Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài viết:

 

Tôn vinh giá trị bản sắc dân tộc trong ngoại giao văn hóa

Phạm Quốc Sử | Chủ Nhật, 01/11/2015 00:22 GMT +7
Ngoại giao văn hóa không phải là sáng kiến mới của ngoại giao Việt Nam hiện tại, mà đã được cha ông ta thực hiện hiệu quả trong lịch sử.

Xưa kia, trong hoạt động bang giao, các triều đại phong kiến Việt Nam đã sử dụng văn hóa như một cách thức để tự biểu hiện mình, để khẳng định cốt cách dân tộc và truyền đi thông điệp về một đất nước văn hiến, yêu chuộng hòa bình. Hoạt động ngoại giao chính là cơ hội để các vị sứ giả nước ta thi thố tài năng đã được tích lũy trên nền tảng văn hóa dân tộc, để nâng cao thế nước, hoàn thành sứ mệnh đi sứ bốn phương không làm nhục mệnh vua. Nhiều vị sứ giả Việt Nam là nhà khoa bảng và văn hóa nổi tiếng, đã làm nên những thắng lợi ngoại giao lừng lẫy trong lịch sử, như Phùng Khắc Khoan (TK XVI), Nguyễn Công Hãng, Lê Quý Đôn (TK XVIII)... Tuy nhiên, ở Việt Nam thuở trước, văn hóa chưa bao giờ được giao phó một sứ mạng cụ thể trong lĩnh vực đối ngoại, mà chỉ được sử dụng như là một phương tiện để đạt mục tiêu chính trị, chủ yếu thể hiện thông qua các cuộc đón tiếp sứ bộ nước ngoài đến Việt Nam và thông qua năng lực của các sứ giả Việt Nam đi sứ các nước lân bang.
 
Bởi thế, với việc Chính phủ phê duyệt Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2020 ngày 14-2-2011, lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, văn hóa chính thức được nhìn nhận như một mũi nhọn trong hoạt động ngoại giao, phân biệt và ngang tầm với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và có thể là cả ngoại giao quân sự. Song chính vì thế, vấn đề đặt ra là chúng ta sẽ phải triển khai thực hiện chiến lược này như thế nào trong một thế giới đa phương, giao thoa và hội nhập.
 
Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến vai trò của việc tôn vinh các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc. Thế giới càng vận động theo xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa thì bản sắc dân tộc càng phải được khẳng định. Trong quá trình hội nhập, chúng ta không chỉ chấp nhận tiếp biến văn hóa, tiếp thu có lựa chọn những ảnh hưởng tiến bộ từ bên ngoài nhằm thích ứng với thế giới và hiện đại hóa, mà còn phải biết làm nổi bật các giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống, quảng bá văn hóa Việt Nam, tiến tới xây dựng hình ảnh về đất nước Việt Nam trong con mắt người nước ngoài. Tôn vinh các giá trị bản sắc không có nghĩa là đi theo xu hướng chủ nghĩa biệt phái và phân biệt sắc tộc, mà là sự nỗ lực nhằm chống lại nguy cơ hòa tan, đánh mất bản sắc dân tộc trong quá trình hội nhập toàn cầu hóa, góp phần làm phong phú và đa dạng hóa văn hóa nhân loại.
 
Để tôn vinh các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, trước hết cần phải thống nhất nhận thức về bản sắc văn hóa dân tộc. Theo chúng tôi, bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị văn hóa và biểu hiện văn hóa để phân biệt một dân tộc với các dân tộc khác trên thế giới. Nghĩa là bản sắc văn hóa không chỉ là kết tinh những giá trị riêng có của một dân tộc, mà còn bao gồm cả những giá trị mang tính khu vực, thế giới, nhưng được thể hiện rất đậm nét ở dân tộc đó. Tóm lại, bản sắc văn hóa dân tộc là tổng hòa các giá trị văn hóa được kết tinh mà thông qua đó có thể nhận diện một dân tộc trong sự phong phú và đa dạng của thế giới.
 
