Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Bảy, 16/11/2019 05:34

Văn nghệ sỹ:

 

Vũ Bình Lục - Người cần mẫn tôn vinh văn chương cổ

Lê Hoài Nam | Thứ Tư, 09/10/2013 12:18 GMT +7
JPEG - 20 kb
Nhà thơ Vũ Bình Lục

Mấy ai biết nhà thơ, nhà nghiên cứu, phê bình văn học Vũ Bình Lục từng là dũng sĩ diệt Mĩ cấp ưu tú, được tặng thưởng huân chương chiến công giải phóng, khi ông vừa tròn hai mươi tuổi, tham gia trận đánh đầu tiên, tập kích căn cứ Mĩ ở chiến trường Khu 5 sau tết Mậu Thân 1968. Mấy ai đã biết ông từng là sĩ quan tham mưu của tiểu đoàn đặc công 409 anh hùng, khi ông mới có hai năm trong quân ngũ. Là thương binh, mảnh đạn còn găm trên đầu, ông lại tiếp tục cống hiến cho đời ở một lĩnh vực khác không kém phần cao quý, sự nghiệp trồng người…

Rời cương vị lãnh đạo và quản lý một trường THPT nổi tiếng nhất nhì ở Tây Nguyên, cầm giấy nghỉ hưu rồi dắt díu gia đình hồi hương về Bắc, chọn thủ đô Hà Nội làm nơi định cư, Vũ Bình Lục bắt đầu giành hết tâm huyết cho văn chương. Trong khoảng dăm sáu năm, những cuốn sách của ông đã nối tiếp nhau chào đời, cuốn nào cũng dày dặn, dư dả vốn sống, kiến văn thâm hậu. Dường như vốn sống, vốn trải nghiệm của một người lính trong chiến tranh và mấy chục năm lăn lộn với nắng gió Tây Nguyên vừa làm thầy giáo dạy văn, dạy triết, đôi khi cả dạy sử, vừa cần mẫn đọc sách, nghiên cứu văn học, chiêm nghiệm về cõi người, bây giờ nhờ cái khí thiêng của thủ đô văn hiến, Vũ Bình Lục mới có điều kiện tỏa sáng trong mỗi trang văn của ông.

Không kể hàng chục tập thơ, không kể những bút ký văn học thấm đẫm chất thơ đã hoặc sắp công bố, chỉ tính tác phẩm nghiên cứu, tiểu luận, biên dịch và bình giải văn chương, Vũ Bình Lục đã cho xuất bản hàng chục đầu sách, tiêu biểu là bộ Giai phẩm với lời bình mà tập xếp thứ 6 chính là cuốn Hồn Thiền trong thơ Lý – Trần mà hôm nay chúng tôi muốn nói đến. Trong cuốn sách này, chúng tôi cảm nhận ở Vũ Bình Lục qua hai lĩnh vực: Dịch thơ và bình giải thơ.

Chúng ta đều đã biết thơ Lý-Trần là một kho tàng di sản quý giá của văn chương nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung. Trước Vũ Bình Lục cũng đã có nhiều người dịch, và thường dịch trung thành với các thể thơ nguyên tác như tứ tuyệt, thất ngôn bát cú…Vũ Bình Lục dường như muốn để lại một dấu ấn riêng khi ông dịch và chuyển gần như hầu hết các bài thơ được chọn thành thơ lục bát truyền thống, khoảng 160 bài cả thảy. Một công việc khá mạo hiểm. Phải là người có bản lĩnh, thấm sâu hồn cốt thơ Lý-Trần mới dám làm. Và Vũ Bình Lục đã làm được. Hình thức những bài thơ ông dịch đã khác trước, nhưng nó vẫn giữ được cái hồn cốt, linh khí Thiền của dòng thơ mà hơn ba thế kỷ Phật giáo giữ vị trí chính đạo chi phối. Không những thế, những gì còn u ẩn trong thơ của cổ nhân, Vũ Bình Lục đã làm cho nó trở nên sáng rõ hơn, dễ cảm nhận hơn cho phù hợp với thị hiếu của người đọc đang ngày càng ít mặn mà với văn học hôm nay. Dường như ông có dụng ý muốn lay thức cái phần vô cảm, chai lỳ trong họ, lôi kéo và dẫn dụ họ biết cách tiếp cận với cái hay, cái đẹp, cái thâm hậu của dòng mạch văn chương quý giá này. Trong khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo nhỏ, chúng tôi chỉ có thể nêu một vài ví dụ.

Bài Thị đệ tử của Vạn Hạnh Thiền sư: Thân như điện ảnh hữu hoàn vô/Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô/Nhậm vận thịnh suy vô bố ú /Thịnh suy như lộ thảo đầu phô. Vũ Bình Lục dịch thơ: Bảo các đồ đệ: Đời người có có không không/Cỏ xuân tươi tốt, khi đông héo tàn/Sương treo ngọn cỏ mang mang/Vận đời suy thịnh vô vàn, sợ chi!
Như vậy, khi chuyển ngữ, dịch giả vẫn trung thành với ý và tứ thơ, ông chỉ chọn cách dùng từ ngữ Việt và hình thức mới cho phù hợp, đảo câu 3 xuống làm câu kết, nhuận sắc thêm cho hồn thơ thăng hoa, nhằm lay động cảm xúc người đọc, cho dù là thể thơ lục bát dễ làm mà khó hay.

