Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Bài Viết:

 

Vài nét về diện mạo của nghiên cứu lý luận phê bình văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại (Trích)

Thứ Ba, 13/01/2015 08:08 GMT +7
PGS.TS Trần Thị Việt Trung
    
Nghiên cứu, lý luận phê bình (NCLLPB) văn học DTTS đã xuất hiện, đã vận động và phát triển trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Và trong quá trình hoạt động: Khi âm thầm, lúc sôi nổi - hoạt động nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS cũng đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận và trân trọng. Và trên hết là: Nó đã khẳng định sự có mặt đầy ý nghĩa của mình trong đời sống văn học các DTTS Việt Nam, nó giúp cho rất nhiều người hiểu thêm, hiểu rõ và hiểu đúng hơn về văn học DTTS; nó chỉ ra bao vẻ đẹp lunh linh, kỳ diệu ẩn chứa trong các tác phẩm văn chương (từ nền văn học dân gian đến văn học hiện đại) của các DTTS Việt Nam. Nó cũng đặt ra nhiều vấn đề quan trọng liên quan đến sự tồn tại, phát triển của văn học DTTS trong thời kỳ hiện đại, thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay và trong tương lai; nó cất tiếng nói (về cả lý luận và thực tiễn) về việc giữ gìn và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc, về việc sáng tác song ngữ, về việc đổi mới văn chương DTTS để có thể hòa nhập vào dòng chảy của văn học nước nhà… Vì vậy, không thể không nói rằng: NC, LL PB văn học DTTS thời kỳ hiện đại đã xuất hiện kịp thời và góp phần không nhỏ vào việc tổ chức, định hướng xây dựng một nền văn học DTTS ngày càng hoàn thiện, phát triển và đạt nhiều thành tựu.
 
Đội ngũ những người dân tộc thiểu số nghiên cứu, lý luận phê bình về văn học Dân tộc thiểu số ngày càng đông hơn, số lượng tác phẩm nhiều hơn và chất lượng ngày càng được nâng cao.
 
Từ những năm 50 của thế kỷ trước, đặc biệt là vào những năm 70, 80 đã xuất hiện một số cây bút nghiên cứu, lý luận phê bình DTTS. Họ là những nhà văn, nhà thơ vừa sáng tác, vừa viết nghiên cứu, lý luận phê bình văn học. Vì vậy, ở họ thường có một sự am hiểu sâu sắc, tinh tế về chính tiếng nói văn học của mình (đây là lối nghiên cứu, phê bình tự túc). Đại diện cho thế hệ đầu tiên của đội ngũ những người nghiên cứu, lý luận phê bình DTTS phải kể đến tên tuổi của các vị Trưởng lão như: Nông Quốc Chấn, Triều Ân, Vi Hồng, Y Điêng, Bùi Nhị Lê, Vương Trung, Lâm Quý… với một số cuốn sáng mang tính nghiên cứu, lý luận phê bình như: Đường chúng ta đi (1972), Một vườn hoa nhiều hương sắc (1977) và Chặng đường mới (1985) của Nông Quốc Chấn; Thơ ca cách mạng Việt Bắc 1936-1945 (1977) của Triều Ân; Trường ca Tây Nguyên (1961) của Y Điêng; Truyện cổ tích Mường (1968) sưu tầm và biên dịch của Bùi Nhị Lê; Sli lượn dân ca trữ tình Tày - Nùng (1979) của Vi Hồng; Truyện cổ Cao Lan (1982) của Lâm Quý (cùng các cộng sự)…
 