Bản sắc văn hóa dân tộc được kết tinh và biểu hiện trong mọi thành tố của văn hóa truyền thống Việt Nam như: trang phục, ngôn ngữ, văn hóa giao tiếp, ẩm thực, kiến trúc, tập quán cư trú, nghệ thuật tạo hình, nghệ thuật diễn xướng... Đương nhiên, bản sắc văn hóa dân tộc có sự chuyển hóa qua thời gian do kết quả của sự tiếp nhận và đào thải, của sự tiếp biến các yếu tố nội sinh và ngoại sinh. Bởi thế, tôn vinh các giá trị bản sắc không có nghĩa là bê y nguyên cái cũ vào hiện tại, mà là thừa kế và làm nổi bật những giá trị truyền thống đã được chọn lọc qua thời gian, và tạo cho chúng những điều kiện để tồn tại và phát huy tác dụng.
 
Muốn tôn vinh các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thì cần phải gọi tên được nó, chỉ ra những biểu hiện cụ thể của bản sắc, tức là những nét đặc biệt và độc đáo trong mỗi thành tố văn hóa. Ở đây chúng tôi chỉ đưa ra một vài thí dụ.
 
Trong văn hóa giao tiếp Việt Nam đương đại, một trong những biểu hiện là ngoài cái bắt tay (với từng cá nhân) và vẫy tay chào (do học được của phương Tây hàng thế kỷ nay), người Việt còn thường có động động tác thi lễ là hai tay chắp phía trước và đầu hơi cúi (trường hợp không thể bắt tay trực tiếp) khi bắt đầu tiếp xúc hay từ biệt một người hay số đông người nào đó. Tuy nhiên, người ta thường làm động tác này với hai lòng bàn tay úp vào nhau và các ngón chụm lại. Đây là biểu hiện sai nếu soi vào văn hóa giao tiếp truyền thống Việt Nam, bởi đó là động tác dành riêng cho nhà Phật. Đối với người không phải Phật tử, khi giao tiếp vẫn cúi hơi thấp đầu tỏ ý khiêm nhường, hai bàn tay với các ngón đan cài vào nhau đưa về phía trước, tạo nên vòng tròn cung kính, ý muốn nói “nhân thân tiểu vũ trụ”, tôi xin mang cả cái tiểu vũ trụ ấy để vái chào hay bái biệt quý vị. Hoặc hai bàn tay đưa về phía trước, nhưng bàn tay phải nắm lại, tạo ra sự vuông góc giữa mu bàn tay và đốt gốc của các ngón, đồng thời bàn tay trái khum tròn bọc lấy nắm tay phải. Sự kết hợp hai bàn tay như thế biểu thị mong muốn mối quan hệ được vuông tròn, mà gốc của nó là sự hài hòa âm dương (đường vuông góc biểu thị âm, đường tròn biểu thị dương), một nguyên tắc căn bản của dịch lý phương Đông để giải thích thế giới, để chứng tỏ sự hoàn hảo và tốt đẹp. Những động tác như thế vừa có tính triết lý, vừa biểu hiện thái độ kính trọng đối tượng giao tiếp, hòa hiếu và cầu thị biết nhường nào. Những người làm ngoại giao, làm du lịch, học giả hay cán bộ cấp cao ra nước ngoài nên chú ý chi tiết này để không phạm lỗi về văn hóa, lại thêm được một lần tạo dựng ấn tượng về Việt Nam.
 
Trong ẩm thực Việt Nam truyền thống, nét bản sắc là các món ăn, đồ uống đều phản ánh đặc điểm của môi trường nhiệt đới, thực vật và sông nước. Ăn uống phải đạt tiêu chí: ngon, lành và bổ. Ăn uống không chỉ để sống, mà còn để thưởng thức, tận hưởng, bởi thế phải thỏa mãn được mọi giác quan, âm dương hài hòa. Do chịu ảnh hưởng bởi môi trường sống, bữa cơm Việt Nam truyền thống có tỷ lệ nước rất cao, lấy cơm gạo làm thức ăn chính, bên cạnh đó là các món được chế biến phần nhiều từ thực vật (rau, củ, quả…) và động vật thủy sinh (tôm, cá, cua, ốc…). Các món ăn bổ sung có thể được chế biến từ thịt gia cầm (gà, ngan, vịt…), gia súc (lợn, dê, chó…).
 
