Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tuần tin:

 

Vài kỉ niệm về Lão tướng Hoàng Minh Thảo

Trần Minh Thu | Chủ Nhật, 06/10/2013 16:15 GMT +7
Cho tới tận ngày hôm nay, những kỷ niệm về lão tướng Hoàng Minh Thảo vẫn làm tôi bồi hồi xúc động, mặc dù tôi ít có dịp được tiếp cận với Ông. Vị tướng ấy sống mãi trong lòng nhân dân...

 

JPEG - 9.1 kb

Gió se hơi lạnh một sáng cuối Thu, năm 2005. Tôi lọc cọc dắt chiếc xe đạp cà tàng vào sân, vừa né sang một bên để tránh con chó cứ nhòm tôi mà sủa. Đón tôi ở chiếc bàn kê ngoài hiên, có trang trí rất nhiều hoa cảnh, là bác gái, mặc áo nhung đen, đội mũ nỉ tròn đen hơi nghiêng, càng tôn lên vẻ đẹp của gương mặt một thời xuân sắc. Ngỡ như gặp “Người đàn bà xa lạ” trong mờ sương trời Pê-tec-bua của danh họa nước Nga - Kramskôi.

— Mời cháu vào. Ông ơi, ông có khách.

Lão tướng Hoàng Minh Thảo đã đứng trong cửa tươi cười nhìn tôi. Cả hai bác dành cho tôi sự ấm áp, chân tình.

- Cháu hỏi vừa thôi, để còn giữ sức khoẻ cho bác Thảo nhé. Bác gái mời nước xong, lùi ra ngồi ở một ghế xa hơn. Vị Lão tướng gật đầu lặng nghe… dòng tư duy tuổi trẻ. Từng cơn gió nhẹ gõ nhịp vào cửa kính.

— …Cháu thấy tầm nhìn chiến lược của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ như thế!

Trong Điện Biên Phủ trên không. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã triệt để thực hiện lời dặn của Bác Hồ -…Mỹ chỉ thua khi thua trên bầu trời Hà Nội. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố khác có thể bị tàn phá. Song nhân dân ta quyết không sợ mà tích cực chuẩn bị, đón thời cơ sẵn sàng diệt địch. Chứ không như ông Lê Duẩn điều tên lửa vào giữ thành cổ Quảng Trị; ông Lê Đức Thọ ở Hội nghị Pa-ri về, tuyên bố: - “Hòa bình trong tầm tay”, vừa bước vào nhà tắm thì (18/12/1972) máy bay B52 Mỹ đến ném bom Hà Nội.

Đêm ấy ở Hà Nội, cháu chỉ núp dưới hầm một lúc rồi theo bố mẹ cháu và mọi người ra chỗ đất thoáng xem tên lửa ta bắn đỏ lừ, lao vun vút… Cả Hà Nội hồng rực. Sắc hồng phủ lên những vòm cây, mái nhà đen sẫm. Bố cháu chỉ – cái dù trắng nhờ nhờ đang bay kia là giặc lái Mỹ nó nhảy dù đấy. Cháu ghét giặc lái Mỹ. Chị em cháu thấy báo động thì chạy đi lấy cái sào chọc ổi gác lên máI nhà thi nhau bắn máy bay Mỹ…

Cháu nhớ – một ngày nắng đẹp, trời xanh, giữa trưa chợt nghe tin miền Nam hoàn toàn giải phóng. Lớn lên đọc sách “Đại thắng mùa xuân” của Văn Tiến Dũng, cháu cảm thấy ông Văn Tiến Dũng không phải là tổng tư lệnh chỉ huy giải phóng miền Nam. Mà là Đại tướng Võ Nguyên Giáp cơ, bác ạ.