Ngoài một số công trình nghiên cứu, sưu tầm, lý luận trên là những bài nghiên cứu, phê bình lẻ được in, đăng tải trên các báo, chí của Trung ương, của khu vực và các địa phương. Trong khoảng gần 30 năm (kể từ bài viết “Kể ít chuyện làm thơ” - tháng 2/1957 của Nông Quốc Chấn cho đến giữa những năm 80 - hoạt động nghiên cứu, phê bình văn học DTTS chủ yếu mới chỉ ở dạng các bài viết nhỏ, lẻ hoặc các lời đề tựa, giới thiệu tuyển tập; những bài phát biểu, tham luận (trong các Hội nghị về văn hóa, văn học DTTS). Chỉ có một số cuốn sách vừa mang tính lý luận vừa mang tính phê bình (3 cuốn đã nêu tên trên) của Nông Quốc Chấn, còn hầu hết là những công trình, những cuốn sách làm những công việc hỗn hợp: vừa giới thiệu tác giả, tác phẩm, vừa bình luận văn chương; hoặc vừa nghiên cứu, vừa sưu tầm, biên dịch, vừa phê bình, đánh giá tác phẩm, tác giả văn học DTTS (cả văn học dân gian lẫn văn học hiện đại). Nên cũng có thể nói rằng: giai đoạn này, văn học DTTS chưa có các nhà nghiên cứu, lý luận phê bình mang tính chuyên nghiệp của riêng mình.
 
Vào cuối những năm 80, đầu những năm 90 trở đi, văn học các DTTS đã được khởi sắc và phát triển khá mạnh mẽ, có nhiều thành tựu đáng ghi nhận, đáng tự hào. Vì thế nó đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học người DTTS. Đến giai đoạn này, đội ngũ những người viết lý luận phê bình DTTS đã được tăng lên rõ rệt. Đã xuất hiện hàng chục tác giả làm công tác nghiên cứu, lý luận phê bình mang tính chuyên nghiệp.Các tác phẩm lý luận, phê bình ngày càng dày dặn, công phu, có giá trị lý luận và thực tiễn. Các tác phẩm này không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu tác giả, tác phẩm; việc khảo cứu, sưu tầm, giới thiệu vốn luận… - mà nó đã bám sát hoạt động sáng tác, kịp thời ghi nhận những thành tựu đóng góp của các tác giả DTTS (qua các sáng tác cụ thể của mình); và nó có ý thức rõ rệt trong việc tổ chức, định hướng cho văn học DTTS phát triển, tiến tới sự hòa nhập vào dòng chảy chung của nền văn học Việt Nam hiện đại. Có thể kể đến tên tuổi của một số các tác giả, tác phẩm nghiên cứu, lý luận phê bình văn học tiêu biểu của giai đoạn này như:
 
Với 4 cuốn sách nghiên cứu, lý luận phê bình “Văn học các DTTS Việt Nam hiện đại” (1995), “Về một mảng văn học dân tộc” (1999), “Văn học và miền núi” (2002), “Tiếp cận văn học DTTS” (2011) và gần 20 bài viết lẻ in, đăng trên các báo chí Trung ương và địa phương - nhà văn dân tộc Nùng - Lâm Tiến được đánh giá như một nhà nghiên cứu, lý luận phê bình văn học DTTS có tính chuyên nghiệp đầu tiên của cả nước. Các cuốn sách nghiên cứu, lý luận phê bình của ông vừa mang tính khái quát, tổng thể (tổng kết, đánh giá 40 năm văn học DTTS Việt Nam hiện đại…) vừa mang tính cụ thể (nghiên cứu, phê bình các tác giả, tác phẩm cụ thể, đánh giá, nhận định về từng giai đoạn văn học, các thể loại văn học…). Đọc toàn bộ các công trình nghiên cứu và các bài viết của ông, người ta hình dung ra được một cách khá rõ nét diện mạo (khái lược) của văn học DTTS thời kỳ hiện đại với tình hình đội ngũ, tình hình sáng tác và những thành công cùng những hạn chế của văn học DTTS. Người ta còn nhận rõ mối quan tâm sâu sắc, sự tâm huyết của nhà nghiên cứu, phê bình lý luận này đối với sự tồn tại và phát triển của văn học DTTS Việt Nam. Đó là sự quan tâm,sự tâm huyết của một người trong cuộc, luôn đau đáu một nỗi niềm: làm sao, làm gì để văn học DTTS luôn tồn tại và luôn phát triển trong thời đại hiện nay? - khi mà đời sống hiện đại với bao thuận lợi nhưng cũng đầy thách thức đối với việc gìn giữ và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc - nhất là trong văn chương nghệ thuật? Sự lo lắng, nỗi đau đáu đó của ông cũng chính là sự lo lắng và nỗi đau đáu của những nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình luôn trân trọng, yêu mến và tâm huyết với sự sống - còn của văn học DTTS. Với những tâm huyết và cống hiến của mình, ông đã trở thành tác giả DTTS đầu tiên được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam, về tác phẩm nghiên cứu, lý luận phê bình DTTS (năm 1996) và các giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật các DTTS Việt Nam (năm 2000, 2003, 2012) của tỉnh Thái Nguyên và của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Thái Nguyên ( 2011, 2013) trao tặng.
 