Thức ăn Việt Nam có các món vô cùng đặc sắc (ngon, thơm, đậm đà) và độc đáo vì chế biến từ các loài thủy sinh, trong đó phổ biến nhất là nước mắm, đóng vai trò vừa là món ăn, vừa là gia vị hỗ trợ để tạo nên các món ngon khác.
 
Việc nắm vững những kiến thức về bản sắc dân tộc trong ẩm thực Việt là rất cần thiết đối với những người làm công tác đối ngoại. Trong những bữa tiệc chiêu đãi bạn bè quốc tế, chớ nên đãi họ bằng các món cho dù sang quý đến mấy nhưng có nguồn gốc ngoại lai, mà nên bằng những món đặc trưng của Việt Nam, và phải có đủ kiến thức để giới thiệu hàng, hướng dẫn cho họ thưởng thức. Nếu chiêu đãi người nước ngoài bằng món ăn của nước họ hoặc của nước ngoài khác thì rõ ràng đã bỏ phí một cơ hội quý giá để quảng bá cho văn hóa Việt Nam.
 
Lưu ý, tuyệt đối không mời người phương Tây ăn các món thịt chó mắm tôm và món chim câu vì họ vốn yêu thái quá những động vật này (coi chó như người thân, chim câu là biểu tượng hòa bình), cho dù với người Việt Nam thì đấy là những món tuyệt hảo. Người Trung Hoa ăn được cả hai món này, còn người Triều Tiên biết ăn món thịt chó, nhưng không nên vì thế mà thết đãi nếu họ không có nhu cầu.
 
Trong kiến trúc Việt Nam truyền thống, điều lý thú là ngôi nhà của người Việt biết đi, tức là có thể di chuyển từ vài mét đến hàng trăm km nếu như người ta bỏ tường bao và mái, biết cách khênh bộ khung nhà đến nơi đã định, cũng như có thể tháo rời nó ra để chuyển đến nơi mới rồi lắp lại thông qua hệ thống mộng. Điều này với ngôi nhà phương Tây không thực hiện được, và nó phải đứng chôn chân một chỗ cho đến hết cuộc đời của nó. Tính đặc sắc và độc đáo của ngôi nhà Việt Nam truyền thống còn thể hiện ở đao mái cong vút (điển hình là những ngôi đình, chùa), một giải pháp rất có hiệu quả, làm mất đi cảm giác nặng nề của bộ mái, tạo nên sự bay bổng và tính nghệ thuật cao của công trình. Nhà của người Trung Hoa cũng mái cong, nhưng cong nhẹ, được cho là đã tiếp thu kiểu bộ mái của ngôi nhà ở phương Nam, sau đó có thể còn truyền kiểu mái này sang bán đảo Triều Tiên và quần đảo Nhật Bản.
 
Trên đây là một vài thí dụ trong vô số các thành tố văn hóa chứa đựng bản sắc dân tộc truyền thống, rất có ưu thế trong việc giới thiệu, quảng bá ra bên ngoài.
 
Trong công tác đối ngoại văn hóa, việc tôn vinh bản sắc văn hóa dân tộc phải thông qua vai trò của ngành ngoại giao, văn hóa, du lịch; các chuyến thăm nước ngoài của các vị lãnh đạo cấp cao nhà nước Việt Nam; vai trò của các sứ quán, trung tâm văn hóa, các nhóm du học sinh và các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; ứng xử trực tiếp của cán bộ ngoại giao, của các đoàn biểu diễn nghệ thuật, các nhóm triển lãm tranh ảnh; hoạt động xuất bản văn học và văn hóa phẩm Việt Nam ra nước ngoài.
 
Từ khi Việt Nam giành được độc lập (1945), đặc biệt là từ khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986), thực hiện đường lối đối ngoại đa phương, hội nhập với thế giới, chúng ta đã đạt được một số thành tựu trong công tác ngoại giao văn hóa.
 
