nghệ sĩ, một trí thức theo Đảng làm cách mạng, gìn giữ nền độc lập, tự do cho dân tộc, xây dựng đất nước ta vươn tới hòa bình, hạnh phúc, ấm no, giàu mạnh, và biết củng cố tình hữu nghị trong sáng với cộng đồng nhân loại.
 
" Cuộc đời và sự nghiệp của GS. TS. NSND Đình Quang gắn liền với chặng đường phát triển của ngành văn hoá từ cái mốc thành lập ngành. Ông thuộc lớp văn nghệ sĩ trưởng thành và gắn bó suốt cuộc đời mình trên lĩnh vực VHNT, chứng kiến những bước phát triển của ngành từ những năm đầu thành lập. Đặc biệt, khi ở cương vị Thứ trưởng Bộ VH-TT nay là Bộ VHTTDL. GS Đình Quang là “bà đỡ” cho nhiều tác phẩm mang tính nhân văn ra đời với góc nhìn và tư duy rất thông thoáng, vì vậy sân khấu mới có một loạt tác phẩm mang tính dự báo như Mùa hè ở biển của tác giả Xuân Trình, Lời thề thứ 9, Đỉnh cao mơ ước, Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ, Nhân danh công lý của Võ Khắc Nghiêm, Cuộc đời tôi của Sỹ Hanh… Thời kì đó, những vở diễn lao thẳng vào những vấn đề nóng bỏng nhất của đời sống, các vở diễn như những quả đại bác nã vào thói hư tật xấu, thói quan liêu, tham nhũng, thói đạo đức giả, một cuộc cách mạng về tư tưởng, nói trúng nguyện vọng của đông đảo công chúng, song hành với những chủ trương chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước."
(NSND Lê Tiến Thọ, Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu VN, nguyên Thứ trưởng Bộ VHTTDL) 
 
Đình Quang suốt đời là người của công việc mà phạm vi trải rộng nhiều lĩnh vực khác nhau. Thời trẻ ông là đội viên năng nổ của Đoàn Văn công Liên khu IV, có địa bàn trải dài từ Thanh - Nghệ - Tĩnh cho đến Bình - Trị - Thiên khói lửa trong cuộc kháng chiến chống Pháp giành lại nền độc lập hào hùng mà gian khổ. Đó là những năm tháng không thể nào quên, tôi luyện sự trưởng thành của ông. Đình Quang lúc đó đã may mắn trở thành đồng đội của những văn nghệ sĩ tài danh, hào hoa phong độ như nhạc sĩ Trần Hoàn, sau này có lúc là Bộ trưởng Bộ VHTT mà ông ở cương vị Thứ trưởng, kết bạn vong niên với nhà thơ đa tài đa tình Lưu Trọng Lư có lúc là Tổng Thư ký, Bí thư Đảng, Đoàn, Hội Nghệ sĩ SKVN và ông là Ủy viên chấp hành thường trực, rồi ông còn có nhiều dịp trò chuyện để vỡ ra nhiều điều về bản chất của nghệ thuật với nhà thơ uyên bác thông tuệ Chế Lan Viên, với nhà văn tài danh độc đáo từ cách viết đến lối sống Nguyễn Tuân, những bậc thầy đích thực mà Đình Quang rất mực tôn kính. Thật kỳ lạ vô cùng những con người tài danh đó đều lần lượt nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý, rồi chính Đình Quang sau đó cũng có được vinh dự này. Từ ngày 12 tháng 7 năm 2015 cái khoảnh khắc định mệnh Đình Quang từ giã chúng ta sang cõi khác có cơ hội gặp lại những bậc đàn anh đi trước.
 
Nếu thời thanh niên sôi nổi, Đình Quang thu nhận kiến thức nghề nghiệp chuyên môn văn nghệ, sân khấu với niềm đam mê của một người có tư chất chủ yếu từ trường đời, từ giao lưu, đàm đạo, khiêm cung học hỏi những văn nghệ sĩ tài năng lịch lãm giúp ông gặt hái được thành quả đầu đời với những kịch bản như: Người anh (1947), Bên kia (1949), Lối vườn hoa (1950), Hạt vàng (1951), Khăn tang kháng chiến (1952) và đầu những năm 70 của thế kỷ trước lại chấp bút cùng Lưu Trọng Lư kịch bản dài Anh Trỗi... thì khi hòa bình lập lại trên miền Bắc ông có điều kiện học hành một cách bài bản tại các trường nghề nổi tiếng từ Học viện Hý khúc Bắc Kinh (Trung Quốc) đến Đại học Humbold, Berlin (CHDC Đức). Hai lần du học ấy giúp Đình Quang tiếp thu một cách có hệ thống học thuyết Sân khấu hiện thực tâm lý của Stanislavski (1863-1938) và phương pháp Sân khấu tự sự biện chứng của Berton Brecht (1898-1956), hai cách tân lớn của nghệ thuật sân khấu thế giới thế kỷ XX.
 
