Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Y Phương với hành trình tìm kiếm từ “Chín tháng” đến “Đò trăng”

TS. Lê Thị Bích Hồng | Thứ Tư, 11/11/2015 01:49 GMT +7
Với ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp, hơn 30 năm qua, Hứa Vĩnh Sước – Y Phương lặng lẽ thử nghiệm, không ngừng lao động sáng tạo, miệt mài làm “phu chữ” để ngoài một tập kịch, bảy tập thơ, ba tập tản văn, anh đã bổ sung vào văn nghiệp của mình hai trường ca đầy ấn tượng, đó là “Chín tháng” (1998) và “Đò trăng” (2009).
 

1- Thử sức với trường ca

Với ý thức đi tìm cái mới, cái đẹp, hơn 30 năm qua, Hứa Vĩnh Sước – Y Phương lặng lẽ thử nghiệm, không ngừng lao động sáng tạo, miệt mài làm “phu chữ” để ngoài một tập kịch, bảy tập thơ, ba tập tản văn, anh đã bổ sung vào văn nghiệp của mình hai trường ca đầy ấn tượng, đó là “Chín tháng” (1998) và “Đò trăng” (2009).

Y Phương là nhà thơ, ưa viết ngắn. Thơ anh vốn kiệm chữ, súc tích, chắt lọc như một đồng môn Trường Viết văn Nguyễn Du đã nhận xét “Y Phương là nhà thơ viết ngắn nhất, nhưng hay, ít tãi chữ”. Anh có nhiều bài thơ hai câu cực ngắn. Bài thơ “Tựa” chỉ vỏn vẹn 17 từ (âm tiết): “Người đàn ông tựa lưng vào người đàn bà-Người đàn bà tựa lưng vào biển cả” (Vũ khúc Tày). Nhưng đến trường ca, dung lượng ngôn từ đã mở rộng “vượt kỷ lục” với 4.464 từ trong “Chín tháng” và 18.870 từ trong “Đò trăng”.

Vẫn cách nói thủng thẳng, anh nhẩn nha, chậm rãi giải thích “Tôi là người ưa khám phá, ít chịu đi mãi một lối mòn. Từ bé, cha thường hay dạy tôi câu ngạn ngữ của cổ nhân Tày: Chỗ nào còn nước thì làm ruộng, hết nước thì làm rẫy. Khắc nhớ lời cha, tôi luôn có ý thức mày mò, cố tìm cho mình một hướng đi mới và tất nhiên cũng không ít lần đã từng nếm thất bại ê chề khi quăng mình vào văn xuôi. Lưng tôi đã từng lấm đất, vì mon men dám viết “Mùa lá bấn” - cuốn tiểu thuyết đầu tay của tôi đã chết yểu từ mấy chục năm về trước. Thiết nghĩ, không có lao động sáng tạo nào lại bằng bặn, dễ dàng chỉ có hoa thơm, trái ngọt. Càng khó, tôi lại càng có nhu cầu dấn thân. Tôi thử sức viết trường ca cũng theo tinh thần ấy, nhưng không phải với kẻ học đòi thấy đào khoai cũng vác mai đi đào. Với tôi, khái niệm trường ca không phải là kéo dài chữ nghĩa một cách cơ học. Nếu không trường sức, giàu vốn sống, trải nghiệm, nếu không có sự chuẩn bị kỹ càng, công phu đến ung óc, cả hơi, giàu khí... thì không thể có trường ca. Viết trường ca cực khó. Tôi viết trường ca do nội sinh đòi hỏi khi thơ ngắn chỉ nói được một khúc, một đoạn, trong khi trường ca nói được nhiều đoạn, nhiều khúc. Thơ ngắn dùng để hát một ngày, còn trường ca dùng để hát một đời…".

