Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Về nơi cột đá chống trời (Bút ký)

Nguyễn Quang | Thứ Bảy, 01/02/2014 16:58 GMT +7
Mênh mông nước, mênh mông gió, mênh mông trời và núi lẫn vào trong nhau để làm lên một vùng sơn thủy hữu tình, để đánh dấu một kỳ tích mà con người và thiên nhiên có thể hòa quyện lại trong nhau, gần nhau hơn, gần hơn những gì ta tưởng.

Chiếc ca nô như ngẩng đầu lên mà đón nước, đón gió, đón cái hào khí của một vùng sóng nước đến lao xao dưới thân mình rồi trườn tới, trườn tới cái nơi chỉ có đáy trời nộn ngược vào trong nước. Để cho tôi được gửi mây, gửi nắng, gửi gió, gửi tâm tình vào trong bầu trời ngay dưới chân mình. Rồi núi cũng nộn nhào cái thân hình như nón, như chuông, mang tiếng ngân nghìn năm vào đáy một vùng hào sơn, mỹ thủy, đưa hồn xưa vào đáy nước tưởng tận cùng. Liệu có bao nhiêu huyền thoại được cất giấu thật sâu vào cái ngàn xưa, xưa xưa lắm và cái mới tinh khôi đầy kỳ vĩ bây giờ.

    Chẳng xa, cũng chẳng gần, chẳng mới mà cũng đâu có cũ, loáng thoáng thời gian cứ nhộn nhạo trong đầu. Tôi đã đi cô le từ đầu hồ, nơi ấy có một dòng Gâm cuộn mình vào vách đá, cuộn mình vào núi mây bên chợ cá Bắc Mê, trên bến du thuyền. Mặt nước loáng như gương, mang cả ánh mặt trời còn mới tinh khôi của một ngày thả vào tiếng máy nổ ròn tan vang xa mà ấm áp va vào sườn đá. Ấm áp nơi đáy đá xưa cũ mà xuôi về Thượng Tân, để vượt qua Thượng Lâm, vượt qua Đức Xuân về với nơi có trăm cánh đại bàng huyền thoại cổ xưa như vẫn còn đang chấp chới đâu đây. Rồi tôi cũng từng đi xe máy uốn lợn theo dòng Gâm xuôi về với một lời hẹn hò thời trẻ trai dang dở. Thả tay ga, qua những bản người Dao, người Tày, người Nùng của hai tỉnh, Hà Giang, Tuyên Quang. Đưa ánh mắt khát thèm vào dấu nước nổi chìm bám vào sườn núi mùa đông hay chân rừng chìm vào mùa mưa đầu hạ. Để rồi tần ngần mà ngẩn ngơ ngắm cái mặt gương đã đằm sâu vào rừng, vào núi, soi bóng bắp chân trần sơn nữ ngàn xưa…



Đường lên Bắc Mê cách TX. Hà Giang khoảng 56km.

Tìm lại lối xưa mà chiêm nghiệm, cái lối cách đây ba mươi năm, cái ngày đầu tiên chiến sự biên giới tạm lắng xuống, tôi với Lâm, Hoàng Quốc Lâm, một đại úy kỹ thuật của sư đoàn Ba mười ba về phiên chợ Thượng Lâm. Nhoáng cái đã qua ba mươi cái tết, cho ngày ấy tôi và Lâm nghễu nghện ngồi trên chiếc xe máy Zizeet thể thao của Tiệp, chạy từ Hà Giang, theo đường quốc lộ Hai, vượt gần một trăm bốn mưới cây số để đến ki lô mét Ba mốt, đường Tuyên Quang- Hà Giang, rồi từ từ rẽ vào Phà Bợ. Cái phà Bợ khi xưa để nhớ một thời, cái thời đoàn quân Việt Minh còn trứng nước hành quân qua đây, được đồng bào nắm cơm, đưa đò qua sông chào đón. Cái thời những đoàn quân kéo lên Tây Bắc phải băng rừng, lội suối, bơi sông, nhịn ăn, nhịn mặc, qua đất Bắc Mục mà lên đất Bắc Quang rồi hành quân ngược lên Yên Bái, Lào Cai để hội quân dưới Phan xi păng, đệ nhất Đông Dương... Chờ đợi lệnh, dội lửa xuống lòng chảo Điện Biên làm nên mùa ban trắng.  

