Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Vấn đề cá tính hóa cấu trúc dân gian trong văn học

Hà Công Tài (Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam) | Thứ Tư, 23/10/2013 06:04 GMT +7
Cá tính hóa cấu trúc dân gian trong văn học là vấn đề rất có ý nghĩa khi nghiên cứu phong cách sáng tạo trong văn học Việt Nam.

 

JPEG - 46.1 kb
Hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian ngày càng mai một. Ảnh: Q.Việt

Vì rằng đối với tiến trình văn học của các dân tộc ở Việt Nam, quan hệ văn học dân gian và văn học hết sức độc đáo. Tới mức, nó không chỉ là một quy luật giống như trong văn học của nhiều dân tộc trên thế giới, mà còn là một trong những đặc điểm cốt yếu làm cơ sở cho sự cắt nghĩa một số quá trình văn học, một số hiện tượng văn học. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc khi nghiên cứu vai trò của văn học dân gian trong văn học Đông Nam á lục địa cũng cho rằng có một điều không thể chối cãi là ảnh hưởng văn học dân gian được duy trì liên tục và là nền móng của nền văn học này. Cho nên không tính đến đặc điểm cơ sở đó, sự cắt nghĩa sẽ làm thiên lệch nhận thức của chúng ta về đối tượng. Chỉ điểm qua những đỉnh cao của văn học dân tộc như Truyện Kiều của Nguyễn Du trong văn học cổ điển, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, thơ văn yêu nước và cách mạng thời cận đại, thơ văn Hồ Chí Minh, Tố Hữu, Nguyễn Thi thời hiện đại… cũng có thể dễ dàng nhận ra điều đó. Tại sao Truyện Kiều và các sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu viết bằng hàng loạt câu thơ dân gian nhưng vẫn không vì thế làm mất đi phong cách riêng của tác phẩm. Ngược lại, tác phẩm càng trở nên độc đáo và thành những chuẩn mực nghệ thuật mà các nghệ sĩ thời sau không dễ vượt qua. Tại sao qua truyện và ký của Nguyễn Thi chúng ta cảm thấy thấm đượm tính chất dân gian sâu sắc của miền quê ông tuy rất khó tìm ra một khuôn mẫu dân gian?

Chúng ta hãy tìm hiểu vấn đề qua một kiểu cấu trúc rất tiêu biểu của văn học dân gian thường được cá tính hóa trong văn học - cấu trúc ẩn dụ.

Cấu trúc ẩn dụ là cấu trúc trong đó ẩn dụ đứng làm thành tố trung tâm, chi phối toàn bộ cấu trúc bằng các quan hệ do nó tạo ra. Đó là hình thức “lí tưởng” thể hiện sự liên quan mật thiết giữa các thành tố với nhau để tạo ra nghĩa của cấu trúc, khác với nghĩa của các yếu tố riêng rẽ. Nếu không tính tới cấu trúc, chúng ta sẽ không lĩnh hội được ý nghĩa sâu xa, tiềm ẩn của lời văn, sẽ chỉ hiểu được từ ngữ - “những hình thức ngôn ngữ phản ánh các yếu tố của thế giới trong dạng tách rời”. Nói như L.Tônxtôi”… mỗi ý nghĩa được biểu đạt bằng từ một cách riêng biệt, bị mất ý nghĩa khi tách ra một cách đơn lập, không dính vào móc xích mà nó nằm trong đó”.

Chúng ta hãy xem xét vấn đề bằng một dẫn chứng – khi ta nghe lời thơ quen thuộc trong ca dao:

Tưởng rằng đá nát thì thôi
Ai hay đá nát nung vôi lại nồng

thì những hình thể ngôn từ đá nát, nung vôi, nồng là những ẩn dụ trung tâm làm thành cấu trúc ẩn dụ. Những trung tâm này một mặt, đưa ta tới những hìnhảnh khái niệm chỉ thực tại khách quan, mặt khác, xét trong toàn cấu trúc, lại gợi ra trong ta những thực tại thẩm mỹ. Đó là con người, cuộc đời, sự việc hỏng, bỏ đi, được làm lại, tổ chức lại thành tốt, từ vô ích trở thành có ích… Thậm chí từ trong cấu trúc thơ ca cho ta một cái nhìn thấu triệt về thực tại, một cảm nhận và suy nghĩ sâu xa thâm thuý, xuyên thấu lòng người mà ngôn ngữ logic thông thường không làm được. Rò ràng ý nghĩ ở đây được nói ra một cách gián tiếp, theo lối “mượn” hình ảnh ngôn từ khác mà gây được ấn tượng trong ta và gây ra trong tâm trí ta một trường suy tưởng. Nó gợi ra trước mắt ta những sự thực mà ta không thể không quan tâm - một cảnh đời, một thân phận, một lời thách thức trước số phận trong xã hội xưa. Nó bao hàm một thứ ngôn ngữ đặc biệt được xây dựng trên ngôn ngữ tự nhiên, “một hệ thống ký hiệu riêng và những quy tắc hợp nhất chúng lại, phục vụ cho việc truyền đạt những thông báo đặc biệt mà với những phương tiện khác không truyền đạt được” (Lốtman).