Thể trường ca

Trường ca là tác phẩm tự sự, hoặc trữ tình có dung lượng lớn, được cấu trúc dạng có cốt truyện, hoặc cốt truyện chưa hoàn chỉnh, nhưng thường phi cốt truyện, nối kết bằng các chương, đoạn theo mạch tư tưởng, cảm xúc thống nhất. Do sự đa dạng nội tại của nguồn mạch cảm xúc và tư tưởng ở từng tác giả mà mỗi trường ca có lối đi riêng. Ra đời từ những năm chiến tranh, nhưng thật sự bung nở, rầm rộ và trở thành thể loại chủ lực ở thập niên 80, 90 của thế kỷ trước và theo “quán tính” đã “lăn” đến hôm nay. Trường ca ra đời như một nhu cầu tổng kết, phản ánh giai đoạn lịch sử đã qua mà thời điểm cuộc chiến đang diễn ra chưa đủ thời gian suy ngẫm đến tận cùng, chưa đủ độ chín để tổng kết. Trường ca có thể có hoặc không có cốt truyện, nhưng hình thức kết cấu thường theo kiểu một dàn hợp xướng nhiều bè, phức điệu, đa giọng, kết cấu nhiều tầng bậc, trùng phức những lớp không gian, thời gian...[1] Cảm hứng của trường ca sử thi luôn là cảm hứng lịch sử, dân tộc, cộng đồng, mà trước hết là cảm hứng về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Càng xa lùi xa cuộc chiến chống xâm lược thì trường ca càng gần với cuộc sống đời thường. Theo đó, những chiến thắng oanh liệt, lừng lẫy, những hình tượng đất nước, dân tộc, nhân dân lớn lao mang tầm vóc sử thi hoành tráng đã phải nhường chỗ cho những góc khuất của con người, những tổn thất, cùng những mất mát, hy sinh mà cả dân tộc phải đánh đổi bao máu xương mới có được nền độc lập tự do. Đề tài trường ca vì thế được mở rộng từ chiến tranh sang hoà bình, từ chuyện anh hùng đến cuộc sống đời thường, từ vận mệnh của dân tộc đến số phận của mỗi cá nhân, từ tráng ca lẫm liệt hào quang đến tổn thất đau thương do chiến tranh để lại... Âm hưởng hùng ca vì thế đã nhường chỗ cho hợp âm bi ca, bi tráng mà trường ca trước 1975 ít thấy. Vì thế, “trường ca sử thi nguyên chất, nguyên khối” trước 1975 của Nguyễn Đình Thi, Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm... đã giảm bớt, vơi nhạt dần chất sử thi để nhường cho chất phi sử thi với một loạt trường ca xuất hiện sau 1975 của những nhà thơ mặc áo lính, như: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Mạnh Hảo, Y Phương, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Hữu Quý.... Chỉ đến hôm nay, khi có đủ độ lùi thời gian, trường ca mới có điều kiện bộc lộ đến tận cùng những số phận cá nhân, những góc khuất đời tư, những tổn thất, mất mát - điều không dễ có trước đó. Cảm hứng trữ tình chuyển từ sự tự hào, ngợi ca sang suy tư, chiêm nghiệm. Trường ca là một phức hợp nghệ thuật về ngôn ngữ, giọng điệu và cấu trúc tác phẩm[2]. Hình tượng văn học thay đổi từ cách miêu tả còn đơn giản trước đây đến đổi mới cấu trúc bên trong, tạo ra sự phức tạp và đa chiều.