Chao ơi, con đường, một con đường mà chỉ có trong mơ những người đi hôm nay cũng không thể tưởng tượng ra. Sau cơn mưa rào cuối mùa, đất trên mặt đường như được bàn tay khổng lồ nào đấy nhào nặn cứ quánh lại lút sâu tới may ơ xe máy. Những đoàn xe chở quặng, chở gỗ từ Đầm Hồng ra lặc lè tung lên chân rừng tất cả những gì mà vòng quay của bánh xe có thể cuốn theo…

Kỳ lạ thật, thế mà hai chúng tôi vẫn băng băng vượt bùn, vượt đá, theo con đường như dấu tích của người ngoài hành tinh để lại giữa núi rừng. Rồi vượt đèo Gà để bánh xe hết chao nghiêng bên này lại chao sang bên kia. Tôi dướn mắt nhìn xuống dòng sông Gâm sâu hun hút, nước đục ngầu mang cơn lũ cuối mùa giận giữ. Vẫn đi, đi trong cái vắng vẻ, âm u đến rờn rợn người của buổi cuối chiều, nghe tiếng chim "xúc tép kho cà" đang tìm về tổ và cũng nghe tiếng chim từ quy bắt đầu dạo khúc yêu để có một đêm chờ đợi. Mất gần mười hai tiếng đồng hồ, cho tôi và Lâm cùng con Zizeet vượt qua Cầu Bồ, Cầu Cả để được chiêm nghiệm về một chiến thắng đến oai hùng trên núi rừng Việt Bắc. Nơi đầu Cầu Cả, xã Hòa Phú ngày ấy còn nghèo, nghèo lắm, bên đường không một bóng nhà, không một bóng người. Rồi vượt đèo Gà để sang Phúc Thịnh, đất núi bạt ngàn chỉ dành cho lau lách. Ngồi bên đường, nhìn con Zizeet, qua đoạn đường gằn gằn số một, cháy đỏ cổ ống xả để nhìn lên đèo Cổ Yểng mà toát mồ hôi. Lâm lấy chiếc lá ráy rừng hấng nước bên tả li đường mời tôi uống, cứ như mời nhau uống nước chè hay cà phê bây giờ vậy.

Cuối cùng thì huyện Na Hang, Tuyên Quang cũng hiện ra như câu chuyện về "thửa ruộng cuối" hay "mảnh ruộng đuôi" mà Lâm kể. Đêm xuống thật nhanh như ai đó cầm chiếc khăn đen che vào mặt, để kẻ dắt, người đẩy chiếc xe nặng gần ba tạ, vượt mấy chục cây số trên con đường nhỏ như sải tay, được đục vào sườn đá xanh trơn trượt mà đến Thượng Lâm…

Trước khi rửa chân lên nhà, Lâm cười, một cái cười đến mộc mạc, chân tình: "Quê em đấy!". Để rồi sáng hôm sau, sau một đêm "ngủ say hơn chết", tôi được theo Lâm vào rừng bắn gà rừng, lấy huyết lình trên vách đá cao vút…

Một vùng núi nguyên sơ, Lâm chỉ lên những hang đá nói cho tôi nghe về cõi đá đầy huyền thoại. Nào là hang Khỉ Đột, nào là hang Mẹ Con, hang Treo, hang Thục Nữ, hang Tình Yêu... Cứ thế lần rừng, một ngày được ăn cơm xôi mẹ Lâm bọc trong lá dong và uống nước trong ống nứa, trong dây rừng mà Lâm đẵn mang lại. Nhưng câu chuyện thu hút nhất, huyền hoặc nhất vẫn là "Cửu thập cửu sơn linh", chín chín ngọn núi đã đi vào huyền thoại. Để cho một trăm con đại bàng không thể hạ cách xuống một vùng núi sông đầy đắc địa...