Vì, từ phương châm chiến dịch “Đánh nhanh, thắng nhanh” trong chiến dịch Điện Biên Phủ, chỉ sáu tiếng (11 giờ đến 17 giờ) trước giờ tấn công, sau hơn 10 ngày theo dõi tình hình địch - thấy đã thay đổi rất nhiều về phòng ngự, kiểm tra lại khả năng của ta, Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp đã chuyển sang “Đánh chắc, tiến chắc”, vì nhớ lời dặn của Bác Hồ: - Chú đi chiến dịch lần này, tướng quân tại ngoại, trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh. Sau 56 ngày đêm chiến đấu liên tục, quân ta đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ.

Còn trong Chiến thắng Mùa Xuân 1975, nếu tính từ 10-03-1975 bắt đầu chiến dịch Tây Nguyên, ta đánh Buôn Ma Thuột đến 30-04-1975 thì ta giải phóng Miền Nam trong vòng có 50 ngày. Nếu tính cả thời gian chuẩn bị - từ đêm mồng 03 rạng ngày 04-03-1975 trung đoàn 95A và Sư đoàn 3 Quân khu 5 đánh cắt và làm chủ đoạn đường số 19 thì cũng chỉ có 57 ngày đêm. Cách nhau 21 năm, từ 1954 đến 1975 mà khoảng thời gian tác chiến chiến lược chỉ chênh nhau có 01 ngày!...

Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương dự tính sẽ giải phóng Miền Nam trong vòng hai năm, nhưng sau khi chiến thắng Buôn Ma Thuột – Một chiến thắng có ý nghĩa chiến lược. Thời cơ chiến lược đến! Quân ta đã thần tốc, thần tốc trên tất cả các mặt trận. Xem cách chỉ huy ấy rất thống nhất mà linh hoạt, chỉ có thể có ở một người - Đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cháu nghĩ thế có phải không, thưa bác?

— Năm 1946, khi đi thị sát chiến trường vào đến Tuy Hoà, Anh Văn đã nói: “Ai làm chủ được Tây Nguyên thì làm chủ được Đông Dương”. Vì coi trọng tầm quan trọng chiến lược của Tây Nguyên, Anh Văn đã điều tôi vào nắm Tây Nguyên cả chục năm rồi. Có lần tôi ra Hà Nội họp…

— Họp gì hả bác? Tôi nóng lòng cắt ngang.

— Họp quân sự mà cháu. Họp Tư lệnh các miền về. - Lão tướng Hoàng Minh Thảo nói tiếp - Anh Văn gọi riêng tôi ra sân Quân ủy Trung ương ở “Nhà đầu rồng” (- điện Kính Thiên) hỏi: - “Nếu đánh Tây Nguyên thì nên đánh ở đâu trước?”. Tôi nằm ở Tây Nguyên cả chục năm, tình hình địch tôi nắm chắc, nên tôi nói:

— “Nếu đánh Tây Nguyên thì anh nên cho đánh Buôn Ma Thuột trước. Vì Buôn Ma Thuột là thị xã lớn nhất, hậu cứ của địch, nơi hiểm yếu, cũng là nơi địch sơ hở và ít quân hơn. Chỉ cần ta dụ được địch lên phía Bắc Tây Nguyên”.

Anh Văn gật đầu, đồng ý. Anh Văn đã điều tôi làm Tư Lệnh, Chỉ huy trưởng mặt trận Tây Nguyên và giao nhiệm vụ. Anh Văn với cương vị Tổng Tư lệnh, Bí Thư Quân uỷ Trung ương, phân công cho anh Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng đi cùng cánh quân phía Tây.

Sau đó, Anh Văn đã đi một nước cờ rất thần tình – Lão tướng Hoàng Minh Thảo ngước đôi mắt sắc dưới hàng lông mày muối tiêu vểnh ngược như lưỡi mác hướng vào tôi, hai lần gõ chụp năm đầu ngón tay xuống mặt bàn:

— Anh Văn bất ngờ cắm một quân đoàn (quân đoàn 4) ở Bắc Đồng Nai, một quân đoàn (quân đoàn 2) ở Huế. Tự nhiên có hai quân đoàn này đứng gần ở các khu vực trọng yếu ấy thì buộc địch phải điều hai sư đoàn lính dù và sư đoàn lính thủy đánh bộ - tổng dự bị chiến lược của chúng ra để giữ hai khu vực chiến lược quan trọng là Huế và Sài Gòn. Có như vậy địch mới để hở quãng giữa là Tây Nguyên… Quân đoàn 1 được lệnh hành quân cấp tốc từ Thanh Hóa áp sát bờ bắc sông Bến Hải.

