Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Trời ban tôi biết về đâu? - Ngôn chí (Bài 13), một bài thơ đặc sắc của Nguyễn Trãi

Chủ Nhật, 14/06/2015 11:59 GMT +7
 Hai câu kết của bài thơ mới thực sự là tâm điểm của tư tưởng chủ đề. Phải chăng, con thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ kia, chính là hình ảnh của Nguyễn Trãi, đang một mình đi tìm bến đỗ mà chưa tới bến tới bờ? 

Tà dương bóng ngả thuở hồng lâu,
Thế giới đông nên ngọc một bầu.
Tuyết sóc treo cây điểm phấn,
Quỹ đông dãi nguyệt in câu.
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng,
Nhạn triện hư không gió thâu.
Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ,
Trời ban tối ước về đâu?
 
Hai câu thơ đầu đã thấy tả cảnh, đặc tả một buổi hoàng hôn, mà gam màu chủ đạo là màu vàng thẫm, rất quen và cũng rất hư huyễn. Bóng chiều đã ngả, cái màu vàng thẫm huyễn hoặc kia như thể đang trùm lên, đang miên man quấn lấy một ngôi lầu cô quạnh bên sông. Nhưng có điều khiến chúng ta phải nghĩ ngợi là vì ngôi lầu bên sông cô đơn ấy lại chỉ giành cho đàn bà con gái khuê các, thuộc tầng lớp quyền quý cao sang. Cụ Đào Duy Anh Anh phiên câu này là Tà dương bóng ngả thuở giang lâu. Tất cả dường như đang mơ màng chìm đắm trong một không gian rộng lớn và tĩnh lặng, trong một thế giới đông nên ngọc một bầu… 
 
Thế giới đông là gì vậy? Người xưa cho rằng “đông” chính là khí tốt, khí thiêng của thế giới, của vũ trụ đông đặc lại mà thành phong cảnh đẹp như ngọc. Nhưng là cả một bầu ngọc cơ! Cả vũ trụ này đẹp như một bầu ngọc tuyệt vời. Theo điển sách Đạo gia, xưa có người tên là Trương Thân thường treo một quả bầu rất lớn, hoá làm trời đất, ở trong cũng có mặt trời mặt trăng, đêm chui vào đó mà ngủ, rồi gọi đó là trời bầu, hay là bầu trời. Quả là một bức tranh được vẽ bằng ngôn ngữ và truyền thuyết dân gian rất tráng lệ, đẹp đến mức cổ điển:
 
Tà dương bóng ngả thuở hồng lâu
Thế giới đông nên ngọc một bầu.
 
Hai câu thơ tiếp theo cấu trúc đối xứng, lục ngôn, khác với hai câu thơ đầu (thất ngôn), nhưng cũng vẫn là tả cảnh. Bức tranh thiên nhiên được vẽ vời thêm ở một vài chi tiết:
 
Tuyết sóc treo cây điểm phấn,
Quỹ đông giải nguyệt in câu.
 
Tuyết sóc, nghĩa là tuyết từ phương Bắc. Người xưa gọi phương Bắc là sóc, ví như sóc phong là gió Bắc. Tuyết lạnh từ phương Bắc chả biết gieo xuống từ bao giờ mà vẫn còn đang treo lơ lửng trên cây, còn giăng mắc trên cây, phủ lên cây một màu trắng tinh khiết. Có người cho đây là cảnh chỉ mang tính ước lệ trang điểm cho câu thơ thêm đẹp, chứ nước ta làm gì có tuyết. Thế là họ nhầm đấy. Cách nay gần sáu trăm năm, ở nước ta có thể còn nhiều tuyết hơn ở Sa-Pa, tỉnh Lào Cai, hay ở Mẫu Sơn thuộc tỉnh Lạng Sơn bây giờ cũng nên. Còn như quỹ đông giải nguyệt in câu thì cảnh đã gần gũi hơn rồi. Một vầng trăng mỏng mảnh như chiếc lưỡi câu ở phương Đông buông xuống một giải vàng thướt tha như lụa. Thế là cả một không gian mênh mông rực rỡ sắc màu. Màu trắng của tuyết hoa tương ánh với màu vàng mê hoặc của ánh trăng in đáy nước, chan hoà trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, tạo nên một bức tranh vừa rộng vừa sâu, gợi một khoảnh khắc giao thoa hỗn mang rất nhiều tâm trạng. Lại thêm:
 
Khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng
Nhạn triện hư không gió thâu.
 
