Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Viết để tự mừng sinh nhật đặc biệt sắp tới với riêng tôi, 25 tháng 8 năm 2015

Thứ Hai, 10/08/2015 04:57 GMT +7
Nguyễn Khắc Phục

Và cuối cùng, sau gần 50 năm cầm bút, tôi dành thời gian còn lại của mình viết cuốn Hỗn Độn mà đúng ra, có thể coi như một lời thú nhận sự bất lực, rằng dù đã kẽo kẹt suốt đời như vậy, tôi vẫn chưa dám nghĩ rằng mình đã nói được điều gì đó đáng kể về cuộc đời này. Điều an ủi duy nhất tôi tự dành cho mình là dù sao tôi cũng đã hiến dâng trọn vẹn tinh huyết, sức lực và khát vọng cho NGÔI ĐỀN CUỘC SỐNG với tư cách một người cầm bút!
 
Từ giữa những năm 1966, tôi khi ấy là chàng thuỷ thủ trẻ tuổi, phục vụ trong đội tàu Giải Phóng-Công ty Vận tải biển Hải Phòng (Công ty 103), tập tọng viết truyện ngắn, làm thơ, trường ca, sáng tác kịch bản phim truyện…
 
Cũng may, từ cuối hồi mùa hè 1967, tôi bắt đầu được in bài thơ “Trên năm cửa song” trên báo Văn Nghệ, rồi trường ca “Con mắt bão” và lần lượt những truyện ngắn Tiếng nói của biển, Ngã ba Vô Tình, Hoa cúc biển, Đêm phòng thủ, Lão Tư Ô, Cỏ may trắng… in tải trên tạp chí Văn nghệ Quân đội và báo Văn nghệ. Để rồi mùa xuân 1971, tôi hăm hở cùng các học viên khoá 4, lớp viết trẻ của Hội nhà văn Việt Nam, lên đường. Tôi đâu có hay, “trường kiếp nạn” của mình đã khởi sự như thế!
 
Tại chiến trường Khu 5, tôi như cá gặp nước, “bơi lội lặn ngụp” ở các mặt trận ác liệt, gian khổ, từ đồng bằng Quảng Nam-Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định…, đến núi rừng Tây Nguyên và đi dọc sông Ba hùng vĩ. Trong nhật kí chiến trường của mình, tôi say sưa ghi lại đều đặn và chi tiết, tất cả những gì tôi đã chứng kiến và cảm nhận được trên những nẻo đường chiến tranh, từ những ngôi làng xứ Quảng dưới chân Hòn Tàu, những thôn xóm vốn thanh bình, thơ mộng nép dưới rừng dừa Tam Quan-Bồng Sơn, nay bị bom đạn tàn phá khủng khiếp, trơ trụi, đến đèo An Khê, đường 19, nơi những cuộc đọ súng giữa quân Giải Phóng và binh lính Sài Gòn diễn ra gần như hàng ngày, dữ dội và đầy chết chóc, tang thương…
 

Lại một ngày khăn gói quả mướp vào quân y 103, tiếp tục cuộc trường chinh chống những tế bào nhỏ đang trong giai đoạn tràn lan... Đây gần như là cuộc kháng cự cuối cùng, cực kỳ quyết liệt (chuyện sinh tử mà) nhưng lại vô cùng tự tin và đầy cảm hứng khi biết mình ở giữa tình thương yêu, đùm bọc của người thân, anh em ruột thịt, bạn bè xa gần...
Trong cuốn nhật kí ấy, có những trang được đánh dấu đặc biệt, ghi nhận diễn biến của những chiến dịch mà tôi may mắn có mặt, từ chiến dịch giải phóng Bồng Sơn-Phù Mỹ 1972, đánh giao thông trên đường 19, phá bỏ hệ thống khu dồn và ấp chiến lược tại phía tây Duy Xuyên, đến cuộc tấn công, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, mở màn cho Đại Thắng mùa xuân 1975…
 
Từ những chuyến đi thâm nhập thực tế chiến trường, tôi thu thập được những chất liệu phong phú và sống động, nhưng quan trọng hơn, chúng giúp tôi cảm nhận được một cách sâu sắc, chân xác, cái hiện thực dữ dội, hùng vỹ và diện mạo lớn lao của cuộc chiến tranh Giải Phóng (mà sau này, tôi từng gọi đó là “Thời Gian Thần Thánh”)… Hết thảy những điều đó, thôi thúc tôi sáng tác trường ca Xamăc-Kơcham (Ăn cốm giữa sân), kịch nói Vườn thầy Năm ( Nhà xuất bản Giải Phóng ấn hành năm 1972-1973), chưa kể một loạt thơ, truyện ngắn… Nhưng đáng kể hơn cả, từ khói lửa của cuộc sống chiến trường, tôi đã bắt tay vào việc phác thảo bộ tiểu thuyết sử thi tương lai của mình Bay qua cõi chết!
 