Có thể thấy những dấu hiệu đổi mới này trước hết thuộc về những tác giả trường ca - những nhà thơ - chiến sĩ, lớp nhà thơ đứng ở mũi nhọn cuộc chiến đấu, trực tiếp đối mặt với gian lao thử thách, xáp mặt với kẻ thù và trong số họ đều muốn khẳng định sự nghiệp sáng tạo ở thể loại này. Những nhà thơ từng hòa điệu trong “dàn đồng ca” nhưng trong cảm thức đã bắt đầu hé mở góc nhìn khác khá đa dạng, nhiều chiều về chiến tranh. Có thể thấy Thu Bồn đóng góp “Ba-dan khát” (1977) sau “Bài ca chim chơ rao”; Thanh Thảo cùng “Những người đi tới biển” (1977) đến “Mettro” (2009); Trần Vũ Mai viết “Ở làng Phước Hậu” (1978); Hữu Thỉnh dốc sức cho “Đường tới thành phố” (1979) và tiếp tục “Trường ca biển” (1981-1994); Nguyễn Đức Mậu chiêm nghiệm về sự hy sinh của người lính trong trường ca “Sư đoàn” (1980); Trần Mạnh Hảo viết “Mặt trời trong lòng đất” (1979); Y Phương lặng lẽ đóng góp hai trường ca “Chín tháng” (1998) và “Đò trăng” (2009); Nguyễn Hữu Quý với “Vạn lý Trường Sơn” (2009); “Chiến tranh chín khúc tưởng niệm” của Nguyễn Thái Sơn (2009); Nguyễn Trọng Tạo đến với “Con đường của những vì sao” (1981); Nguyễn Anh Nông với trường ca “Trường Sơn” (2009), “Gửi Bill Gates và trời xanh” (2011)…

Hơn ai hết là người trong cuộc, được “tắm mình” trong hiện thực gian lao, chính họ chứ không phải ai khác luôn canh cánh “món nợ” văn chương với lịch sử, với dân tộc và nhân dân. Nhiều tác giả trường ca đã trở thành người viết sử bằng văn chương. Do nhu cầu nội tại thôi thúc, Y Phương đã góp mặt làm phong phú đội ngũ viết trường ca cùng Thu Bồn, Nguyễn Khoa Điềm, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Nguyễn Anh Nông, Nguyễn Hữu Quý, Lê Anh Dũng…

2- Y Phương trong “hành trình tìm kiếm”

Năm 1998, Y Phương trình làng trường ca đầu tay có tên gọi "Chín tháng". Ghi nhận thể loại mới, chỉ trong năm 2001, trường ca "Chín tháng" đạt “cú đúp” văn chương với giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học, nghệ thuật Việt Nam và cũng giải B của Bộ Quốc phòng. Cùng với “Tiếng hát tháng Giêng”, “Lời chúc”, trường ca “Chín tháng” đã góp phần mang đến cho “Người con trai làng Hiếu Lễ” Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (năm 2007).

So với “Chín tháng”, trường ca “Đò trăng” chưa từng nhận được bất cứ giải thưởng thưởng nào của Hội chuyên ngành, nhưng Y Phương khẳng định: “Đò trăng là đứa con tinh thần tâm huyết nhất mà trong đó tôi đã gửi gắm được một ý tưởng rất lớn với nỗi trăn trở của người viết đã từng mặc áo lính. Tôi viết do nhu cầu nội tại thôi thúc chứ không phải viết với mục đích nhận giải. Dĩ nhiên sự ghi nhận của Hội chuyên ngành là sự động viên lớn đối với người lao động sáng tạo. Với tôi, điều mình viết ra mang thong điệp gửi gắm vào tác phẩm đó mới là Giải thưởng quan trọng. Cả hai trường ca của tôi đã có một quá trình ngẫm ngợi, manh nha từ khi cuộc kháng chiến chống Mỹ chưa kết thúc. Nung nấu, trăn trở mãi đến năm 1999, tôi mới hoàn thành trường ca “Chín tháng”. Trường ca đầu tay này là bước chuẩn bị khá dài hơi để hơn 10 năm sau “Đò trăng” ra đời”. Cũng vì dốc sức cho trường ca này mà “người sinh thành” “Đò trăng” gần như kiệt sức để rồi sau đó rơi vào cảm giác “lỗng loáng, rỗng ruột” như chính tác giả thừa nhận: “Trường ca “Đò trăng” viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước gian khổ và lâu dài của dân tộc ta. Cuốn sách đã hút hết tinh lực vốn đã nghèo kiệt của tôi. Vì dốc sức cho nó khiến tôi tự thấy khả năng sáng tạo thi ca của mình trở nên mỏng dính, ít ỏi. Tôi định “treo bút” một thời gian. Song trách nhiệm người cầm bút lên tiếng. Tôi không cho phép ngừng viết dù bất kỳ lý do nào, dẫu bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả đang mang tâm trạng bải hoải mệt mỏi”. Vẫn phải viết, đó là mệnh lệnh róng riết của một nhà văn lên tiếng. Các tập tản văn “Tháng giêng - tháng giêng một vòng dao quắm”, “Kungfu người Co Xàu” và “Fùn nèn - Củi Tết” ra đời như “chiếu nghỉ giữa khoảng thơ” và mãi cho đến hai năm trở lại đây, tác giả mới “hoàn hồn” khi cảm xúc ùa ập trở lại để viết tập thơ song ngữ “Tủng Tày” (Vũ khúc Tày) sẽ ra mắt vào tháng 12 này do Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên ấn hành.