Tiếng Trà My, cô gái hướng dẫn viên du lịch cất lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi: "… Nơi mà chúng ta đang đứng là dòng thác Pác Ban xưa, trước đây thác Pác Ban có ba tầng, còn gọi là thác Mơ. Theo truyền thuyết kể lại rằng: “ Trước kia, cái thời xa sôi lắm rồi, có đôi vợ chồng nàng Mơ sinh sống dưới chân núi Pác Ban với nghề bốc thuốc cứu người. Ngày ngày người chồng lên núi hái thuốc, người vợ ở nhà chăm sóc người bệnh. Một hôm người chồng đi mãi mà không thấy trở về. Nàng Mơ ở nhà mòn mỏi chờ đợi chồng. Hôm sau, rồi nhiều hôm sau nữa, nàng quyết lên núi tìm chồng. Nàng đi mãi, đi mãi, trèo qua bao núi cao, lội qua bao suối sâu. Khi Nàng gần lên tới đỉnh núi thì trời bắt đầu tối và nàng Mơ phải nghỉ lại dưới gốc cây rừng chờ trời sáng. Sáng hôm sau khi tỉnh dậy thì nàng Mơ lại thấy đỉnh núi Pác Ban xa vời vợi.

Hôm ấy, nàng Mơ vẫn quyết định băng rừng vừa đi vừa gọi chồng và tối ấy nàng Mơ vẫn đi tiếp, quyết không nghỉ lại sợ núi Pác Ban lại lùi xa ra như đêm trước. Trong đêm tối mịt mùng nàng Mơ đã bị lạc trong rừng sâu và từ đó hai vợ chồng người làm thuốc nam không về nữa. Cũng từ đấy người dân trong vùng thấy từ đỉnh Pác Ban tung ra một dòng thác trắng xoá, cao ba tầng. Thương nhớ và biết ơn vợ chồng nàng Mơ, người dân trong vùng đã gọi dòng thác là thác Mơ từ đấy...”.

Sáng nay, bắt đầu từ thành phố Tuyên Quang, theo đường quốc lộ Hai, xe chúng tôi lên ki lô mét Ba mốt, trong đầu tôi luôn lẩm nhẩm cái câu: "Đi giữa cái mới để tìm lại dáng xưa...". Khi rẽ vào Cầu Bợ, một cây cầu cứng vắt mình qua sông Lô thay thế bến phà mòn vào dòng nước, mòn vào vách đá năm xưa, tôi đã cố hình dung để may chăng tìm lại một chút gì đó ở dấu xưa chăng?

Vẫn hình hài con đường ngày xưa ấy, chỉ có khác con đường hôm nay với mặt nhựa áp phan phẳng lỳ, rộng thênh thang, nhẵn bóng dưới ánh nắng le lói buổi sáng cuối mùa thu mà chuẩn bị đón đông sang. Vẫn Cầu Bồ, vẫn xã Hòa Phú, Tiên Uyên, Phúc Thịnh... mà sao choáng ngợp dưới phố ngắn, phố dài, nhà cao, nhà thấp, phấp phới cờ hồng. Mấy em nhỏ mặc váy hoa nhiều tầng đang nhảy nụ, nhảy xòe trên chiếc sân bê tông ven phố cạch đường, mang tuổi thơ tôi trở lại. Chẳng bù cho ngày tôi qua đây ba mươi năm trước, rừng vắng tiếng cười đùa, chỉ có tiếng lốc cốc mõ trâu treo vào bóng lau, bóng sậy và bụi đất lưng trời. Vẫn đèo Gà, vẫn thị trấn Vĩnh Lộc mà bây giờ gỗ ván ép vườn rừng phơi đầy phố, phơi tràn lên chân rừng, phơi tràn xuống nương ngô. Màu hoa vụ đông của nương, của ruộng tràn bờ, tràn núi, nào hoa ngô giống mới "Tám tám tám" vàng óng ả, rồi hoa ngô vàng bản địa tím sẫm vào chân xóm bên rừng. Những ruộng bắp cải đón sương đêm, đón mưa rừng, xòe nụ lá xanh non ra mà đón ánh nắng trời, đón gió ban mai thoang thoảng.

