Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Trích tiểu thuyết của Kanta Ibragimov (Nga): Cuộc chiến đi qua

Đào Minh Hiệp dịch | Thứ Tư, 25/09/2013 07:22 GMT +7
Kanta Ibragimov sinh năm 1960 tại thành phố Grozny Cộng hòa tự trị Chechen thuộc Liên bang Nga, trong một gia đình trí thức có cha là tiến sĩ hóa học. Ông là giáo sư, tiến sĩ kinh tế học, viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Cộng hòa Chechen, Thứ trưởng Bộ Thuế Liên bang Nga, hiện là Phó Viện Trưởng Viện Nghiên cứu khoa học thành phố Grozny, Chủ tịch Hội Nhà văn Cộng hòa Chechnya.

 

Hiện tại, Ibragimov vẫn tiếp tục làm công tác khoa học và sáng tác văn học. Các tác phẩm chính: Cuộc chiến đi qua (Giải thưởng Quốc gia Liên bang Nga 2003), Kavkaz già nua (2001), Thầy giáo lịch sử (2003) Thế giới trẻ em (2005), Truyện cố hương Đông (2007), Ngôi nhà hỗn tạp (2009), Avrora (2012)... Đoạn trích dưới đây về nữ nhân vật chính sống ở vùng núi Chechnya vào những năm khi chính quyền Xô viết mới được thành lập đầu những năm 20 của thế kỷ trước.

JPEG - 5.8 kb
Cộng hòa tự trị Chechen thuộc Liên bang Nga

Cuộc sống của Kesyrt bỗng nhiên bị bẻ gãy. Cô không gặp may, có thể thấy rõ điều đó ngay từ lúc mới sinh. Kesyrt từng sống trong tình yêu thương và no đủ chờ đợi đứa con được sinh ra, vậy mà chỉ trong tích tắc tất cả bỗng sụp đổ. Chỉ còn lại những hồi ức nặng nề và một nỗi buồn.

Sau cái chết của người chồng yêu dấu, Kesyrt gần như phát điên, nằm liệt giường mê sảng, khóc lóc. Vào những phút hiếm hoi mỗi khi tỉnh lại, cô lặng lẽ cười với chinh mình, cười như điên, mắng mỏ bà Haza, rồi bỗng nhiên đột ngột hỏi: "Mẹ ơi, chẳng lẽ đây là mơ? Nói cho con biết đi!".

Chỉ mãi hai tháng sau, Kesyrt mới bước ra ngoài đi dạo, xuống nguồn nước, ngồi lên cái chỗ yêu thích và lặng lẽ khóc, lẩm nhẩm với chính mình, hai tay vục xuống dòng nước.

Không biết mọi việc rồi sẽ kết thúc ra sao, song chỉ có một nỗi đau khác đã cứu được cô. Nỗi đau trong lòng bà Haza đã đánh quỵ bà hoàn toàn. Bà mất hết thần sắc, mặt mũi xám ngắt, phờ phạc, không ăn uống gì được, chỉ thỉnh thoảng mới nhấp vài ngụm nước. Đến lúc đó, chỉ có Kesyrt mới có thể tác động được. ý nghĩ tự vẫn để đoàn tụ với người yêu ở thế giới bên kia bay khỏi đầu Kesyrt tự lúc nào. Chỉ còn lại duy nhất mối quan tâm về người mẹ là đã cứu cô thoát khỏi những hành động điên rồ.

Bệnh tình của người mẹ bắt Kesyrt phải tỉnh lại, bắt cô phải xuống làng, tiếp xúc với mọi người.

Giờ đây, khi nỗi bất hạnh mới lại ụp xuống ngôi nhà khốn khổ của họ, mọi người lại xúm lại giúp đỡ: người mời thầy lang, người mang thuốc tới, có người chỉ đơn giản biếu ít tiền hay chút quà gì đó.

Mọi người rất ngạc nhiên khi thấy bà Haza bình phục, đứng lên, đi lại quanh nhà. Còn Kesyrt, mặc dù chưa hồi phục hoàn toàn, vẫn bị người ta bắt làm vợ. Cô trở thành vợ hai của một người đàn ông giàu có ở làng bên [1].

Bà Haza, ông Baki-haji và tất cả mọi người trong làng, bên ngoài đều làm ra vẻ không hài lòng, nhưng trong bụng đều rất mừng vì Kesyrt lại có một tổ ấm, hơn nữa lại là một chốn giàu sang tử tế. Trong ngôi nhà mới, Kesyrt vẫn chưa hồi phục sau nỗi bất hạnh không phải động chân động tay làm gì cả, suốt ngày chỉ ngủ rồi thơ thẩn trong sân. Nhưng buổi tối thì thật là sóng gió tởm lợm. Chồng cô là người đàn ông cũng chưa đến mức già lắm, khỏe mạnh và hơi mập. Người đàn ông mạnh mẽ đó đã gây cho Kesyrt không chỉ nỗi đau thể xác mà cả tinh thần khi ông ta cô cưỡng bức cô. Lúc nào cũng vặn vẹo về người chồng cũ non choẹt của cô, rằng họ quan hệ với nhau ra sao, cô có cảm thấy sung sướng với anh ta không.