Cảm hứng của trường ca sử thi luôn là cảm hứng lịch sử. Nguyên tắc lấy lịch sử làm điểm tựa là cần thiết với người viết trường ca. Với ý thức tôn trọng sự kiện lịch sử, một mặt Y Phương thừa kế vốn kinh nghiệm của người đi trước, mặt khác nỗ lực sáng tạo ra lối đi riêng. Để tránh “vết mòn” biến trường ca thành “diễn ca lịch sử”, Y Phương đã xử lý nhuần nhuyễn một cách tài hoa cảm hứng lịch sử “cao vút” với cảm hứng đời thường dung dị. Hai trường ca “Chín tháng” và “Đò trăng” vẫn mang dư âm của chiến tranh, vẫn là “quán tính” trong dòng chảy thơ kháng chiến chống Mỹ suốt 40 năm kể từ ngày “Toàn thắng về ta”. Tự biết cái “tạng” khó “tãi chữ” của mình, với lối tư duy toán học (từng thi học sinh giỏi toán), anh biết chọn chi tiết lịch sử “đắt nhất” cho cả hai trường ca của mình.

Nếu trường ca “Đường đến thành phố” của Hữu Thỉnh như cuốn nhật ký ghi lại cảm xúc và suy nghĩ trên con đường dẫn tới thành phố cũng là con đường đến với ngày 30-4 lịch sử “Toàn thắng về ta”: “Ngày 30 tháng 4 thành tên gọi con đường” thì cũng là nhật ký, Y Phương lấy một chuỗi những sự kiện dồn dập gắn với từng mốc lịch sử:

- “Đêm hai chín tháng Tư-Bầu trời Sài Gòn như chiếc chảo khổng lồ”

- “Mười giờ sáng-Ngày ba mươi tháng Tư-Mật lệnh-Số không ba”

- “Mười giờ sáng-Ngày ba mươi tháng Tư-Bầu trời nổi cơn vần vũ-Bốn phương tám hướng-Chớp rạch xanhh lè”

- “Lúc mười một giờ ba mươi phút-Quân ta trèo lên cắm cờ Dinh Độc Lập-Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố xin hàng”

- “Mười ba giờ ngày ba mươi tháng Tư-Bức điện khẩn…Về ngay tiếp quản Sài Gòn”....