Để rồi, gần 8 năm sau, sau tất cả những trải nghiệm và day trở, với vụ bỏ dở chuyến du học ở Đại học điện ảnh Maxcơva (BGIK), tôi tiếp tục “trường kiếp nạn’ của mình với những chuyến đi, hết Tây Nguyên, công trường xây dựng Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, chiến trường Cămpuchia, vùng châu thổ Cửu Long, đến miền rừng núi Thồ Lồ-Ma Dú (tây Phú Yên) hoặc Khánh Sơn-Khánh Vĩnh (tây Khánh Hoà)…
 
Và cuối cùng, tôi quay lại với mảnh đất Quảng Nam-Đà Nẵng, “quê hương thứ hai” của mình, với những Giáng La, Xuyên Hoà, Xuyên Trường, Bến Hục-Giảng Hoà, dốc Lò Rèn, Hội An, Cẩm Nam… Và tại đó, bộ tiểu thuyết Bay qua cõi chết chào đời, với hai tập đầu Học phí trả bằng máu, Thành phố đứng đầu gió, khởi sự quá trình sáng tác tiểu thuyết của tôi.
 
Mọi chuyện không hề diễn ra suôn sẻ sau đó. Bất chấp những thử thách cam go, cả những nỗi đắng cay, vấp váp, bằm giặp, tôi ôm cái bụng thường xuyên bị chứng chảy máu dạ dầy hành hạ, tiếp tục sống cuộc đời bất định, kham khổ của một kẻ lữ hành đơn độc và bị một nỗi ám ảnh nào đó săn đuổi, nghiến răng viết những cuốn tiểu thuyết Cuối xuân, Khát vọng, Giọt nước mắt cuối cùng, Châu thổ, Thăng Long ký, Chuyến bay đến Toà áo đỏ, Ngôi đền, Dưới bóng ngô đồng… Và cuối cùng là HỖN ĐỘN!
 
Và cuối cùng, sau gần 50 năm cầm bút, tôi dành thời gian còn lại của mình viết cuốn Hỗn Độn mà đúng ra, có thể coi như một lời thú nhận sự bất lực, rằng dù đã kẽo kẹt suốt đời như vậy, tôi vẫn chưa dám nghĩ rằng mình đã nói được điều gì đó đáng kể về cuộc đời này. Điều an ủi duy nhất tôi tự dành cho mình là dù sao tôi cũng đã hiến dâng trọn vẹn cho NGÔI ĐỀN CUỘC SỐNG với tư cách một người cầm bút!
 
Tôi tập hợp những cuốn tiểu thuyết của mình, in thành một bộ với tên chung NKP GỬI LAI, không ngoài mục đích, giới thiệu một cách hệ thống, những sáng tác quan trọng nhất của tôi, tạo điều kiện thuận lợi cho độc giả tiếp cận và cảm nhận, những gì nhà văn muốn kí thác, gửi gắm qua sáng tác của mình.
 
Quý độc giả đã hoặc sẽ, đọc tiểu thuyết của tôi, đã hoặc sẽ, tự mình nhận ra “bản thông điệp” của riêng NKP, giữa những “thông điệp” của các nhà văn khác.

 
 
Về tiểu thuyết, tôi trộm nghĩ:
 
“ Nghĩ cho cùng, văn chương, mà ráo riết nhất là tiểu thuyết, chỉ chăm bẵm vào việc mô tả, đào bới các khía cạnh của kiếp người. Vâng, cái kiếp người với tất cả những thăng trầm, biến cải trong ái, ố, hỉ, nộ… - Chính là cốt liệu quan trọng nhất, làm nên tác phẩm, chất men gây hứng khởi cho văn sĩ (và cả buồn vui, bi phẫn cùng hi vọng). Đó cũng là điểm quy chiếu để ta xem nhà văn nhìn đời, nhìn người, nhìn thế sự xoay vần ra sao, yêu cái gì, ghét cái gì, muốn cái gì phải chết, phải bị diệt vong, cái gì phải được tôn vinh, tồn tại, phát triển và thăng hoa… Tóm lại, dù “tiểu thuyết là cỗ máy tri giác thực tại” như nhà văn nước Pháp, A-ra-gông quan niệm, hay “tiểu thuyết là một tấm gương đặt trên một cỗ xe, được kéo lê trên đường cái, phản chiếu trung thành mọi cảnh sinh hoạt của đời sống” như văn sĩ Hoa Kì Phốc-nơ hình dung, hay tiểu thuyết là cái gì gì đi nữa, số kiếp con người vẫn cứ là lí do đầu tiên và mục đích cuối cùng, khiến các nhà văn cầm bút và hăm hở hướng tới. Vậy là, nhà văn thành con tằm, ăn lá dâu của đời sống mà nhả ra tơ văn chương, với bao canh cánh trước những cảnh ngộ éo le, bi thiết, niềm vui sống, tình yêu, lòng căm hận, bài ca bất tận của lao động sáng tạo, tinh thần hướng thiện, lòng sùng bái Mẹ Thiên Nhiên vĩ đại và cuộc vận lộn mưu sinh, những xô xát, tranh chấp giữa tốt-xấu, hay-dở, đúng-sai…, dệt nên “Thế giới ảo” mang dấu ấn cá nhân, khu biệt của mình!
 
Trên trang giấy, từ những mảnh vụn tưởng chừng rời rạc, ngẫu nhiên của hiện thực, nhà văn tạo dựng ra một cảnh giới mà xét trên phương diện nào đó, theo một tỷ lệ và kích thước thu nhỏ nào đó, gần gũi với công việc của đấng Tạo Hoá.
 
Cái cảnh giới ấy vừa bắt rễ, nảy mầm từ nhân gian, vừa vươn cành lá sum suê đón nhận ánh sáng mặt trời, tổng hợp nên “diệp lục tố “ - cái chất huyền diệu biến sự bịa đặt - hư cấu thành tác phẩm văn chương, thật hơn cả cái thật xuất phát điểm của nó…”
 
Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}