Đó là nỗ lực rất lớn của cả Nhà nước và nhân dân, có tác dụng không nhỏ trong việc quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam ra thế giới. Tuy nhiên, rất cần phải thực hiện công tác ngoại giao văn hóa trong một kế hoạch chiến lược lâu dài, với chủ trương không quảng bá tràn lan, mà tập trung vào việc tôn vinh các giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, tiến tới xây dựng những hình ảnh, ấn tượng điển hình, đậm nét và sâu sắc về đất nước, con người Việt Nam trong con mắt người nước ngoài.
 
Bởi thế, bên cạnh việc phát huy những gì đang làm tốt, cần thực hiện những công việc khác nữa:
 
Các hoạt động biểu diễn, triển lãm, xuất bản ra nước ngoài cần phải làm tốt hơn nữa, theo hướng thu hút sự chú ý của người nước ngoài vào các giá trị bản sắc của văn hóa Việt nam.
 
Cần có chiến dịch quảng bá hiệu quả hơn nữa các di sản văn hóa Việt Nam đã được UNESCO công nhận; nghiên cứu và xây dựng hồ sơ di sản văn hóa để UNESCO tiếp tục công nhận các di sản văn hóa thế giới khác tại Việt Nam.
 
Đẩy mạnh công tác ngoại giao văn hóa nhân dân, phát huy vai trò của các nhóm du học sinh Việt Nam, các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
 
Hỗ trợ các cơ sở đào tạo người học tiếng Việt và Việt Nam học ở nước ngoài; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa Việt Nam. Đã đến lúc chúng ta phải tài trợ kinh phí cho các hoạt động này, chứ không chỉ phát động phong trào và động viên bạn tự túc kinh phí.
 
Tiếp tục thành lập các Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài, tổ chức các hoạt động giao lưu, quảng bá văn hóa Việt Nam thông qua vai trò của các trung tâm này.
 
Đầu tư xây dựng các trụ sở Sứ quán Việt Nam cũng như Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài với các mẫu thiết kế mang phong cách kiến trúc và mỹ thuật Việt truyền thống. Hỗ trợ cho các cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài xây dựng những ngôi nhà cộng đồng dựa trên nền tảng kiến trúc và mỹ thuật dân tộc. Những công trình kiến trúc đó sẽ góp phần rất hiệu quả trong việc tạo dựng hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài.
 
Đẩy mạnh quảng bá quốc hoa (sen hồng) trong khách du lịch quốc tế và ở nước ngoài thông qua các sáng kiến như: du lịch về Đồng Tháp Mười, lễ hội sen hồng, triển lãm mỹ thuật về hoa sen…
 
Tổ chức bầu chọn quốc phục, quốc nhạc, quốc vũ, quốc tửu, biểu tượng quốc gia, các món ăn tiêu biểu… Đây là những việc cần thiết vì nó phục vụ trực tiếp công tác ngoại giao, các cuộc chiêu đãi khách nước ngoài và hoạt động của ngành du lịch.
 