Tinh thần “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng” trong Chiến dịch Hồ Chí Minh đã được anh đưa vào trường ca rất khéo để “Tiến thẳng vào dinh Độc Lập”. Một hình ảnh quen thuộc như một dấu nét lịch sử sau năm 1975 những người lính hoàn thành nhiệm vụ trở ra Bắc, về với quê hương sau cuộc chiến tàn khốc là đã có mặt trong trường ca “Cồng kềnh khung xe đạp-Có tin người về từ mặt trận-Lác đác mũ tai bèo-Ba lô-Lép kẹp-Tòng tèng con búp bê-Cồng kềnh khung xe đạp-Miệng cười trắng lóa” (Chín tháng)…

Thế mạnh của Y Phương không phải là “tãi” sự kiện, mà là sự dồn nén cảm xúc, là sự khái quát hóa, nâng cao vấn đề. Năng lực thơ cô đúc, súc tích đã giúp nhà thơ nâng lên tầm triết luận. Nhà thơ phác thảo diện mạo đất nước, dân tộc từ cái nhìn từ truyền thống lịch sử: “Đất nước-Chưa một ngày yên nghỉ-Ngủ cũng đi và ăn cũng đi-Biển réo đằng kia-Còn trời-Còn đau khổ” (Chín tháng); là hiện thực tàn khốc khi “Đất đai chi chít mắt sàng” (Đò trăng), “Vùng Quảng Trị như trăm nhà xay bột”; “Xác chết khóc-Mắt mở trừng trừng-Mồ hôi vã đầy lưng vạt áo-Giặc lại đến-Chúng đang quần đảo-Bom lại rơi-Xác chết bỗng oằn lên” (Chín tháng)…

Dù thâm nhập đội ngũ viết trường ca muộn hơn, nhưng để tránh biến trường ca thành diễn ca lịch sử và cũng phát huy thế mạnh của mình, Y Phương rất chú ý khai thác các yếu tố văn hoá, nhất là bản sắc văn hóa Tày, hoà trộn chất liệu văn hoá đó tạo ra một điểm tựa kép nâng đỡ tác phẩm. Đó là hai nguồn cảm hứng lớn tạo ra hai âm hưởng chủ đạo: âm hưởng tráng ca lịch sử hào hùng và âm hưởng trữ tình văn hoá dân gian sâu lắng da diết, bổ sung, nâng đỡ nhau làm nên một sắc điệu riêng của anh và của trường ca hôm nay.

Trường ca "Chín tháng" gồm 4.464 từ, kết cấu thành 15 phân khúc từ I đến XV. Chiến tranh, người lính vẫn là cảm hứng chủ đạo, nhưng trong đó người phụ nữ, đặc biệt người mẹ vẫn là hình tượng nổi bật, xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm.

Người phụ nữ là đề tài quen thuộc. Mỗi nhà văn khai thác hình tượng phụ nữ ở những khía cạnh khác nhau. Với Y Phương, người phụ nữ sinh ra thế giới và thái độ của anh là sự trân trọng, tôn vinh. Tình cảm yêu kính, trân trọng với người phụ nữ là một đặc điểm đã trở thành phong cách trong hầu hết sáng tác của anh. Thơ anh khắc chạm số phận rõ nhất, điển hình nhất là người phụ nữ, nhưng tập trung nhất trong hình tượng người mẹ. Nương trên nền văn hóa dân tộc “chín tháng đẻ đau mang nặng” (Đò trăng), Y Phương dành những cảm xúc thiêng liêng nhất ngợi ca phẩm chất người mẹ Việt Nam anh hùng, nhưng vô cùng giản dị. Thông điệp ấy đã được bộc lộ ngay mở đầu trường ca: “Chuyện này tôi kể-Bắt đầu từ mẹ” và kết thúc “Mẹ như trăng sao-Êm êm đi vào miền đời”.