— Vâng. Tôi nghe say sưa như nuốt lấy từng lời vang ấm của vị Lão tướng.

— Lực lượng của ta lúc bấy giờ chỉ tương đối so với địch. Tây Nguyên, ta chỉ có hai sư đoàn. Anh Văn đột ngột tăng hai sư đoàn (sư đoàn 968 và sư đoàn 316) cho Tây Nguyên. Từ đó Tây Nguyên có tới bốn sư đoàn và một số trung đoàn độc lập. Lại có sự phối hợp của Sư đoàn 3 Quân khu 5, sự hỗ trợ của Đoàn 559, Tây Nguyên bỗng trở thành một quân đoàn mạnh. Thời cơ tăng thêm cho Tây Nguyên hai sư đoàn chính là cái nút của cuộc chiến tranh. Ta nghi binh (-bằng làn sóng điện, điều động lực lượng, phao tin trong dân, tạo những sơ hở giả,…), vây hãm, cô lập, “trói địch lại” đánh nghi binh ở phía Bắc (Plây Cu) – nơi địch tương đối mạnh và nhử được trung đoàn 45 (đội tiên phong của sư đoàn 23) địch từ Buôn Ma Thuột về Plây Cu; để tập trung sức mạnh của ta ở phía Nam là Buôn Ma Thuột.

— Nghi binh giống Trương Phi nghi binh, cho ngựa kéo cành cây để bụi bay mù lên, giặc tưởng là đông quân, bác nhỉ? Tôi hứng thú.

— Địch mắc vào mưu kế của ta để sơ hở hướng Nam Tây Nguyên và Buôn Ma Thuật. Đánh địch bằng mưu kế, thắng địch bằng thế thời. Bác Hồ bảo: “Lạc nước hai xe đành bỏ phí / Gặp thời một tốt cũng thành công”, “Có quả cân chỉ một kilôgam, ở vào thế có lợi thì lực của nó tăng lên nhiều, có sức mạnh làm bổng được một vật nặng hàng trăm kilôgam. Đó là thế thắng lực”…

Buôn Ma Thuột ở phía Nam Tây Nguyên là một thị xã lớn nằm sâu trong vùng hậu phương địch, không trực tiếp đối mặt với trận tuyến của ta, nên địch không đề phòng, số quân ở đây cũng ít. Hơn nữa, công phá Buôn Ma Thuột là nơi địch sơ hở, nơi hiểm yếu của khâu yếu nhất trong hệ thống phòng ngự của địch, một địa bàn chiến lược rất cơ động, là ngã ba đường chiến lược quan trọng, từ đây quân ta có thể phát triển chia quân làm ba hướng đánh xuống vùng đồng bằng ven biển và Đông Nam Bộ, chiến trường Miền Nam sẽ bị cắt làm đôi. Quân khu 3 và Sài gòn sẽ bị uy hiếp từ phía Đông.

— Hay quá! Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu. Tôi thốt lên.