Xe cứ chạy, để tôi thu vào mắt một cảm nhận, một chiêm nghiệm, một khoảng cách thời gian. Cái ngày Lâm mời tôi uống nước của núi, của rừng trong lá ráy còn lưu lại đâu đây. Cuối thị trấn Vĩnh Lộc lên Na Hang, xe dừng lại trước ngôi nhà gỗ bé nhỏ nhưng tinh khôi của anh Trần Văn Quang và chị Nguyễn Thị Dung bên đường. Chưa giàu có, chưa đề huề như những nhà khác, nhưng cái nghề đổ bên tông cống nước của anh, nghề làm đậu phụ chăn nuôi của chị, đủ cho ta thấy một mô hình kinh tế hộ bền chặt gắn vào rừng vào núi. Chị Dung cười bảo tôi: "Mỗi hôm em làm dăm ba cân đậu phụ, bán đậu cũng chẳng được lờ lãi là bao, nhưng bù lại ở cái bã đậu dành cho chăn nuôi anh ạ. Một công đôi việc mà anh... Rồi anh nhà em đổ cống bê tông, bán cho công trường, bán cho những gia đình cần đến. Việc nặng nhọc nhưng cũng làm việc tại nhà và cũng lấy công làm lãi...".

Đi dưới chân núi Thần, đi trong thị trấn Chiêm Hóa, thị trấn Vĩnh Lộc tôi nhớ nhà văn Lan Khai với tác phẩm Đường Rừng thiêu cháy lòng người đọc. Chẳng biết ngày xưa ông sống ra sao giữa một thị trấn đèn dầu, bếp củi nơi mênh mông rừng và núi. Ẩn dật giữa một vùng đất, vùng người chìm vào tiếng gào thét của dòng Gâm để hình thành lên một ngòi bút tài hoa như nhuộm vào nhân thế một sắc văn vùng sơn cước. Cứ thế, văn ông ngấm dần, để hôm tôi gặp nhà văn Hà Khánh Linh quê ở cô đô Huế, chị bảo: "Tôi đọc Lan Khai từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi coi ông như một thần tượng của mình. Bút pháp của ông đã hình thành lên một nét văn chương trong tôi ngay từ thuở mới ngập ngừng đặt nét bút văn chương đầu tiên. Dù có thế nào đi nữa, ngày ấy đối với tôi, ông vẫn là người làm nên những điều không tưởng...".

Thế rồi xe vượt đèo Cổ Yểng, một cái "cổ xưa" mà "mới tinh", một cái cổ mà dài hơn hai mươi cây số để đến với Na Hang. Con đường trên đèo cứ uốn lượn, quấn chặt lấy mặt nước hồ trong xanh của thủy điện Chiêm Hóa. Nhà thơ Mai Liễu cười cười, vẻ mặt đầy xúc cảm: "Con đường vượt đèo này đã biết bao thanh niên xung phong phồng tay cuốc, bẹt tay mai, chảy máu sà beng, để có được hôm nay chúng mình tìm về nơi trời được thả sâu vào đáy nước...". Con đường vắt lên đèo Cổ Yểng đã nối Na Hang với bên ngoài, thả ánh sáng cách mạng vào vùng rừng còn nhiều huyền bí.

Khi bước vào thăm nhà máy thủy điện Tuyên Quang tôi không khỏi ngỡ ngàng trước công trình được chặn dòng, ngăn lũ trên con sông có độ dốc và lượng nước hung dữ vào bậc nhất vùng Đông Bắc. Ba tổ máy với ba trăm bốn mươi hai mê ga oát, để đứng vào hàng thứ ba của những nhà máy thủy điện ở miền Bắc, chỉ sau thủy điện Sơn La và Thủy điện Hòa Bình ngự trị sông Đà.

Tiếng cô dẫn hướng viên lại vang lên: "Chỗ chúng ta đang đứng, cách đây mười một năm là thuộc xã Vĩnh Yên, huyện Na Hang, hàng nghìn hộ dân cả trong lòng hồ, cả trên nền đất cũ của nhiều dân tộc, đã nhường nơi chôn rau, cắt rốn của mình cho nền công nghiệp sạch ra đời. Nhà máy được khởi công xây dựng năm hai nghìn không trăm linh hai và bắt đầu vận hành tháng mười hai, năm hai nghìn không trăm linh tám. Với lưu vực mười bốn nghìn chín trăm bảy hai ki lô mét vuông, dung tích hai phẩy hai sáu tỷ mét khối nước... Độ sâu nước trung bình là một trăm hai mươi mét, điện năng hàng năm là một nghìn ba trăm hai chín phảy lăm lăm ki lô oát giờ... Hơn mười năm qua, dòng điện từ lưu lượng nước sông Gâm đã hòa vào dòng năng lượng quốc gia, làm lên những ước mơ, thổi hồn vào công nghiệp...".

