Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Sách:

 

Tự vấn và thức tỉnh cùng Đỗ Kim Cuông

Nguyễn Khắc Phê | Thứ Tư, 25/09/2013 06:18 GMT +7
Tiếp theo tiểu thuyết “Phòng tuyến sông Bồ” (NXB Văn học, 2008), nhà văn Đỗ Kim Cuông vừa cho xuất bản “Sau rừng là biển” (SRLB)- cuốn tiểu thuyết thứ 12 của mình. Là người sống nhiều năm trên chiến trường Trị Thiên Huế và “dùi mài kinh sử” dưới mái trường Đại học Sư phạm Huế, SRLB cũng dành nhiều trang tái hiện cuộc sống mà tác giả cùng đồng đội của ông đã trải qua trên dải đất này, nhưng đề tài của cuốn sách rộng hơn, tuy số trang không nhiều.

 

Đọc nhan đề của cuốn sách, thật khó đoán tác giả sẽ viết chuyện gì. Cũng “khó hiểu” vì sao một họa sĩ tên tuổi lại vẽ bìa bằng một “gam” màu dễ bị “chìm” trên các giá sách như thế! Có phải tác giả và họa sĩ muốn người đọc phải tìm hiểu phần “chìm” của một tảng băng, bao giờ cũng lớn hơn phần nổi?

Quả là đọc những trang đầu, tưởng chỉ là một câu chuyện đơn giản và quen thuộc: ba người lính quê một tỉnh đồng bằng Bắc bộ, từng sống chết bên nhau ở Trị Thiên, gặp lại nhau sau chiến tranh, những hồi ức xen lẫn với bao vất vả trong cuộc mưu sinh hiện tại…; sách dày chưa đến 250 trang, nhân vật không nhiều, nhà văn cũng khó “tung hoành”, triển khai những ý đồ rộng lớn. Ba người lính không thuộc loại có nhiều “sao vạch”, thời hậu chiến cũng không có công tích gì đặc biệt. Thái, nhân vật xưng “tôi” rời chiến trận về dạy học; Huynh về làng quê; Hùng may mắn hơn, trở thành sĩ quan, được đi học Liên Xô, nhưng rồi hư hỏng phải vào tù.“Sự tích” nhân vật như thế tưởng cũng khó nâng tầm tư tưởng của tiểu thuyết.

Vậy nhưng chính nhờ tác giả đưa nhân vật vào các “địa hạt” bình thường ấy - giáo dục và nông thôn - mà tác phẩm đã chạm đến những vấn đề xã hội và triết lý sâu sắc. Đây không phải là “dưới đáy” xã hội hay “mũi nhọn cuộc sống” như lâu nay khi bàn đến đề tài trong sáng tác văn học nghệ thuật chúng ta thường nói, nhưng với cách lựa chọn đó, tác giả đã tiếp cận cuộc sống thật của nhân dân với bao nỗi lo cơm áo hàng ngày và vô vàn những phi lý, bất công, chứ không “mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây” hay những chuyện tình tay ba tay tư nơi công sở cùng những pha “sex” câu khách rẻ tiền.

Mặt khác, tuy tác giả chưa có những đổi mới rõ rệt về mặt nghệ thuật (cũng có thể ông quan niệm lối viết chạy theo những trào lưu thời thượng như “hậu hiện đại”… chưa hẳn đã làm nên giá trị tác phẩm?), nhưng nhờ tránh được nhược điểm của không ít tiểu thuyết Việt Nam là lệ thuộc vào sự kiện (như kể cho xong một chiến dịch, một công trình…) và cuộc sống được thể hiện bằng nhiều điểm nhìn, giọng điệu - khi là “tôi”, lúc là lời kể của Huynh, lúc khác lại là ngôn ngữ bốp chát của Nụ (người vợ đã li dị của Hùng), rồi những trang nhật ký của Kha (thầy hiệu trưởng nơi Thái dạy học) …, tác phẩm trở nên phong phú, chuyển tải được nhiều thông điệp đến người đọc.

“Giáo lý và cuộc sống… Chao ôi! Một khoảng cách quá lớn. Cái nhân cách và phi nhân cách của ông thầy chỉ trong gang tấc. Lẽ nào lại là một kẻ dối trá trước những đôi mắt ngây thơ, trong veo kia. Chỉ một điều đơn giản thôi: Lý tưởng và đạo đức. Mi có hàng trang dẫn chứng cho học trò trong buổi lên lớp giờ chính trị, đạo đức. Nhưng mi lại bất lực trước những câu hỏi của những đứa trẻ 15-16 tuổi. Tại sao một ông chủ tịch xã X. vô cớ bắt giam cầm đánh đập cô Thuận cho đến phát điên?... Thầy ơi! Bạn B. Ở Mỹ Thạnh Hưng đêm qua theo gia đình vượt biên giới sang Hồng Công rồi thầy!... Thầy ơi! Cái L. học lớp 9B, thầy còn nhớ không? Em nghe nói có người gặp nó ở Nha Trang đi bán “hoa”!... Hỡi ôi! Đau đớn thay. Thử hỏi mi làm được cái gì để cứu cho những đứa học trò khốn khổ…”