— Khó nhất là lúc lừa nhử địch lên Bắc Tây Nguyên: Thực hiện ghìm địch ở đầu mạnh, để tiến công phá vỡ địch ở đầu yếu! Làm cho chúng tưởng là ta sắp đánh lớn để thông đường hành lang mặt trận, nối liền tuyến vận chuyển từ Bắc vào Nam. Tướng Phạm Văn Phú, Tư lệnh vùng II chiến thuật là một tay cáo già, sau khi họp, hắn trao đổi riêng với Trần Văn Cẩm, chuẩn tướng, phó tư lệnh quân đoàn 2 phụ tá hành quân; Lê Khắc Lý, đại tá, tham mưu trưởng quân đoàn,… sẽ có thể còn rất nhiều điều bất ngờ ngoài dự tính. Có ý kiến cho rằng, đánh Plây Cu và Kontum chỉ là đòn nghi binh, đối phương sẽ đánh vào Buôn Ma Thuột. Và có lúc Phạm Văn Phú đã nghi ngờ kế hoạch của ta, định đưa sư đoàn 23 về lại Buôn Ma Thuột. Nhưng khi ta cho một sư đoàn (968) đánh trận “giả” mà như thật cũng có pháo binh lớn yểm trợ tấn công ở Plây Cu thì… buộc địch phải theo kế hoạch của ta.

Công tác chuẩn bị chiến đấu của ta ở Buôn Ma Thuột gặp rất nhiều khó khăn. Công binh phải san rừng, xẻ núi, bắc cầu, ghép phà,… làm đường mới hoàn toàn. Anh em bí mật cưa cây sẵn nhưng chưa cho đổ, khi cần vượt qua thì hạ đổ cho nhanh. Mở đường xe chạy trên những gốc cây mới cưa sát gốc. Đồng thời ta phải ngụy trang hai bên đường, cho xe chạy ở dưới những vòm le. Tất cả phải bí mật, bảo đảm cho từng đoàn xe tăng, xe bọc thép, xe kéo pháo, xe vận tải… an toàn vào vị trí tập kết đúng ngày N… Trước giờ G. có khi chỉ mươi, mười lăm phút, địch còn nống ra sục sạo… Có thằng ra tiểu gần ngay chỗ đặc công của ta nằm, bị nước giải nó bắn cả lên người. Mũi súng địch chỉ cần chọc xuống đất hất lên là vướng vào dây điện thoại của ta vừa rải, phủ lá rừng lên. Đúng giờ G., ngày 10 tháng 3 ta nổ súng đánh Buôn Ma Thuột.

— Giờ G. là mấy giờ, hả bác? Tôi hồi hộp.

— Hai giờ sáng. Trung đoàn đặc công (198) và pháo phản lực (ĐKB, H12, rốc két) của ta đánh vào sân bay và khu kho Mai Hắc Đế, địch vẫn tưởng là ta nghi binh. Lúc đó, công binh cũng đã cho đổ các cây cưa sẵn, để xe tăng, xe bọc thép, các binh chủng cơ giới bật đèn sáng trong đêm, mở hết tốc lực tiến vào vị trí xuất phát tiến công! Khi thấy xe tăng ta nghiến xích trên đường phố thì địch mới tin rằng Buôn Ma Thuột bị tấn công. Quân ta với tốc độ tiến công thần tốc đột phá thọc sâu, vu hồi, bắt đầu trút bão lửa, khiến quân địch choáng váng không kịp chuẩn bị đối phó, không kịp chấn chỉnh và điều động lực lượng… Vũ Thế Quang, đại tá, sư phó sư đoàn 23, tư lệnh Nam Tây Nguyên, chỉ huy trưởng các lực lượng vũ trang của địch ở Đắc Lắc- Quảng Đức; Nguyễn Trọng Luật, đại tá, tiểu khu trưởng Đắc Lắc phải bỏ sở chỉ huy tháo chạy. Đến 11 giờ ngày 11-3 trận đánh Buôn Ma Thuột kết thúc.

— Thế quân địch phản kích, tiếp viện thì sao ạ?

— Ta đã cho một trung đoàn (24) phục sẵn ở phía đông Buôn Ma Thuột. Sư đoàn 10, sau khi đánh Đức Lập xong, cấp tốc hành quân về Buôn Ma Thuột đón lõng ở nơi ta dự kiến địch sẽ đổ bộ bằng đường không. Địch cho máy bay lên thẳng đổ quân (trung đoàn 45) nhảy dù xuống phản kích hòng chiếm lại Buôn Ma Thuột, liền rơi vào cái bẫy của ta. Địch vừa tiếp đất đã bị ta tiêu diệt.