Anh Sơn, Lê Thanh Sơn, hiện đang là Trưởng ban quản lý các danh thắng và du lịch tỉnh Tuyên Quang quay lại nhìn tôi: "Hạnh phúc và đẹp lắm anh ạ, anh đừng cho là "mẹ hát con khen hay" nhé. Nhưng em cho là hạnh phúc thật, mười năm qua, người dân thành phố Tuyên Quang không còn phải hỏi nhau những câu mà trước đây mỗi mùa mưa đã trở thành quen thuộc: "Nước lũ dâng đến đâu rồi, đã ngập Số Lăm chưa, nước lên tới Trạm Than, tới Bến Cẩu chửa? Hỏi thế để họ còn kịp hạ thuyền, thả mảng...".

Chỉ riêng chuyện thành phố Tuyên Quang, vùng hạ lưu hết lụt, hết chuyển nhà, chuyển cửa cũng hạnh phúc lắm rồi. Anh không biết đấy thôi, mỗi mùa mưa về, nhìn dòng Lô gồng lên sau một đêm mưa, là người dân trong thành phố chuẩn bị kéo tủ, kéo bàn ghế, tháo giường mang lên gác. Rồi bà con Tràng Đà, bên kia sông, đánh trâu bò, đuổi lợn gà, ngan ngỗng lên chân núi Dùm, những ruộng ngô, ruộng bí chìm trong biển nước bao la... Mới thấy sự thành công của một công trình, hai ba mục tiêu, hai ba thắng lợi...".

Còn anh Chuyền, Phó chủ tịch huyện Nà Hang cười ngất ngứ: "Tôi là người gắn chặt đời mình với vùng đất thẳm sâu bên dòng Gâm cuồn cuộn này để hôm nay được hưởng một mặt hồ láng gương đầy thơ mộng. Được chứng kiến những nhát cuốc đầu tiên, được nhìn một nhà máy thủy điện vẫn bằng dòng nước hung dữ năm xưa mà hiền hòa hôm nay đang đưa điện năng đến mọi vùng, góp phần vào nền tảng công nghiệp...".

Anh cũng bảo, bắt đầu tôi là giáo viên, một giáo viên cắm bản, mang cái chữ Bác Hồ vào vùng sâu vùng xa này, tất nhiên là hướng tới tương lai nhưng cũng biết đâu nó nhanh đến thế. Cơ chế thị trường mở ra, mô hình đa sản xuất, đa thu nhập, mở toang cánh cửa của cái thời bao cấp, đón một luồng gió mới. Nhưng trị thủy sông Gâm, sông Lô thì chẳng dám nghĩ tới, để rồi có những buổi chiều, những đêm khuya, chập chờn mơ ngủ tôi còn nhìn thấy cả những đoàn xe hăm hở, chở lặc lè đá đất cho ngăn sông đợt một, đợt hai... mơ thấy ngày đóng cống dẫn dòng năm hai nghìn không trăm linh sáu...

Lúc trước ngồi trên chiếc ca nô cao tốc với mặt hồ mênh mang, ngước mắt nhìn sang núi Pác Tạ, một bầu rượu thiên nhiên, một trái quít chum mọng nước, mọng tình. Ai bảo sao thì bảo, còn tôi nhìn Pác Tạ giống như bầu sữa trên ngực người mẹ nơi lòng đất, rồi lại giống như sức vươn của núi, của rừng, sức hút của trời mà thả ngọt ngào vào bồng bềnh nước, bồng bềnh mây trắng. Dưới chân núi là Đền Thiếp, một ngôi đền thờ thiếp của vị tướng Trần Nhật Duật, một vị tướng nhà Trần, nằm trong kế hoạch mở rộng vương quốc, mở rộng đất đai, với tay cai trị, thu trăm họ, ngàn vùng đất về một mối non sông của nhà Lý, nhà Trần...