Đối với thơ ca - thể loại vốn gợi cảm nhiều hơn là tả và không dung hợp được “thứ giọng điệu thuận tuý miêu tả” vốn thường gặp ở tác phẩm tự sự, cấu trúc ẩn dụ đã đồng nhất lại sự miêu tả và biểu hiện. Vừa tạo hình vừa biểu hiện. Các khái niệm ở đó tiếp cận nhau, diễn ra sự vật chất hóa khái niệm thành những hình ảnh cảm tính.

Hình ảnh này thiên về biểu hiện, gợi dẫn hơn là miêu tả. Nó đưa đến một cảm giác mới mẻ, lạ lùng, thi vị. Dường như đây không còn là những khái niệm thông thường mà là thái độ cảm xúc của nhà thơ. Ví như trong thơ ta bắt gặp những vầng trăng nhưng không còn là vầng trăng khái niệm trừu tượng mà là một thế giới trăng lung linh, huyền ảo, là những vầng trăng tâm trạng.

- … Để em ôm bóng trăng tà năm canh
- Gió đưa trăng thì trăng đưa gió
Trăng lặn rồi gió biết đưa ai
- … Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Cũng thế, trong câu thơ “Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa” thì hoa không đơn thuần là hoa nữa, mà là phương tiện thuộc cấu trúc để gợi ra “cái ở đằng sau” hoa như đẹp, mỏng manh, dễ phiêu dạt, khó nắm bắt… Những cái phong phú, nhiều vẻ, khó có thể nói lên được bằng cách khác. Vậy là tuy không gọi thẳng tên đối tượng, nhưng óc tưởng tượng vận dụng khả năng liên tưởng để lựa chọn hình ảnh ngôn từ biểu hiện. Người nghe cũng phải sử dụng khả năng liên tưởng, “tự tìm đến” đối tượng biểu đạt bằng cách căn cứ quy luật lôgic văn cảnh, thói quen thẩm mỹ, sức thụ cảm nghệ thuật, tìm ra điểm chung giữa cái nói ra và cái không nói ra, ẩn kín. Sáng tạo vì thế cũng là sự phát hiện miêu tả cái mới bằng cách “soi sáng cái quen thuộc” (M.Bakhtin) từ khía cạnh bất ngờ không quen thuộc. Cái khó ở đây là chỉ ra sự tương đồng bất ngờ, không dễ thấy. Điều này sẽ phá vỡ các quan niệm quen thuộc, gây ra trong thơ sự mới mẻ, lời ít ý nhiều. Bằng cách ấy nhiều hình ảnh quen thuộc của đời sống đã vào thơ ca.

- Trăm năm đành lỗi hẹn hò
Cây đa bến cũ con đò khác đưa
- Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng
Ai đi muôn dặm non sông
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy

Rõ ràng “tư duy ẩn dụ không phải chỉ trượt trên bề mặt của thực tại”. Nó cần một sự tiếp cận kí hiệu học đối với cấu trúc sinh ra – cấu trúc ẩn dụ, để làm sáng tỏ quá trình dây chuyền tạo nghĩa của nó trên cơ sở sáng tạo kí hiệu thẩm mĩ. Nó mang một kết cấu cảm xúc nhất định khác với những kết cấu biểu đạt trung lập thiên về cái đã được quy ước, ổn định. Có thể nói cấu trúc đó tự nó đã bao hàm một “hệ số cảm xúc” nhất định. Đó chính là đặc tính của phương thức biểu đạt thẩm mĩ trong thơ. Cho nên tiếp xúc với cấu trúc ẩn dụ thơ ca là tiếp xúc với những phương tiện thể hiện trạng thái tinh thần, tình cảm, kinh nghiệm đời sống, quan hệ con người với thiên nhiên tạo vật. Bỏ cấu trúc, các trạng thái tinh thần đó sẽ lập tức biến mất. Các hình ảnh sẽ trở thành tẻ nhạt, tầm thường. Chỉ trong cấu trúc, trong cái “văn cảnh thứ hai” này ta mới lĩnh hội được các ý nghĩa của thơ ca, cái thần của chữ. Đó là nơi như đã nói trên kia, diễn ra sự đồng nhất con người với thiên nhiên tạo vật; cấp cho thiên nhiên tạo vật những ý nghĩa tương quan với đời sống tinh thần con người. Bằng cách đó thơ ca “khoác” cho thiên nhiên, cảnh sắc, cảnh vật sắc thái thẩm mĩ, cấp cho chúng những ý nghĩa mới mẻ, gắn liền với một phạm vi rất rộng rãi các hiện tượng đời sống tinh thần, tình cảm. Ta nói hiện tượng này hay hình ảnh kia giàu chất thơ chính là với ý nghĩa đó.