— Chà! Ta toàn tay súng thiện xạ. Tôi xuýt xoa thán phục. Bộ đội Cụ Hồ thời đánh Mỹ còn hay hơn cả trong “Tam Quốc diễn nghĩa”, bác nhỉ.

Ánh mắt Lão tướng ngời sáng:

— Đúng lúc ấy, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu họp với đại tướng Trần Thiện Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên - tổng tham mưu trưởng, trung tướng Đặng Văn Quang - Phụ tá an ninh quân sự của Tổng thống và thiếu tướng Phạm Văn Phú ở Cam Ranh (14-03-1975) quyết định: Phải rút khỏi Kontum và Plây Cu để bảo toàn lực lượng, rút lui chiến lược!… Quân địch đang nguy ngập, nghe tin ấy thì kinh hoàng, tuyệt vọng, tháo chạy mang theo cả tâm lý hoảng loạn lan nhanh xuống đồng bằng…

Ta cắt rừng truy kích, đánh tiêu diệt tập đoàn địch rút chạy. Không cho thoát, không cho chúng kịp co cụm... Plây Cu, Kontum không đánh mà được giải phóng. Chiến dịch Tây Nguyên đang trên đà thắng lớn, chiến dịch Huế - Đà Nẵng lập tức gối đầu.

Anh Văn với nhãn quan chiến lược, lập tức biệt phái anh Lê Trọng Tấn - Phó Tổng tham mưu trưởng đi cùng với Quân đoàn II ở cánh phía Đông để chớp thời cơ nhanh chóng cắt đứt đường số 1, không cho quân địch kịp co cụm ở Đà Nẵng (Liên hiệp quân sự) để củng cố tinh thần… Đánh ngay sân bay Phú Bài (Huế)! Phải đánh ngay vào tinh thần khiếp nhược, rệu rã như một phản ứng dây chuyền domino của quân địch… Anh Lê Trọng Tấn được Anh Văn chỉ định là Tư lệnh Mặt trận Quảng Đà với phương châm: “táo bạo, bất ngờ, kịp thời, chắc thắng”, đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị ba ngày. Anh Văn hạ lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”. Sau khi giải phóng Đà Nẵng, Quân đoàn II cánh phía Đông của anh Lê Trọng Tấn với mũi thọc sâu của lữ đoàn xe tăng cơ động… cứ thế đánh thọc sâu thẳng vào dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh được mở ra: 17 giờ, ngày 26-4-1975, lúc 15 sư đoàn của ta từ vị trí xuất phát tiến công, đã bao vây Sài Gòn từ năm hướng.

— Sau đấy quân Tây Nguyên ta đi đâu, hả bác? - Tôi hỏi.

— Thế quân ta lúc bấy giờ như nước cuốn, như chẻ tre. Ta chia quân
làm ba mũi tiến xuống đồng bằng, đánh quân địch đang hoang mang khiếp sợ… Mũi thứ nhất (sư đoàn 3 Sao Vàng, sư đoàn 968 và trung đoàn 95A), theo đường 19 tiến xuống Bình Định. Mũi thứ hai (sư đoàn 320), theo đường số 7 tiến xuống Tuy Hoà. Mũi thứ ba, sư đoàn 10 của ta còn sung sức, tiến về đèo Phượng Hoàng – Ma-đrắc, theo đường 21, xuống Nha Trang giải phóng tỉnh Khánh Hoà và quân cảng Cam Ranh.

Khi các quân đoàn tham chiến tiến vào giải phóng Sài Gòn thì sư đoàn 308 của quân đoàn 1 - là quân đoàn mạnh nhất của quân đội ta và một số đơn vị mới thành lập, đứng lại ở đường 9, để đề phòng quân Mỹ đổ quân vào đường 9, cắt ngang tuyến hậu cần Đông Dương. Chiến dịch Tây Nguyên bắt đầu từ 4 - 3 đến 3 – 4 - 1975 thì kết thúc.