Kesyrt không thể chịu đựng nổi tất cả những điều đó và quyết định bỏ ông ta, đó là một việc trái ngược với phong tục tập quán người miền núi. Nửa đêm, trong khi ông chồng vẫn còn đang ngáy, Kesyrt rời khỏi giường và bỏ đi luôn.

Dân chúng đánh giá việc này mỗi người một ý, song tất cả phụ nữ đều thống nhất gọi cô là con ngốc.

Kesyrt bị dằn vặt một thời gian khá lâu, tình cảnh vô công rồi nghề, cùng với những ý nghĩ cay đắng cứ giày vò cô mãi, cho đến một lần cô cùng đi với mẹ xuống chợ Makhketa để bán con bò sữa và con trâu cái.

Kesyrt ngắm nhìn chợ và vô cùng ngạc nhiên. Vào thời đó, chợ Makhketa hoạt động khá sầm uất. Chợ nằm ngay cạnh làng, trên khoảnh đất rộng bên sông Bass trong hẻm núi, thu hút mọi người dân trong khu vực. Dân miền núi mang đến chợ các sản vật như bơ, pho mạt, gia cầm và thịt, còn từ vùng bình nguyên, dân Cheehnya và dân Cozak thì mang bột, gạo và lúa đại mạch đến. Từ thành phố Grozny người ta chở muối và dầu hỏa lên, còn đường thì thậm chí đặt hơn cả mật ong. Từ Dagestan người ta mang đến những tấm thảm tuyệt đẹp, dụng cụ bếp núc bằng kim loại và dao găm. Dân Digan buôn bán các mặt hàng bằng sắt, dân Armenia và Do Thái thì trương ra các mặt hàng mỹ nghệ bằng vàng và bạc... Tiền Sa Hoàng được sử dụng rộng rãi hơn; còn tiền của chính quyền Xô viết dùng rất ít vì người ta còn chưa tin tưởng. Đơn vị đo lường chính được lấy tương đương một cân thịt - thực phẩm chính của người dân.

Suốt một ngày, Kesyrt lang thang khắp các sạp hàng, phải chật vật lắm mới đảo hết lượt. Chiều tối, lê về được đến nhà, hai chân mỏi nhừ, đau nhức, Kesyrt nằm vật xuống phản và ngạc nhiên nhận ra, trong suốt thời gian lang thang trong cài chợ bẩn thỉu, chật chội và ồn ào kia, cô không một lần nghĩ về nỗi đau của mình, ở đó cô cảm thấy tâm hồn thanh thản và nhẹ nhõm. Còn ở nhà, những ý nghĩ nặng nề về cuộc đời lại đè nặng trong lòng.

Chiều hôm sau, Kesyrt nhớ lại cảnh chen chúc chợ búa với một cảm giác thanh thản nhẹ nhõm, và không hiểu sao, cô lại rất muốn đến đây, giữa dòng người, giữa tiếng ồn ào và bụi bặm, giữa những câu tranh cãi và những lời tán tụng, giữa những đứa trẻ chân đất lem luốc. và những nhân vật tai to mặt lớn giàu sang, giữa những tiếng hí của đám lừa và tiếng sủa của lũ chó hoang ngay bên chân. Hóa ra trong cái đám đông xa lạ và dửng dưng với nỗi đau của cô nỗi buồn và nỗi cô đơn của cô như biến đi đâu mất, tất cả mọi người chỉ bận tâm đến công việc và nỗi lo toan của chính mình. Ngoài chợ, tất cả mọi người, không ai nghĩ đến việc sẽ chết như thế nào, mà chỉ nghĩ đến việc sẽ sống ra sao, người ta không có thời gian cho nỗi đau của chính mình và nỗi đau của người khác. Cần phải mua rẻ, bán đắt, thế thôi.

Ngày hôm sau, Kesyrt lại đến chợ, và cô ngạc nhiên nhận thấy, khi cô hỏi giá, thậm chí ngay cả với những mặt hàng ế ẩm nhất, người ta cũng không sốt sắng trả lời. Cô hiểu, ở đây, mảnh khăn tang không làm người ta bận tâm: chợ búa gần gũi với với những lo toan ở hạ giới hơn là trên thiên giới.

Ngày hôm sau, Kesyrt cởi bỏ tấm khăn tang ra, tắm rửa sạch sẽ rồi chải lại như ngày xưa mái tóc dày đen nhánh với những lọn tóc xoăn, gài lên một chiếc nơ nhỏ màu xanh lục, mặc chiếc áo váy thêu hoa văn bị bỏ quên lâu ngày... Cô gái như lột xác Bà Haza nhìn con gái ứa nước mắt. Vào những ngày tang lễ bà cố tỏ ra cương nghị để sưởi ấm trái tim tan nát của con gái, vậy mà bây giờ, bà không cầm lòng nổi, ngồi so vai bên bậu cửa, ép lên ngực hai bàn tay thô kệch do cuộc sống lao động nặng nhọc, bà lắc lắc đầu, nước mắt ứa ra trên đôi gò má nhăn nheo, hốc hác. Đó là những giọt nước mắt vui sướng và hy vọng đầu tiên - con gái đã bắt đâu quan tâm đến bản thân, có nghĩa là tâm hồn nó đã sống lại. Mà trái tim của nó thì còn trẻ lắm.