Cấu trúc ẩn dụ thơ ca phản ánh phương thức nhận thức nghệ thuật. Nó thể hiện sự chuyển hóa từ trình độ tư duy, nhận thức vào hình thức văn học mà không gì có thể thay thế được. Nói như Lê Hữu Kiều, là “mô tả đường nét bên ngoài mà nổi lên cái thần, nói một câu có thể tỏ được trăm ý, xem kĩ lưỡng có thể biết được muôn cảnh”.

Thi pháp truyền thống của Trung Quốc cũng tập trung sự lĩnh hội vào các hiện tượng bản chất đứng sau lớp ngôn từ, phát hiện cái ý nghĩa ẩn kín của tác phẩm. Nó có hứng thú lớn lao đối với tính bóng gió (Lisêvích), nói tên ra thì ít mà lấy được ý thì nhiều. Hay nói như Hoài Thanh, nó mất một tí rõ ràng mà được thêm rất nhiều thơ mộng. Trên phương diện đó, ẩn dụ trong thơ mang giá trị không phải tự bản thân nó, mà ở chỗ nó giữ vai trò trung tâm của các quan hệ trong cấu trúc. Chính cấu trúc ẩn dụ làm cho tình cảm trỗi dậy, mới là phương tiện để lĩnh hội ý nghĩa ẩn kín, đi sâu vào bản chất, mới tạo ra nhiều chiều liên tưởng để gây ra tiếng thơ bão táp trong tâm hồn. Bởi thế thơ ca đã làm cho những hình ảnh vốn rất quen thuộc trong đời sống dân tộc như cây đa, giếng nước, sân đình, con sông, ngọn núi, sóng, biển, thuyền, bến, cây dâu, con tằm, mối tơ, cấy, gặt, miếng trầu, hoa sen, hoa nhài, cơn gió, cây tre, cây măng… không còn là hiện thực khách quan mà tràn đầy ý nghĩa nhân văn sâu sắc, chuyên chở biết bao ý nghĩa, tâm trạng vượt lên bao đổi thay của lịch sử và biến cố cuộc đời.

Cấu trúc ẩn dụ có thể là một trong số những căn cứ, phương tiện để phác thảo một bức tranh về sự thâm nhập, đổi mới của truyền thống trong sáng tạo thơ ca hiện đại. Nó giúp ta nhìn ra sự thay đổi về nghĩa so với cái nghĩa trước đây của nó cũng như cách cấu tạo ở những phong cách khác nhau. Cách nhìn này là đáng chú ý bởi nó sẽ cấp cho ta một câu trả lời rất thực tiễn là truyền thống được kế thừa và đổi mới như thế nào thì đáp ứng nhu cầu thời đại. Đặc biệt là phương cách tác động và gây hấp dẫn nơi người đọc ở những tác phẩm tiếp thu truyền thống thơ ca dân gian – sản phẩm vốn có quy mô và sức tác động bao trùm đời sống của một cộng đồng dân tộc… Điều đó sẽ tạo tiền đề lí luận cho sự nghiên cứu truyền thống văn học trong đời sống văn hóa hiện đại.

Chúng ta hãy xét một sự thâm nhập dễ nhận ra nhất. Đó là câu chuyện cổ về người dũng sĩ Thạch Sanh được truyền tụng lâu đời trong dân gian. Có thể quên đi các chi tiết, nhưng muôn đời vẫn đọng lại trong tâm trí ta nhân vật Thạch Sanh. Thạch Sanh đã được lựa chọn như một yếu tố để biểu đạt cảm xúc thẩm mĩ về người anh hùng chống Mĩ.

Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi
Một giây ná, một cây chông cũng tiến công giặc Mỹ
(Tố Hữu)

Nhưng phải chăng tất cả đều hiểu hết được hình tượng hành trang “đơn giản nhất trên đời” của người chiến sĩ – hình tượng bài ca ống cóng!

Ngang lưng đeo ống cóng 
Nồi Thạch Sanh đời nay
Bao anh hùng vụt lớn
Ăn cơm ở nồi này
(Thanh Thảo)

Hình tượng nồi cơm Thạch Sanh đã tạo nên niềm rung cảm cho hình tượng hành trang của người chiến sĩ. Đó là sự cá tính hóa một kiểu cấu trúc mang tính ẩn dụ.
Song, ý nghĩa của tác phẩm xét đến cùng lại có lí do từ những hoàn cảnh xã hội, những yếu tố tâm lí. Hoàn cảnh xã hội thay đổi, sự đánh giá về tác phẩm cũng thay đổi. Nghệ thuật thường tác động lên người đọc bởi sự sáng tạo những kí hiệu lạ lùng hấp dẫn. Văn học dân gian vốn quen thuộc với nhiều thế hệ, muốn lạ lùng phải được sự cấu trúc hóa lại. Ví như trong ta vốn quen thuộc hình tượng dòng sông, thuyền bến trong ca dao.

“Sông Lô một giải trong ngần
Thảnh thơi ta rũ bụi trần cũng nên
Con sông bên lở bên bồi
Bên lở lở mãi bên bồi bồi thêm”.

Môi trường văn hóa lịch sử và thẩm mĩ ấy chi phối nhà thơ khi sáng tạo hình tượng dòng sông:

Hai bờ trông nhau sao giống hai ta
Dòng sông rộng như cuộc đời chảy giữa
Em cứ nhận phần em bên lở
Nhận hết những sói mòn sóng vỗ…
Phù sa bãi bờ anh là tất cả của em thôi.
(Thanh Thảo)

Loại thâm nhập thứ hai này vốn khó nhận ra. Bởi hình tượng và cấu trúc thơ đã được phát triển, mở rộng, được cá tính hóa trong điều kiện sáng tác của nhà thơ. Song có thể nhận thấy ở đó vẫn chung một phương thức biểu hiện, một cái nhìn nghệ thuật. Thanh Thảo từng nói “thơ là hột giống” hẳn nhà thơ thấu hiểu quy luật sản sinh đó.

Cho nên trong phương hướng tìm hiểu trên sẽ rất thú vị khi chú ý tìm hiểu thi pháp lịch sử của sáng tác dân gian và sáng tạo văn học. Điều cần lưu ý trước tiên là không nên đối lập thi pháp lịch sử của sáng tác dân gian với thi pháp lịch sử của văn học.

Chúng cần được nghiên cứu trong sự thống nhất biện chứng. Nếu như trong văn học, thi pháp lịch sử có nhiệm vụ nghiên cứu sự phát triển các nguyên tắc sáng tác nghệ thuật cùng toàn bộ các phương tiện diễn đạt nghệ thuật (Khrápchekô) thì trong thi pháp lịch sử của sáng tác dân gian cần bao quát toàn bộ con đường hình thành và phát triển từ các hình thức thể loại cho đến các thủ pháp nghệ thuật. Phải nhận rằng trước đây trong sự tập trung nghiên cứu về bản chất xã hội và giá trị xã hội của sáng tác dân gian, ngành văn học dân gian đã không bao quát hết được các đặc điểm về sự hình thành thể loại cùng những yếu tố thi pháp. Cho nên khi tiếp cận nó người ta đã miêu tả thông qua những biểu hiện cụ thể. Việc làm đó đưa đến chỗ ít nhiều biến nó trở nên rời rạc, dẫn đến sự đồng nhất hoặc đối lập với văn học. Trong khi đó chính quá trình nghiên cứu có thể giúp ta nhìn ra cái riêng trong sự thống nhất với cái chung, đặc biệt là quá trình cá tính hóa cái chung mang đậm dấu ấn thời đại khi nhà thơ cấu trúc hóa lại sáng tác dân gian trong tác phẩm của mình. Hi vọng sự khảo sát kỹ lưỡng theo phương hướng này sẽ điều chỉnh lại cách nhìn của ta về sự thâm nhập của sáng tác dân gian vào văn học – cách nhà thơ biến chúng thành nổi bật và cá tính hóa để mài sắc sự nhận biết của ta về ngữ nghĩa của tác phẩm trong môi trường văn hóa dân tộc và thời đại.


Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}