Bây giờ là sương khói trong chiều muộn. Cúi xuống nhìn mặt sông, thấy khói chiều in bóng xuống mặt nước trong veo phẳng lặng. Quyên, từ cổ là mặt nước trong, do vậy quyên phẳng nghĩa là mặt nước trong và phẳng lặng. Nước trong đến nỗi có cảm giác như sương khói buổi chiều hôm đang vật vờ chìm xuống tận đáy thuỷ cung, vương quốc của các loài giao long thuỷ quái, mờ ảo long lanh. Rõ là cảnh trời nước hoà trộn vào nhau, vàng gieo đáy nước. Long lanh đáy nước in trời / Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng. Có lẽ Nguyễn Du sau Nguyễn Trãi gần bốn trăm năm cũng đã tiếp thu câu thơ khói chìm thuỷ quốc quyên phẳng mà sáng tạo ra một câu thơ lục bát nhuần nhuyễn tuyệt vời đấy chăng? Thật là một câu thơ gợi hình gợi sắc, đẹp một cách cổ điển. Đáy nước là vậy, còn trên trời thì Nhạn triện hư không gió thâu. Đàn chim nhạn đang thảnh thơi bay, chúng tự xếp thành hàng chữ “triện” mà bay theo gió về phương Nam. Trong cái không gian tràn ngập màu sắc mênh mông ấy, thấy thấp thoáng hình ảnh một con thuyền nhỏ nhoi cô độc:
 
Thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ,
Trời ban tối ước về đâu? 
 
Con thuyền nhỏ nhoi (thuyền mọn) của Tiên sinh Nguyễn Trãi, hay của một vị khách nào đó vẫn còn đang mải miết chèo trên sông như thể chưa hề muốn đỗ lại, hoặc là chưa thể dừng lại, vì chưa tới bến tới bờ. Trong nhập nhoạng bóng tà, con thuyền mọn như càng nhỏ bé hơn, tội nghiệp cô đơn hơn, giữa cái bao la choáng ngợp của đất trời. Chưa tìm được bến đỗ, hay là chưa muốn đỗ, bởi vì Trời ban tối, ước về đâu, biết về đâu?...Câu 7 thất ngôn, dàn trải, biểu hiện sự phân vân, lửng lơ, buông thả. Câu 8, bỗng đột ngột thu lại lục ngôn, như một sự dồn nén tâm sự.
 
Có bao nhiêu phần trăm sự thực trong bức tranh chiều tà bên sông lộng lẫy mà thao thiết buồn? Có lẽ cũng chẳng nên đặt vấn đề cân đong cụ thể chi ly làm gì, bởi thơ là sản phẩm sáng tạo của trí tưởng tượng, thực và ảo hoà quyện đan xen.  Hai câu kết của bài thơ mới thực sự là tâm điểm của tư tưởng chủ đề. Phải chăng, con thuyền mọn còn chèo chăng khứng đỗ kia, chính là hình ảnh của Nguyễn Trãi, đang một mình đi tìm bến đỗ mà chưa tới bến tới bờ? Từ cái ngôn chí này, có thể ước đoán Nguyễn Trãi viết bài thơ này vào thời điểm giặc Minh đang đô hộ nước ta. Nguyễn Trãi bị giặc Minh quản thúc, nhưng vẫn không ngừng nuôi chí tìm cơ hội rửa thù nhà, đền nợ nước, nhưng chưa tìm thấy đường đi cụ thể? Hoặc giả là ở thời điểm Nguyễn Trãi bị thất sủng, bị vô hiệu hoá, đang cô đơn cô độc giữa biển đời mênh mông. Ông về Côn Sơn, xa lánh chốn cửa son nhiều bụi bặm, nhưng trong lòng vẫn đêm ngày không lúc nào yên. Lo nước thương dân, từ hy vọng tin tưởng thênh thang, đến thất vọng đắng cay, không thể nói là không buồn bã, bởi vì trời ban tối, biết về đâu?
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}