Chúng ta đã nói đến quốc phục, nhưng chưa chính thức bầu chọn. Chiếc áo dài dành cho 21 nhà lãnh đạo các nước đến họp Hội nghị các nhà lãnh đạo kinh tế khối APEC lần thứ 14 tại Hà Nội năm 2006 chỉ là giải pháp tình thế. Đó cũng chỉ là chiếc áo dành cho nam giới, không đầy đủ là một bộ quần áo. Bộ quần áo tân thời mà phụ nữ nước ta thường vận trong những sinh hoạt trang trọng hay lễ hội hiện được đánh giá rất cao, nhưng chưa chính thức được bầu chọn theo thể thức quốc gia. Trước đây, bộ trang phục truyền thống của nam giới thường mặc trong những sinh hoạt trang trọng là bộ quần - áo lương màu trắng ở bên trong, bên ngoài là chiếc áo dài, vải the màu đen. Trắng (quần lương/áo lương) mang tính dương, đen (áo the dài) mang tính âm. Bộ lương trắng - the đen biểu thị sự hài hòa, thân thiện và tao nhã của người vận bộ đồ này. Tầng lớp quan lại, quý tộc có thể thay bộ quần - áo lương vải thường bằng vải lụa, áo the bằng áo gấm, nhưng vẫn theo nguyên tắc sáng và sẫm, âm dương hài hòa. Nhà vua thì vận hoàng bào bởi màu vàng tượng trưng cho vua, cho trung ương. Nhưng ngày nay không còn vua, không còn chế độ chuyên chế thì ta không dùng bộ đồ này. Còn phụ nữ trước thời thuộc địa Pháp có một bộ trang phục rất đẹp, đó là bộ áo váy mớ ba - mớ bảy dành cho những dịp trang trọng hay lễ hội. Sau này, vào đầu những năm 1930, bộ nữ phục tân thời mới ra đời. Bởi thế cho nên, rất cần phải có cuộc bầu chọn quốc phục cho cả nam lẫn nữ, trong đó không nên bỏ quên tư cách ứng viên của bộ áo - váy mớ ba mớ bảy của phụ nữ Việt thời xưa.
 
Chúng ta đã có quốc ca là bài Tiến quân ca rất nổi tiếng, nhưng đó là bản nhạc và bài hát cách mạng của nước Việt Nam mới. Rất cần có một bản quốc nhạc được lựa chọn trong số các bản nhạc truyền thống. Bản Quốc nhạc đó sẽ được tấu lên trong các sinh hoạt văn hóa truyền thống, trong các lễ hội non sông, các dịp quốc lễ như giỗ tổ Hùng Vương, lễ tế đàn Nam giao…
 
Chúng ta chưa có quốc vũ, tức là một bài múa hay điệu nhảy truyền thống được bầu chọn, hội tụ tinh túy của vũ điệu Việt Nam, phản ánh truyền thống sản xuất, đấu tranh, cảm xúc thẩm mỹ và khát vọng của con người Việt Nam. Bản quốc vũ đó sẽ được trình diễn trong những dịp đại lễ, quốc lễ.
 
Chúng ta cũng chưa có quốc tửu, tức một thứ rượu ngon đặc biệt và thuần Việt dùng trong các đại tiệc và nghênh tiếp khách quốc tế. Nước ta có nhiều thứ rượu ngon, nhưng hoàn toàn được chế biến thủ công, không đảm bảo vệ sinh công nghiệp. Còn các loại rượu quốc doanh và tư doanh sản xuất theo tiêu chuẩn công nghệ cao thì chưa ngon. Bởi thế, cần có bầu chọn quốc tửu và đầu tư sản xuất sao cho vừa đảm bảo chất lượng, vừa an toàn cho sức khỏe người dùng. Người Trung Hoa có rượu Mao Đài, người Nhật Bản có rượu Sa kê rất nổi tiếng, được thế giới biết đến. Trong thời đại giao lưu rộng mở, nhiều tiệc chiêu đãi quốc tế, sẽ là rất buồn khi chúng ta phải tiếp bạn bè quốc tế bằng rượu ngoại, còn rượu nội luôn phải chịu số phận không chính thức và chủ nhà cũng không đủ hiểu biết để giới thiệu về nó. Phải chăng thứ rượu được chưng cất từ nguyên liệu chính là các loại lúa nếp, như nếp cái hoa vàng, với chất lượng ngon nhất, có thể sẽ là ứng viên sáng giá cho quốc tửu Việt Nam.
 
Cũng cần phải có biểu tượng đất nước trong các trang trí khánh tiết và giao lưu quốc tế. Chúng ta cũng đã có quốc huy, nhưng đó là dành cho nhà nước. Biểu tượng đất nước phải mang chiều sâu văn hóa dân tộc nhiều hơn. Người Hàn Quốc lấy hình lưỡng nghi biểu thị âm dương làm biểu tượng. Thực ra lưỡng nghi là hình tượng văn hóa quen thuộc của nhiều nước châu Á (Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam), nhưng người Hàn Quốc đã nhanh trí nhận trước làm biểu tượng quốc gia của họ.
 