Bằng tư duy thơ bám chặt folklore của dân tộc, Y Phương mô tả hình ảnh người phụ nữ mang âm hưởng chất dân gian của người Tày. Cách so sánh hình tượng người phụ nữ của nhà thơ thật giản dị, gần gũi, tương đồng với cách nói của người Tày. Người phụ nữ, người mẹ là gốc rễ của sự sống:

Nặng nhọc người đàn bà đeo gùi

Nặng nhọc một bầu vú phì nhiêu như đất

Nặng nhọc một bầu vú mọng căng như nước

Đất Nước sinh ra từ ngực người đàn bà

Sau đó sinh ra làng quê xóm mạc

Sinh ra tình yêu

Như một nhà y học thực thụ, Y Phương thấu cảm sâu sắc với tâm sinh lý của người đàn bà mang thai. Niềm hạnh phúc của mẹ chắt chiu lớn lên cùng thời gian “Chín tháng” đã đi vào trường ca thật gần gũi, tự nhiên: Tháng thứ nhất “chưa rõ hình hài”; tháng thứ hai “Trong người thấy nôn nao…nôn ọe”; tháng thứ ba “Ngày nhẹ như trăng-Đêm vàng như nghệ-Mẹ mở mắt ngủ”; tháng thứ tư “Suốt đêm nằm-Tay gác trán-Nằm lâu, mỏi”; tháng thứ năm “Chỉ lo trời xanh vỡ-Chỉ sợ đất cằn lở”; tháng thứ bảy “đứng, ngồi-Một lúc đeo hai người-Mẹ mỏi”; tháng thứ tám “Bụng nặng” nhưng “Hai chân nhẹ”; tháng thứ chín “Mây móc ùa đầy nhà-Oa oa oa-Mẹ mừng vã mồ hôi”. Niềm hạnh phúc vỡ òa “lòng mẹ ròa ròa -Nở ngàn bông hoa” khi đứa con “Rúc đầu vào ngực mẹ-Ngấu nghiến ăn-Nừng nực nuốt-Sương sướng cong vênh”.

Đứa con cứ thế lớn lên trong tình yêu của mẹ “Mẹ xoa lưng con ngủ-Rì rầm đêm lại đêm”. Đứa con lớn lên mở nhìn thế giới trong cảm nhận của mình từ “bốn chân ngung ngoang khắp nhà”, “Thả hai tay đứng lên”, “Đêm đêm còn tè dầm”, “Chạy theo chị phát nương nhổ cỏ”, đòi mẹ “Cất lều rơm cho dế thổi pí lè”, “Lần đầu tôi đi chợ hội lồng tồng”… đến khi trở thành chàng trai cảm nhận thế giới xung quanh. Chàng trai ấy ý thức được sự biến đổi tâm sinh lý, những rung động đầu đời khi lần đầu tiên nhìn thấy “sự lạ” từ các nàng, từ những “trai leo, trai lẻo” khi họ “Thi nhau cấu vai bấm lưng thùm thụp”; “Từng đôi nhàu nhĩ”, “họ nói gì làm cây rung”, “làm quả chín-Quả chín bắt ánh hồng lên má-Làm răng người ta cắn nhầm lên môi”, “Quả gì túng tính đấy mình ơi-Ăn được không- Quả gì nhúm nhím đấy mình ơi-Sờ được không?”…

Người phụ nữ vẫn có mặt trong trường so sánh. Anh định nghĩa đất nước bằng thơ, bằng văn hóa thấm sâu cội nguồn dân tộc, bằng xúc cảm thẩm mỹ tinh tế, đó là Nước Việt như “mười ngón tay búp măng-Đêm Trung thu chị tôi ngồi vò cốm”; là “người bạn học, ôm hoa sim nấp sau lưng hạt dẻ-Thẹn thùng trao chiếc khăn tay-Thêu đôi chim hòa bình-Ngày tiễn tôi phơi phới lên đường"; hay một cách nhìn độc đáo đất nước “Sinh ra từ ngực người đàn bà”, “Đất nước dài trong mắt người thiếu phụ”...