Đáng chú ý tiếp là trường hợp của Lò Ngân Sủn - nhà thơ dân tộc Giáy - một trong những cây bút thơ xuất sắc nhất người DTTS Việt Nam thời kỳ hiện        đại - bên cạnh hàng chục tập thơ đặc sắc, sôi nổi, nồng nhiệt, đậm đặc chất dân tộc là một loạt các bài phê bình Văn học cùng 4 tập sách Tiểu luận - lý luận phê bình có tên Hoa văn thổ cẩm của ông được ra mắt bạn đọc trong khoảng 10 năm (từ 1998 đến 2009).
 
Đọc các bài phê bình cùng các cuốn sách tiểu luận, phê bình viết về văn học DTTS của ông, người đọc cảm nhận rất rõ bầu nhiệt huyết, lòng say mê tới độ nồng nhiệt, cháy bỏng của ông đối với những sáng tác văn học do các tác giả DTTS sáng tạo nên. Cảm nhận, thưởng thức bằng cả trái tim và tâm hồn của người miền núi; phân tích giải mã các biểu tượng nghệ thuật, ngôn ngữ nghệ thuật, giọng điệu và âm điệu nghệ thuật… trong tác phẩm bằng cả vốn tri thức văn hóa hết sức giàu có, phong phú của mình về cuộc sống tinh thần và vật chất đồng bào các DTTS vùng cao, cùng những tri thức về lý thuyết, lý luận và thực tiễn sáng tác - Lò Ngân Sủn đã tạo cho mình những trang viết phê bình rất riêng: vừa tinh tế vừa thô mộc; vừa có tính lý luận vừa đầy tính thực tiễn; vừa hồn nhiên, trong trẻo vừa có sự già giặn, sâu sắc. Qua các bài viết, trang viết phê bình của mình - Lò Ngân Sủn đã tự vẽ bức chân dung văn học một cách khá toàn vẹn về bản thân: một nhà thơ, một nhà lý luận phê bình DTTS tiêu biểu thời kỳ hiện đại. Ông là một trong số ít người DTTS có ý thức sâu sắc về tiếng nói văn chương của người DTTS, và luôn có một khát vọng cháy bỏng - muốn cho nhiều người hiểu hơn, yêu hơn, trân trọng vẻ đẹp của các trang văn, trang thơ của đồng bào các DTTS Việt Nam.
 
Nhà nghiên cứu, phê bình Hoàng An (dân tộc Tày) là một cây bút nghiên cứu, phê bình văn học DTTS có tính chuyên nghiệp khá rõ rệt. Ông luôn bám sát tình hình sáng tác của các nhà văn, nhà thơ Lạng Sơn - quê hương miền biên ải của ông. Đồng thời, ông cũng luôn quan tâm đến các cây bút DTTS khác trong toàn quốc. Là một nhà lý luận được đào tạo cơ bản (Ông là Tiến sĩ chuyên ngành lý luận ngôn ngữ, được đào tạo tại Liên Xô cũ), Hoàng An tỏ rõ “tính chuyên nghiệp” trong từng trang viết, từng bài nghiên cứu, phê bình của mình. Ông thường đặt ra những vấn đề mang tính lý luận cơ bản như: Thế nào là tính dân tộc, là bản sắc văn hóa dân tộc trong văn học?; Tính mới, tính sáng tạo và tính truyền thống… trong các sáng tác cụ thể của từng nhà văn? Vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác của các nhà thơ, nhà văn DTTS… Đọc các cuốn sách nghiên cứu, lý luận phê bình của ông - người đọc nhận thấy có một sự chắc chắn, có cơ sở khoa học trong việc khen, chê, phẩm bình tác phẩm văn chương DTTS. Tính khách quan và tính khoa học luôn là điều mạnh trong các bài viết, các cuốn sách nghiên cứu, phê bình văn học của ông. Nhưng người đọc cũng cảm nhận thấy khá rõ trong lối phê bình hơi có vẻ khô khan, thiếu chất tài hoa, nghệ sĩ của ông. Song, có lẽ - đây cũng là một nét mang phong cách Hoàng An, khác với phong cách nghệ sĩ trong phê bình của Lò Ngân Sủn.
 