Nhưng quan trọng là từ quá trình cần mẫn hút nhụy từ trường đời đến trường nghề mà Đình Quang với bộ lọc của riêng mình đã thẩm thấu và biết vận dụng vào thực tiễn nghệ thuật sân khấu Việt Nam, góp phần thúc đẩy nó đi vào quỹ đạo chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa. Sát cánh cùng với thế hệ đạo diễn hàng đầu như Trần Hoạt, nhà viết kịch Ngô Y Linh - Nguyễn Vũ, đạo diễn - NSND Dương Ngọc Đức, đạo diễn - NSND Nguyễn Đình Nghi... Đình Quang có công xác lập nghề đạo diễn như một thành phần sáng tạo quan trọng trong nền sân khấu Việt Nam đương đại. Không chỉ truyền bá phổ cập nghề đạo diễn trên phương diện lý thuyết thông qua các bài giảng, các công trình nghiên cứu được công bố, Đình Quang còn trực tiếp dàn dựng nhiều kịch bản khác nhau về phong cách thể tài từ chính kịch mang tính sử thi như Quê hương Việt Nam, Đại đội trưởng của tôi, Lịch sử và nhân chứng, chính kịch mang tính phê phán như Bạch đàn liễu, chính kịch có tính luận đề như Xóm vắng, hoặc ghé sang đạo diễn kịch thơ Tuổi hai mươi (sáng tác Lưu Trọng Lư) nhưng đáng chú ý hơn cả là hài kịch từ Một đêm giông tố của Caragiale (Rumani) đến Bệnh sĩ (Lưu Quang Vũ), Hão (Lê Quý Hiền) v.v...
 
Từ những thành tựu trong sáng tạo sân khấu ở các lĩnh vực diễn viên (nổi tiếng với giọng ngâm thơ trầm ấm, lắng sâu được thu đĩa với các bài thơ khó quên như Đêm nay Bác không ngủ, Ta đi tới, về biên kịch với kịch bản cả ngắn lẫn dài được công diễn, được tuyển chọn in tại Tuyển tập kịch bản sân khấu Việt Nam 1945-1960), lĩnh vực đạo diễn với nhiều vở diễn có giá trị như đã dẫn ở trên, rồi đắm chìm uyên bác với các chuyên luận nghiên cứu về sân khấu thế giới, về sân khấu truyền thống dân tộc, mở rộng ra cả văn hoá học nói chung. Đình Quang đã có cơ sở chắc chắn để hoàn thành xuất sắc những cương vị, trọng trách trên phương diện quản lý ngành từ vi mô đến vĩ mô. Ông lần lượt là người có công sáng lập và đảm trách vai trò Hiệu trưởng Trường Trung cấp Nghệ thuật Sân khấu phân hiệu kịch nói ngay từ năm 1959 ở khu Văn công Mai dịch Hà Nội, rồi đến năm 1980 trở thành Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội đầu tiên ở nước ta.
 
Sau đó, ông còn kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo ở cấp cao hơn như Thứ trưởng Bộ VHTT, phụ trách khối Nghệ thuật và Đào tạo, Phó Chủ tịch Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam. Đến tuổi về hưu, ông vẫn không chịu lui về an nghỉ tuổi già bên con cháu mà vẫn tiếp tục làm việc căng thẳng, chạy đua với thời gian trong vai trò Chủ tịch Hội đồng Nghệ thuật Hội NSSKVN, Chủ tịch Hội đồng giám khảo nhiều cuộc Hội diễn, Liên hoan sân khấu quốc gia, tham gia xây dựng chương trình đào tạo cao học cho Trường Đại học Sân khấu-Điện ảnh Hà Nội và trực tiếp lên lớp truyền thụ kiến thức, hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án Thạc sĩ, Tiến sĩ, có mặt thường xuyên trên các diễn đàn Hội nghị khoa học bày tỏ chủ kiến và đề xuất tâm huyết của mình về hướng đi của sân khấu Việt Nam.
 
Trong tư cách nhà quản lý cấp Bộ, đặc biệt ở lĩnh vực nhạy cảm, GS.TS.NSND Đình Quang đã kết hợp được kinh nghiệm gắn bó lâu năm trong hoạt động thực tiễn với những tri thức chuyên môn nghề nghiệp hiện đại, cập nhật với xu thế mới nhất của thế giới, nên đưa ra được những đề nghị sắc sảo, nhạy bén mang tầm chiến lược và có giá trị dự báo.
 
GS.TS.NSND Đình Quang ra đi là một tổn thất lớn khó bù đắp đối với không chỉ lĩnh vực sân khấu mà rộng ra còn ở toàn bộ đời sống văn hoá, thể thao và du lịch nước ta. Cùng với giới nghệ sĩ và nhân dân cả nước xin coi đây là nén tâm hương chúc ông an lành trong cõi cực lạc.