Chỉ cần hai tuần khảo sát khắp chợ là Kesyrt đã nắm bắt được công việc. Thời gian đầu, cô giúp việc buôn bán cho một bà già cùng làng, sau đó cô làm ăn riêng, bắt đầu có thu nhập, kiếm được những đồng tiền do chính mình làm ra.

Chưa thể nói Kesyrt là một nhà buôn thực thụ và biết cách buôn bán, cũng chưa thể nói là cô rất yêu công việc này và cảm thấy hài lòng với nói. Tuy nhiên, cô hiểu chỉ có ở đây giữa chốn ô tạp, thô lỗ và lừa lọc này, cô mới có thể cùng lúc vừa quên đi và vừa kiếm sống. Không còn cách nào khác, và cô chấp nhận cuộc sống chợ búa này không phải là từ một cuộc sống tốt đẹp.

Công bằng mà nói, cuộc sống của Kesyrt đang ngày càng trở nên tốt đẹp hơn. So với nhiễu người cùng buôn bán những mặt hàng như cô, thì người ta thích mua ở chỗ cô hơn. Cô bắt đầu có bạn hàng, phần lớn là những người khá giả, họ thích được một phụ nữ trẻ trung, xinh đẹp phục vụ, bởi lẽ khách hàng giàu có không nhìn vào giá cả mà nhìn vào sự hấp dẫn của người bán hàng.

Nỗi lo toan thường nhật đã dần xoa dịu nỗi đau của Kesyrt, cô bắt đầu để ý đến việc chăm sóc bán thân, ăn mặc cũng đẹp hơn. Sức khỏe cũng hồi phục dần, trở nên tươi tắn hơn, đôi má ửng hồng trở lại trên khuôn mặt màu bánh mật với hai lúm đồng tiền hai bên, đôi môi he hé thắm ra. Chi tiết quan trọng nhất là cặp mắt thì đã hồi sinh, lấp lánh. Thoạt đầu Kesyrt chỉ muốn đi tìm niềm vui, và giờ đây, cô đã vui vẻ thật sự. Dĩ nhiên, đó là một con đương đầy gian truân, nặng nhọc, thậm chí bẽ bàng, nhưng Kesyrt đã làm với cả tấm lòng và một niềm đam mê. Cô đã hồi sinh trở lại, cô muốn sống, muốn kiếm tìm hạnh phúc và tạo dựng số phận.

Những người đàn ông trẻ trung và không còn trẻ nữa bắt đầu xúm quanh sạp hàng của Kesyrt như đàn ong bên bông hoa. Cô không xua đuổi ai, cũng không níu kéo ai, tuy nhiên, tự nơi sâu thẳm trong lòng, cô vẫn đang tìm một chỗ dựa, vẫn hy vọng về niềm hạnh phúc của mình.

Mặc dù Kesyrt nhào ra chợ như đến với nguồn sống và cứu cánh duy nhất, nhưng sự vùng vẫy ấy phải băng qua nỗi bế tắc, nỗi đau, nỗi cô đơn và sự nghèo đói. Cuộc sống ở chợ là cuộc sống của những kẻ lãng du dưới bầu trời rộng mở, mùa hè - nóng bức và bụi bặm, mùa đông - giá lạnh và gió lùa, là mưa xối xả và nắng chang chang. Đó là cuộc sống mà mỗi ngày phải phải vác trên vai một vật nặng, là chặng đường hơn bảy mươi cây số từ Makhketa đến Grozny, qua núi qua đèo, qua con sông rộng Argun, qua vùng đồng không mông quạnh lúc nào cũng thực sẵn các toán cướp và với vô số các trạm kiểm soát sẵn sàng tống tiền và xúc phạm.

Ngoài ra, bất cứ một thằng đàn ông nào cũng muốn, không chỉ tán tỉnh mà còn muốn ngủ với Kesyrt nữa. Quả thật, Kesyrt là một người đẹp, đang ở độ tuổi sung mãn nhất, thời kỳ mà sự quyến rũ nữ tính đang chín muồi, có sức hấp dẫn và mê hoặc. Rất ít người đàn ông nào lại không để mắt đến cô, thậm chí đàn bà cùng muốn nhìn ngắm rồi ganh ghét.

Tóm lại, mẩu bánh mì kiếm được cũng chẳng dễ dàng gì. Mọi nỗi khó khăn không lường trước được có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và gần như hàng ngày...

* Dịch từ nguyên bản tiếng Nga, NXB Công nhân Grozny, 2010


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}