Ngoài hàng chục bài phê bình lẻ, Hoàng An có 4 tập sách nghiên cứu, phê bình có tên chung là: Nét đẹp trong thơ văn và ngôn ngữ dân tộc với các tiêu đề từng tập là: Một vùng thơ văn của đất nước (tập 1 - 1999); Hương sắc núi rừng (tập 2 - 2003); Hương rừng (tập 3 - 2008). Những cuốn sách này của ông đã giành được một số giải thưởng quan trọng của Trung ương và địa phương như: Giải thưởng Hội Văn học Nghệ thuật các DTTS Việt Nam; Giải thưởng Hoàng Văn Thụ của tỉnh Lạng Sơn (5 năm 1 lần), Giải nhất cuộc thi thơ về đề tài biên phòng. Và gần đây nhất, Hoàng An đã cho ra đời cuốn sách đậm chất “chuyên nghiệp”: Nghiên cứu, lý luận phê bình văn học (2013).
 
Có một nhà thơ, một nhà văn hóa tiêu biểu của dân tộc Hmông cũng đồng thời là một nhà nghiên cứu, phê bình DTTS có khá nhiều tác phẩm tiểu luận, phê bình và cũng đã tạo cho mình một bức chân dung văn học đặc sắc, không thể trộn lẫn - Đó là tác giả Mã A Lềnh. Người con tiêu biểu, xuất sắc của dân tộc Hmông này đã từng làm cho độc giả phải ngạc nhiên, sững sờ, trước những bài thơ, tập thơ đặc sắc, đậm chất Hmông như: Đá ở Sapa, Bên suối Nậm Mơ… và càng khiến cho người đọc cảm thấy bất ngờ trước những bài, những cuốn sách tiểu luận, phê bình văn học đầy chất “lý sự” và chất nghệ sĩ; vừa hồn hậu, tự nhiên, vừa sâu sắc, từng trải của ông. Không kể những bài viết lẻ, những bài tham luận Hội thảo, Mã A Lềnh có 4 cuốn sách tiểu luận, phê bình đó là : Tần ngần trước văn chương (1999), Suối nguồn vẫn chảy hồn nhiên (2007), Dân tộc miền núi và đời sống văn chương (2012) và Những người tôi đã gặp trên đường (2013). Trong các cuốn sách nghiên cứu, phê bình và Tản văn của ông - rất nhiều vấn đề lớn về văn học DTTS đã được đặt ra như: Sự tồn tại và mất mát của ngôn ngữ dân tộc trong sáng tác văn chương; sự rơi rụng hoặc phai nhạt của các phong tục, tập quán, của bản sắc dân tộc trong cuộc sống cộng đồng các DTTS cũng như trong văn học DTTS Việt Nam; và làm thế nào để có thể gìn giữ và phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng được đội ngũ các nhà văn DTTS, phát triển được văn học DTTS trong đời sống văn học thời kỳ hiện đại như “ Suối nguồn vẫn chảy hồn nhiên - trước khi hòa chung vào dòng sông văn học Việt Nam rộng lớn…? Ngoài các vấn đề lớn đó, Mã A Lềnh còn hướng ngòi bút của mình vào việc giới thiệu các tác giả người DTTS với những tác phẩm cụ thể của họ, góp phần chỉ ra cái hay, cái đẹp, cái đặc sắc của từng cây bút DTTS mà ông yêu quý, trân trọng. Tuy các bài viết của ông còn mộc mạc, những lời ông tâm sự, những ý kiến nhận xét, phẩm bình của ông còn đơn giản, ít chất lý luận… nhưng càng đọc, càng cảm nhận rõ sự tâm huyết của ông, nỗi niềm đau đáu của ông về sự sống - còn, sự tồn tại và phát triển của Văn học DTTS trong điều kiện xã hội (thuận lợi nhưng cũng đầy thách thức) hiện  nay - làm cho người đọc xúc động và không thể không chia sẻ, không kính trọng một nhà văn DTTS tài năng, một nhà nghiên cứu, phê bình DTTS đầy tâm huyết với sự nghiệp văn học DTTS Việt Nam.
 