Nước ta cũng thường lấy trống đồng Ngọc Lũ làm biểu tượng. Đây là hình tượng đẹp, chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và đậm chất Việt. Song mặt trống đồng có quá nhiều chi tiết phức tạp, không dễ hiểu đối với đa số những người không có chuyên môn. Cũng có thể chọn hình ảnh di sản này làm biểu tượng văn hóa đất nước, nhưng phải qua bầu chọn chính thức và phải tinh giản hoa văn cho đỡ phức tạp đối với thị giác người xem.
 
Cũng rất cần bầu chọn một linh vật để góp phần xây dựng hình ảnh đất nước. Trước đây, nước ta với tư cách là nước chủ nhà Seagame 22 đã lấy trâu vàng làm biểu tượng và gây được ấn tượng tốt. Nhưng bầu chọn linh vật cho đất nước phải nhằm vào những vật linh đã thật sự được nhân dân tôn thờ. Trong trường hợp đó, con rùa là một ứng viên có nhiều ưu thế bởi rùa thần gắn với tâm thức Việt và cả chiều dài lịch sử văn hóa Việt Nam.
 
Cũng rất cần phải bầu chọn các món ăn tiêu biểu, coi như quốc túy của dân tộc để khoe với thế giới, để mời bè bạn năm châu thưởng thức mà có thêm ấn tượng khó quên về Việt Nam. Người Việt có câu: miếng ngon nhớ lâu, bởi thế, nhiều người nước ngoài đã biết đến phở, bánh chưng và biết đến nước mắm của Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta chưa thực sự bầu chọn và đầu tư quảng bá, tôn vinh những món này. Phở tuy chưa thật rõ lai lịch, nguồn gốc, nhưng từ lâu đích xác đã là món ăn ưa thích của người Việt. Sự phổ biến của phở trong xã hội người Việt Nam đến mức người nước ngoài phải chú ý, ăn thử thấy thích và thế là món này trở nên có tiếng, truyền ra thế giới. Có thể bầu chọn phở làm một trong những món ăn Việt Nam tiêu biểu.
 
Bánh chưng cũng là món ăn đặc biệt, vừa thơm ngon, dung dị, giàu tính thẩm mỹ, vừa chứa đựng triết lý nhân sinh của người Việt. So với phở, bánh chưng có lai lịch rất đầy đủ, có nguồn gốc từ thời dựng nước và có hẳn một pho truyền thuyết về nó. Bởi thế, có thể coi bánh chưng là sự thể hiện đầy đủ nhất quốc hồn, quốc túy của Việt Nam, là ứng viên sáng giá nhất trong các món ăn tiêu biểu Việt Nam.
 
Còn phải kể đến món nước mắm mà không ít những vị đầu bếp có hạng ở châu Âu đã biết đến sự tuyệt hảo của nó. Chúng tôi cho rằng, trong danh sách quốc túy của Việt Nam, rất nên đưa món nước chấm có hương vị đặc biệt này vào. Vấn đề còn lại là thương hiệu: nước mắm Phú Quốc, Nha Trang, Cát Hải hay của một miền duyên hải nổi tiếng nào đây.
 
Ngoài các món kể trên, các món như giò lụa, nem rán, bún chả, cốm làng Vòng, cơm hến, bún bò Huế… cũng là những món ngon, xứng đáng với tư cách ứng viên của món ăn tiêu biểu Việt Nam.
 
Muốn làm tốt công tác ngoại giao văn hóa thì phải xây dựng được hình ảnh đất nước Việt Nam trong lòng bạn bè quốc tế. Muốn vậy, người làm công tác ngoại giao phải có hiểu biết chiều sâu về văn hóa dân tộc, và ngược lại, những người làm công tác văn hóa, nghệ thuật, hoạt động du lịch nói riêng và mỗi người Việt Nam nói chung phải có ý thức của một “sứ giả” văn hóa mỗi khi tiếp xúc với bên ngoài./.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 344

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}