Chỉ một đoạn nhật ký của thầy Kha đã nói lên bao cảnh đời trớ trêu của xã hội không chỉ lay động lương tâm người thầy. Với Thái, ngay bên cạnh hồi ức êm dịu về mối tình đầu với một cô gái Huế là sự đổ vỡ vì những ngộ nhận và ấu trĩ một thời:

“…Tại sao tôi không có quyền cảm mến một cô gái Huế dễ thương. Ở tuổi ấy, tôi cũng chưa hiểu được rằng: Một anh lính có thể vượt qua được bãi mìn dày đặc, đưa được một đại đội độc lập vượt qua tuyến phòng thủ của địch ở sông Bồ, Mỹ Chánh để thọc về đánh giặc tại vùng sâu ở phá Tam Giang, đánh nhau với ba tiểu đoàn thủy quân lục chiến vào vây ráp, bắn nát bãi cát Triều Dương, làm tan nát làng Phú Lương, chợ Sịa, Hiền Lương; sau cả chục ngày trời đánh chống càn, đại đội bị tiêu hao quá nửa, tôi đã không chết. Nhưng, tôi đã không lường trước được những trở lực cạm bẫy cho một tình yêu… Phải ít lâu nữa, tôi mới hiểu cái nguyên cớ chính yếu gây cho Liên và tôi biết bao phiền muộn, đau khổ chính là sự mặc cảm của một chế độ này với một chế độ khác, giữa ta và địch, phía bên này và phía bên kia, rằng không thể có sự dung hòa…”

Trong chuyện kể của Huynh thì còn nhiều xót xa hơn nữa. Từ chiến trường về, mặc dù cô Mến - vợ anh - có con với chủ tịch xã, anh vẫn nén lòng giữ cho gia đình không đổ vỡ, góp sức xây dựng hợp tác xã. Nhưng anh đã hai lần bị khai trừ khỏi Đảng vì đấu tranh với tệ ăn cắp và bè phái ở làng xã, đến mức phải bỏ quê đi lập nghiệp ở phía Nam… Cuộc đời không ít những số phận cay đắng như thế, nhưng tiểu thuyết của Đỗ Kim Cuông khiến độc giả sau khi gấp sách lại, phải suy ngẫm nhiều chính là nhờ tác giả đã thể hiện chúng với giọng điệu “tự vấn”. Xin hãy nghe Huynh “tự vấn” sau những bất hạnh khôn tả:

“…Bom đạn không giết nổi tôi. Lẽ nào tôi lại chết nhục nhã về tay những thằng xấu xa, đê tiện ở cái làng này… Bốn trăm con người đã nằm lại với đất rừng phương Nam, Lào, Cămpuchia và cả biên giới phía Bắc. Sự hy sinh ấy không bao giờ vô nghĩa; cùng không phải để cho những tay cán bộ hư hỏng thối nát đục khoét của nhà nước để làm hại dân. Nếu tôi khuất phục tức là tôi có tội với bốn trăm con người kia cậu ạ. Tôi không tin họ đã chết, Thái ạ. Họ vẫn tồn tại và nhìn chúng ta đang sống, đang xử sự với nhau hàng ngày…”

Chỉ có CON NGƯỜI mới biết tự vấn. Tự vấn cũng là thức tỉnh. Những người lính tưởng là vượt qua chiến trận khốc liệt, sẽ trở về cuộc sống bình yên nhưng rồi họ chợt tỉnh ngộ“đấu tranh chống đói nghèo, chống cái xấu xem ra cũng thật cay đắng, gian khổ”; cũng như vượt qua những cánh rừng lắm gai góc, bí hiểm tưởng sẽ đến được với mặt biển bao la êm ả nhưng hóa ra biển cũng sâu thẳm sóng gió khôn lường…

Có phải vì vậy mà kết cục của tiểu thuyết như là lơ lửng, chẳng biết các nhân vật sẽ đi tới đâu. Nhưng chính tác giả đã kịp lý giải điều này ở phần cuối cuốn sách: “…Có lẽ, cụ Ăngghen vĩ đại đã nói đúng. Đừng bao giờ tự huyền hoặc, lý tưởng hóa cuộc sống. Ở đâu trên trái đất này còn ngang trái bất công, còn sự giàu nghèo, còn cả người chăm chỉ và kẻ lười biếng, còn cái cao cả xen lẫn với cái thấp hèn, còn phải đấu tranh…”


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}