Với phương pháp tuyển chọn, chuyển ngữ và bình giải của Vũ Bình Lục trong Hồn Thiền trong thơ Lý-Trần, người đọc được tiếp nhận nhiều giá trị, song, trong phạm vi một bài viết nhỏ, chúng tôi chỉ xin bàn về một vài giá trị. Chẳng hạn, một giá trị bao trùm cả tập sách là một thông điệp lớn vừa có ý nghĩa xã hội, vừa mang tính nhân bản, đó là đọc thơ mà cảm nhận được linh khí của non sông bờ cõi, sự thịnh suy hưng phế của một vương triều. Đọc thơ triều Lý, ta cảm nhận được cái u tịch thanh tao sương khói, sắc sắc không không của đạo Phật chi phối từ việc nhỏ đến chuyện quốc gia đại sự. Đọc thơ của các tác giả thời Thịnh Trần, âm hưởng Thiền ẩn sâu trong cái vẻ thanh bình của một xứ sở vừa đánh tan giặc ngoại xâm, cùng cái hào sảng thăng hoa của triều đại đang lên. Đây là thơ của hoàng đế Trần Thánh Tông: Bóng dài rủ chốn thềm hoa/Hương sen ngan ngát luồn qua ráng chiều/Sau mưa rừng biếc gấm thêu/Trời xanh vỡ tiếng ve kêu nhói lòng. Với hoàng đế Trần Nhân Tông, tác giả của những câu thơ đã găm vào trí nhớ của bạn đọc muôn đời, đây là bài Ngắm cảnh trời chiều ở Thiên Trường, Vũ Bình Lục dịch: Thôn trước thôn sau mờ khói nhạt/Nắng chiều dường có lại như không/Tiếng tiêu thánh thót trâu về xóm/Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. Đúng là cảnh thái bình thịnh trị, vua tôi một lòng, giang sơn thu về một mối mới có cảnh đồng quê, thiên nhiên tạo vật quấn quýt nhau đến thế. Khi nhà Trần bắt đầu suy, triều đình vẫn còn đó, vua vẫn ngồi trên ngai vàng, quan to quan nhỏ vẫn mũ mão cân đai đủ mặt, nhưng hiền tài thì thưa vắng dần. Vua Trần Nghệ Tông, người không mấy sáng suốt và rất thiếu bản lĩnh đã để vương triều rơi vào tay Hồ Quý Ly, trong một lần tìm về Côn Sơn, nơi một số trí thức lớn của nhà Trần như Chu Văn An, Trần Nguyên Đán đã cáo quan về trí ẩn, ông vua này đã đề thơ trên nhà thờ quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán, Vũ Bình Lục dịch ra thơ lục bát khá uyển chuyển, sáng tạo: Băng đồng vượt dốc tới đây/Côn Sơn nắng xế về tây, chiều rồi/Sau mưa suối vỗ liên hồi/Gió khua cành trúc lả lơi mái nhà/Nổi chìm việc nước, thôi qua/Ngả nghiêng nghiệp cũ giờ ra phế tàn /Quạnh hiu động vắng vườn hoang/Người xưa chẳng thấy, lòng man mác buồn…

Những người sử dụng Hán Nôm theo kiểu nệ cổ chưa hẳn đã “tâm phục khẩu phục” lối dịch thoáng, trọng tinh thần nội dung tình ý thi ca hơn trọng niêm luật của Vũ Bình Lục, nhưng với những người mới làm quen với thơ Lý- Trần và thơ cổ nói chung, nhất là những bạn đọc trẻ của thời hiện đại hôm nay, thì tôi cho rằng chuyển ngữ theo lối của Vũ Bình Lục sẽ có công hiệu, đắc dụng với họ hơn.

Cũng với quan niệm như dịch thuật, ở phần bình giải, Vũ Bình Lục đã tránh được lối bình mà không ít người mang “bệnh nhà giáo” từng mắc phải. Đó là cái lối thiên về diễn giải mĩ tự, thích trích dẫn các tác giả lớn nhằm khoe kiến thức và làm điểm tựa cho những luận điểm của mình, dài dòng, công thức, đã có a thì phải có ý b, “chẻ sợi tóc làm tư”, suy diễn, đôi khi gán cho tác phẩm cái mà nó không hề có. Vũ Bình Lục thường đọc kỹ tác phẩm, thâu tóm cái gì là tinh túy nhất, bản chất nhất của bài thơ rồi tập trung vào đó mà bình giải, làm sáng rõ, làm lấp lánh cái điều định nói để nó đi thẳng vào trái tim người đọc. Bởi vậy, trong tập sách này, Vũ Bình Lục tuyển chọn, ngoài các tác giả như tôi đã nhắc đến, còn thấy hầu hết những gương mặt sáng giá của hai triều đại Ly-Trần kéo dài khoảng bốn trăm năm lịch sử vẻ vang của dân tộc Đại việt. Tác giả nào cũng được giới thiệu, mỗi bài bình giải đều không nhiều lời mà có khả năng khái quát, thâu tóm, gọi ra được đúng cái thần thái, bút pháp của tác giả ấy, tác phẩm ấy. Có thể nói, Vũ Bình Lục dường như đã tạo dựng cho mình một giọng điệu riêng trong bình giải văn chương, hàn lâm đấy, nhưng lại không hề thấy mùi vị kinh viện. Khác người là ở chỗ ấy. Và tài năng cũng là ở chỗ ấy!

Hà nội, ngày 1 tháng 7 năm 2013.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}