Trong công việc và ngoài đời, GS, TS Đình Quang luôn hiện diện đúng với phẩm chất của một người thầy. Tôi xin nhấn mạnh điều này là bởi chức danh học vị, học hàm thì ai cũng có thể có nhưng với chúng tôi ông là một thầy Quang đáng kính trọng. Gia đình tôi có hai thành viên là tôi và NSND Lê Khanh đều là học trò của ông. Từ năm 1960 đến nay, GS, TS Đình Quang đã đào tạo, dìu dắt không biết bao thế hệ học trò. Chúng tôi đều mang ơn ông rất lớn khi giúp chúng tôi trưởng thành, có vị thế trong môi trường làm nghệ thuật. Dẫu ở vai trò nào, khi là hiệu trưởng, chủ nhiệm lớp hay Thứ trưởng phụ trách nghệ thuật thì ông luôn rất nghiêm khắc và có những định hướng nghệ thuật cho ngành và cho chúng tôi.(NSƯT Lê Chức) 

 
Nghệ sữi Ưu tú Hương Dung viết:

 THẦY- HOA BẤT TỬ.

Từ hôm thầy ra đi, ngày nào vào fb em cũng bắt gặp những stt những cmt rất cảm động về THẦY CỦA NHỮNG NGƯỜI THẦY.

E không có may mắn đc học thầy hay nói đúng hơn là em không có cơ hội đc ngồi trên ghế của trường ĐHSKĐA hay bất kỳ 1 mái trường nghệ thuật nào. Em biết thầy hoàn toàn ngẫu nhiên khi em hoàn thành vai diễn NỮ KÝ GIẢ HÀ THU trong vở kịch NỮ KÝ GIẢ của tg Lưu Quang Vũ (1985).  E may mắn gặp thầy khi ngôi nhà chung 51 Trần Hưng Đạo ngày nào cũng tấp nập các ns vào, ra.  Chú Dương Ngọc Đức lúc đó là CT HNSSK giới thiệu với em về thầy với đầy đủ chức danh , em nghe xong chả nhớ j ngoài cái tên ĐÌNH QUANG.  Ai gặp thầy cũng chào thầy là THẦY bất kể già trẻ gái trai, em ngơ ngác sau từ CHÚ duy nhất và rồi từ đó trở đi mỗi lần có dịp gặp, em cũng gọi THẦY.  Cho tới năm 1994 em đc Minh Vượng nhắc làm Hs xét danh hiệu NSUT nhân gặp nhau trong đợt đi dự ĐHSK.  Sau vòng xét đầu tiên em đã bị loại cùng Trần Nhượng, lúc đó e đã đoạt 2HCV Và có 16 năm công tác.  Chính thầy đã gợi ý để em xin lại hs mang về để thầy và chú Dương Ngọc Đức ký để nghị Hội đồng xét thưởng xét phong tặng danh hiệu NSUT cho em.  Em đến nhà thầy đúng vào giờ trưa vì phải tự lục tìm cả kho hs trên Cục sk ( nay là cục NTBD).

Thầy cứ đủng đỉnh vừa viết vừa đùa, cứ thong thả khoan thai. . . Mãi sau này mỗi lần gặp lại thầy, vẫn phong thái ấy, vẫn tình cảm ấy, vẫn những lối nói đầy hóm hỉnh, tuổi tác không làm thầy già đi. E cũng như ngàn vạn các ns của các đoàn có dấu ấn j đặc biệt đâu vậy mà gần đây em mới biết, thầy rất quan tâm tới em, những trăn trở, những dằn vặt , những không may mắn của em thầy đều biết, chính vì lẽ đó mà ngày 29/6 vừa qua em lên mạng và xin thầy 1 lời khuyên, em thăm dò và rào trc đón sau, và rồi vẫn với lối nói như xưa thầy nói với em " Ta biết tỏng nhà ngươi định hỏi j rồi. . .”

- Vậy thầy cho em lời khuyên, em phải làm thế nào?

Em không nghe đc lời khuyên của thầy bắt đầu từ bữa đó, chỉ biết rằng thầy xót xa cho em, thầy không phán xét , chỉ trích hay oán trách ai hộ em, vẫn là những câu bông đùa nhưng sâu xa lắm.

Những thế hệ của thầy cứ lần lượt dắt ríu nhau đi xa, biết là phải thế, cưỡng lại sao đc với thời gian, nhưng mấy ngày nay em cứ thấy man mác buồn , sao những người thầy CHUẨN MỰC CÒN LẠI HIẾM THẾ. Ảnh hưởng của thầy với các thầy lớn quá. Thầy đi chơi xa, xa quá, nhận tin thầy về , học trò của thầy đã tề tựu để đón thầy, những lúc này mới thấy, những quả ngọt mà thầy ươm giá trị tới mức nào. Trân trọng lắm những giá trị thầy để lại, cảm động và quí trọng hơn những học trò 1 thời đầu đã 2 thứ tóc đang khắc khoải đón thầy về trong 1 chuyến đi chơi xa. Em không đc học thầy nhưng em học đc những j thầy để lại qua nỗi mất mát lớn lao này.  Thầy giống như loài hoa bất tử, sẽ sống mãi không bao giờ chết. Vĩnh biệt thầy kính yêu./.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}