Ngôi đền như một minh chứng cho thời kỳ lịch sử đầy hào hùng dân tộc, một thời được coi là bình minh đất nước. Lại nhớ câu thơ: "Cái thuở mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long...". Ngôi đền trước đây nằm trên bờ sông Gâm, qua năm tháng nắng mưa, qua thăng trầm của thời gian đã chìm vào rừng xanh núi đỏ. Rồi thời đổi mới nền kinh tế đất nước mở ra, cũng gắn liền với công tác gìn giữ bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc. Ngôi Đền Thiếp được chỉnh trang như lòng dân, như hồn cốt một vùng quê, hồn cốt dòng Gâm chảy qua miền lâm sơn kỳ vĩ...

Theo người dân kể lại, sau một đêm gió mưa, giông bão, như có phép màu, mái ngôi đền bay sang chân núi Pác Tạ mà vẫn còn nguyên vẹn. Thế là ngôi đền được đồng bào nơi đây chung tay chuyển sang nơi mà mái đền bay tới. Rồi cũng dâng theo dòng nước, mặt hồ mênh mang, ngôi đền lại chuyển chỗ ngồi, để hôm nay trên cao độ Một trăm bốn mươi mét, ngôi Đền Thiếp của tướng nhà Trần ngả bóng soi mình vào màu xanh long lanh, như tan vào huyền thoại.

Đứng trên mặt đập, nhìn dòng nước vươn dài về hạ lưu, đưa những vòng quay điện năng, thổi hồn vào quê núi, quê sông, quê đồng, quê ruộng với nghìn năm đất nước. Không thể không tự hào, không rung cảm trước những đổi thay choáng ngợp của một vùng đất, vùng nước trên thượng đỉnh non xanh. Nhìn những chú thiên nga đạp chân của Công ty Du lịch vùng hồ thư thái thả trong chiều, nhìn những anh công nhân vào ca hồ hởi. Tiếng yếu, một điệu dân ca Tày đâu đó vút lên, tiếng cười đâu đó lan vào nước, ngấm vào tôi, ngấm vào người đi ở... Ánh điện lung linh che khuất ánh sáng sao trời, thả xuống mặt hồ như ánh đèn tỏa vào trang sách em thơ mở rộng.  

Nói là đi tìm lại dấu xưa, nhưng gần như những hình ảnh cái buổi chiều cách đây hơn ba mươi năm của tôi và Lâm chẳng còn xót lại một chút gì, dù chỉ là nhỏ nhất. May chăng chỉ còn lại những khu rừng nguyên sinh tầng tán trong khu bảo tồn Na Hang, để những lời thuyết minh diệu nghệ của Trà My lại cất lên đâu đó: "Khu bảo tồn thiên có diện tích gần bốn mươi hai nghìn héc ta, trong đó vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt chiếm gần hai mươi tám nghìn héc ta, khu phục hồi sinh thái gần mười ba ngàn héc ta… Đặc biệt là khu Tát Kẻ và khu Bản Bung nhằm bảo vệ các quần thể của loài Voọc đen má trắng và phần mở rộng về phía đông nam là để bảo vệ loài Voọc mũi hếch.

Chia tay Nà Hang, chia tay mặt hồ mênh mang nước, dòng điện đang bừng lên phía bên kia đèo Cổ Yểng. Anh Sơn nắm chặt tay tôi: "Anh nhớ quay lại đây nhá, nhớ đấy, Na Hang là thửa ruộng cuối mà, có đầu, phải có cuối chứ anh…". Tôi nhớ, rất nhớ, nhớ một "thửa ruộng cuối" trên vùng núi rừng không bao giờ là cuối. Nơi có cột đá chống trời, có Khau Vài Phạ giữa "Cửu thập cửu sơn linh", chín chín ngọn núi đang chờ đợi cánh đại bàng một ngày hạ cánh./.

Nguồn: Diễn đàn Văn nghệ Việt Nam

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}