— Vậy đánh Buôn Ma Thuột là mở đột phá khẩu của cuộc Tổng tiến công chiến lược Mùa Xuân 1975, bác nhỉ. Tôi chợt hiểu ra.

— Thôi, 11 rưỡi rồi. Hai bác cháu nghỉ, đến 2 giờ chiều lại tiếp tục nhé. Bác đang mệt đấy. Bác gái nhắc.

— Vâng. Tôi lễ phép. Thế 2 giờ chiều cháu xin phép bác quay lại ạ.

*
* *

Mười bốn giờ ba mươi phút, tôi vừa lò dò dắt xe tới cổng đã thấy cậu cần vụ đứng chờ: - Ông đợi cô từ 2 giờ đấy! - Ôi! Thế à? Tôi đi vội vào. Lão tướng Hoàng Minh Thảo đang đứng cạnh bức tường hoa ngoài cửa, ngóng chờ tôi. Ông là người rất trọng giờ giấc. Tôi luống cuống gạt chân chống xe đánh cạch một cái: - Cháu chào bác. Cháu cứ nghĩ là bác nghỉ trưa.

— Bác trai không ngủ được. Bác chờ cháu từ 2 giờ đấy. Bác gái bước ra, sốt ruột bảo.

— Cháu xin lỗi ạ!

— Thôi, không sao. Lão tướng cười hiền từ, quay vào và đưa cho tôi một cuốn sách:

— Đây là cuốn sách của bác mới xuất bản. Cháu ngồi đọc rồi nói cho bác biết nhận xét của cháu.

— Vâng. Tôi đón lấy cuốn sách từ tay Lão tướng Hoàng Minh Thảo, ngồi đọc say sưa.

Mãi sau nhà có khách.

Lúc tôi gấp cuốn sách, ngẩng lên. Lão tướng Hoàng Minh Thảo chỉ vào người đến lúc nãy, giới thiệu:

— Đây là anh Phạm Vũ Quỳnh, thư ký của bác. Anh cũng giúp bác viết sách. Cháu đọc cuốn sách của bác thấy thế nào?

— Dạ. Bác cho phép thì cháu mới dám nói.

— Cháu cứ nói tự nhiên.

Tôi nhìn anh Phạm Vũ Quỳnh người tầm thước, tóc cắt ngắn đang chờ đợi, nhìn cuốn sách đang nằm trên tay, rồi nhìn lên Lão tướng Hoàng Minh Thảo: - Dạ. Thưa bác, cháu thấy nếu bác bớt thêm chút thời giờ nữa cho cuốn sách thì cuốn sách sẽ hay hơn.

Lão tướng Hoàng Minh Thảo cười … khà … khà … khà … quay sang bác gái Vũ Thị Minh Nguyệt: - Bà ơi, cháu nó nói nếu tôi bớt thêm chút thời gian nữa thì cuốn sách sẽ hay hơn.

Lão tướng Hoàng Minh Thảo nhìn sang tôi. Tôi thấy đôi lông mày của Ông oai vệ như ông Hộ pháp ngự ở các ngôi chùa xưa.

Tôi ngắm kỹ hơn bìa sách “Chiến đấu ở Tây Nguyên” đang cầm trên tay và nói vui:

— Bác ơi, trông ảnh bác ở ngoài bìa sách giống như mãnh hổ đang rình mồi ... Đại tướng Võ Nguyên Giáp lại cử bác vào Tây Nguyên … như thả hổ về rừng, bác nhỉ!

Ông cùng cả nhà cười vui vẻ.

Vâng! Tôi vẫn thấy giọng nói, tiếng cười của Ông như vừa mới đâu đây. Ông vẫn sống ở trong lòng mỗi chúng ta – Vị tướng của Nhân dân.

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}