Bên cạnh các cây bút có nhiều công trình, nhiều cuốn sách nghiên cứu, phê bình trên, cũng cần phải điểm đến một số cây bút vừa sáng tác rất khỏe, nhưng cũng viết khá nhiều bài, nhiều cuốn sách tiểu luận phê bình như: Ma Trường Nguyên (dân tộc Tày) - liên tục trong khoảng 3 năm đã cho ra đời 3 cuốn sách - như là một sự đúc kết, sự “rút ruột” về mặt “tự nhận thức” về văn học - của chính bản thân sau hơn 40 năm miệt mài sáng tác của mình. Đó là các cuốn : Hiện đại mà dân tộc (2010); Trên cánh đồng chữ nghĩa (2011); Các nhà văn nói về nghề (2013). Các cuốn sách của ông chủ yếu đi vào bàn luận về vấn đề: Tính dân tộc và tính hiện đại trong sáng tác của các nhà văn DTTS hiện nay; giới thiệu, phê bình một số cây bút DTTS tiêu biểu như: Vi Hồng, Y Phương, Dương Thuấn, Cao Duy Sơn… và đặc biệt là các cây bút của Thái Nguyên - nơi quê hương ông đang sinh sống và không ngừng sáng tạo nghệ thuật như: Hồ Thủy Giang, Bạch Liễu, Vân Trung, Hà Đức Toàn, Phạm Đức, Nguyễn Thị Minh Thắng… Đọc các trang viết phê bình, giới thiệu tác phẩm - tác giả của ông, cùng những suy nghĩ giản dị, chân thật, hồn nhiên về nghề viết văn, cũng như các giá trị của văn chương đối với con người và cuộc sống vùng dân tộc, miền núi của ông - người đọc càng hiểu rõ hơn, sâu hơn về những sáng tác của những cây bút đã cả đời cắm rễ, hút nhựa sống trên mảnh đất miền núi thân thương; càng hiểu rõ hơn những suy nghĩ vừa hồn nhiên, vừa sâu sắc của những người DTTS làm văn chương phục vụ cho chính bà con của dân tộc mình.
 
Nhà văn Hoàng Quảng Uyên - trên vùng đất địa đầu của Tổ quốc cũng là một nhà văn vừa sáng tác vừa hăng hái viết phê bình văn học. Ngoài những cuốn bút kí và tiểu thuyết, Hoàng Quảng Uyên cho ra đời 3 cuốn sách nghiên cứu, phê bình văn học: Một mình trong cõi thơ (2000); Đi tìm Nhật ký trong tù (tập 1, tập 2 - năm 2010). Đây là một sự nỗ lực lớn của nhà văn DTTS này, bởi tác giả không phải là một người được đào tạo cơ bản về ngành văn học và nghiên cứu văn học, nhưng vốn yêu văn chương và tâm huyết với sự nghiệp văn học DTTS, Hoàng Quảng Uyên đã quyết lặn lội, một mình trong cõi thơ để tìm ra cái hay, cái đặc sắc trong từng chân dung các nhà thơ DTTS như: Nông Quốc Chấn, Pờ Sảo Mìn, Lâm Quý, Mai Liễu, Inrasara…; Và cũng đã một mình - trên nẻo dặm trường để đi tìm hiểu về Nhật ký trong tù của Bác - nhằm hiểu đúng hơn, chính xác hơn những bài thơ Bác viết trong tù năm xưa. Khoan hãy nói đến giá trị khoa học của cuốn sách này, chỉ riêng thái độ dũng cảm của nhà văn trong việc đặt lại vấn đề hiểu, giảng về thơ Bác như thế nào cho chính xác trong nhà trường các cấp - với các giáo sư, các nhà khoa học hiện nay - cũng đủ khiến người khác phải nể phục nhà văn của non nước Cao Bằng rồi.
 
Trong các cây bút DTTS viết lý luận, phê bình Văn học có một người đã để lại một dấu ấn khá sâu sắc và có phong cách khá rõ rệt - đó là trường hợp nhà thơ dân tộc Chăm - Inrasara. Trước khi viết 2 cuốn sách lý luận, phê bình Văn học “dưới cảm quan mĩ học hậu hiện đại” (từ dùng của Inrasara), nhà thơ Chăm này đã có một số công trình nghiên cứu văn hóa, văn học Chăm khá công phu, được đánh giá cao như: Văn học dân gian Chăm - tục ngữ, thành ngữ, câu đối (1995) và Văn hóa - xã hội Chăm, nghiên cứu và đối thoại (2003). Có lẽ, cũng chính qua việc thực hiện các công trình nghiên cứu này mà vốn văn hóa, văn học dân gian Chăm trở nên giàu có, phong phú hơn trong con người tác giả - người con ưu tú của dân tộc Chăm này! Hay nói một cách khác: chính cái vốn tri thức về văn hóa, văn học Chăm giàu có và sâu sắc này đã là bệ đỡ chắc chắn cho những công trình nghiên cứu lý luận, phê bình của ông ra đời, cho những sáng tác của ông ngày càng trở nên đặc sắc hơn, đậm đặc chất Chăm hơn bao giờ hết. Hai cuốn: Chưa đủ cô đơn để sáng tạo (2006) và Song thoại với cái mới (2008) - là 2 cuốn sách lý luận, phê bình văn học theo đúng tên gọi về thể loại. Vì trong 2 cuốn sách này, Inrasara cũng đã rất chú ý đến việc lập thuyết, việc ứng dụng các phương pháp nghiên cứu phê bình mới, hiện đại và hậu hiện đại để lý giải các hiện tương văn học đương đại. Tuy nhiên, không phải vấn đề gì mà Inrasara đề cập đến, bàn luận đến, hoặc sáng tạo ra trong công việc nghiên cứu, phê bình của mình đều đủ sức thuyết phục người đọc (ví dụ như khái niệm: “Phê bình như là lập biên bản”, hoặc luận bàn về việc chưa đủ cô đơn để sáng tạo của các văn nghệ sỹ hiện nay, việc phân chia 4 nhóm tác giả với những từ ngữ khó chấp nhận hoặc khó đồng thuận: nhóm Sáng tạo, nhóm Phục vụ, nhóm Nhai lại, nhóm Ký sinh… chẳng hạn) - nhưng ít nhất, Inrasara cũng đã để cho người đọc phải suy nghĩ, thậm chí phải tranh luận với ông. Và, cũng qua sự cọ sát ấy, Inrasara cũng đã tự khẳng định được sự có mặt của mình trong đời sống văn chương của các DTTS Việt Nam nói riêng, của dân tộc Việt Nam thời kỳ đương đại nói chung.
 
Bên cạnh các cây bút nghiên cứu, phê bình văn học DTTS thời kỳ hiện đại tiêu biểu trên - rất cần phải kể đến các nhà thơ, nhà văn người DTTS tích cực sưu tầm và nghiên cứu về văn học dân gian DTTS Việt Nam. Đây là một hoạt động đầy ý nghĩa thể hiện rất rõ thái độ tự tôn, tự hào dân tộc của các nhà thơ, nhà văn các DTTS Việt Nam. Về đội ngũ tác giả này, một dịp khác chúng tôi sẽ trình bày tiếp./.
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}