Thơ Y Phương giàu tính hướng nội. Anh tự hào, tin yêu phác họa khái quát chân dung những người con của dân tộc, của quê hương một cách, dung dị:

“Da thịt người da thịt đất đai

Cùng một màu đồng hun lặng lẽ

Cái màu đồng hun từ già chí trẻ

Đất nước ấy, quê hương ấy có những đứa con của “Mẹ hoa, Bố Trời” lớn lên ý thức gánh trên vai trách nhiệm với đất nước. “Người con trai làng Hiếu Lễ” tự họa bức chân dung một cách chân thật – chân thật đến từ cái tên: “Sáng tháng tư năm sáu tám-Mẹ thả ra đồng-Đứa con tên Sước”; là ngoại hình thằng cháu “Trán dô-Mũi thô-Môi dày-Chân đi dép bốn hai vẫn thừa năm ngón”…

Càng xa cuộc chiến, tính chân thực không cần giấu giữ. Chân dung người lính bị cơn sốt rét hoành hành đầy ám ảnh “Trận sốt rét đầu tiên-Chết một triệu hồng cầu-Nhìn cánh rừng như phủ toàn bột nghệ”. Đến trận sốt rét thứ hai “Chết tiếp triệu hồng cầu-Nhìn lá cây nhọn như kim như dao sắp chọc vào sống lưng”. Trận sốt rét thứ ba thì “Người khô đen như quỷ”. Có cái chết đến nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ “Có người nằm cạnh-Sáng sớm mai-Lay mãi -Không thưa”. Nhưng người lính đã vượt lên “Những năm ở chiến trường-Vẫn bình thường như thế” (Chín tháng). Dẫu tính chân thực trong trường ca càng được bộc lộ, nhưng đôi lúc hiện thực trong trường ca của thế hệ nhà thơ chống Mỹ vẫn chưa “thoát khỏi cái bóng”, chưa “cắt được cái đuôi” của tinh thần sử thi. Vẻ đẹp bên ngoài và phẩm chất bên trong khá thống nhất. Đó là người lính căng mình, cắn răng chịu đựng mọi gian khổ, khó khăn không kêu ca: “Nhịn đói không kêu-Nhịn khát không kêu-Thiếu ngủ không kêu-Hành quân bé cả người không kêu”. Nếu chỉ dừng ở chi tiết này, người lính không mấy khác mo típ chung chủ đạo vốn đã chi phối sáng tác của cả một thế hệ nhà thơ chống Mỹ trước đó. Sự tài tình là anh tránh được lối viết “lên gân”, “gồng mình”, vượt trên hoàn cảnh bằng sự huy động vốn văn hóa Tày độc đáo. Người trai Tày khắc phục hoàn cảnh, cắn răng chịu đựng bằng “giải pháp” nghĩ về mẹ, nhớ về quê. Nỗi nhớ rất riêng của người lính khiến người đọc day dứt, xúc động: “Nhớ mẹ quá thì ngồi lên đá-Có lúc khóc không cho ai biết-Trốn ra sông vầy nước-Vẽ lên cát hình thù dãy núi quê hương-Vẽ lên cát mái trường phố huyện-Vẽ lên cát nhà sàn thoáng rộng…Vẽ lên cát con trâu bú mẹ”.

Nếu “Chín tháng” là điểm khởi đầu, là “vạch xuất phát” thì phải đến 10 năm sau, Y Phương dồn sức, “rút ruột, bào gan” để viết trường ca “Đò trăng”. Anh thừa nhận đã “viết như đến sống, viết cho đến chín” và cũng vì nó – “Đò trăng” mà sau hơn 5 năm nhà thơ mới “hoàn hồn” để đằm trong cảm xúc mãnh liệt mới cho tập thơ song ngữ “Vũ khúc Tày”.

Nếu “Chín tháng” kết cấu theo 15 phần từ I đến XV, thì “Đò trăng” gồm có 24 khúc, ngoài “Khúc mở”, “Khúc để ngỏ”, 22 khúc còn lại đều có tên là “Khúc ca” cùng cái tên: “Khêu đèn lên soi tỏ nàng Trăng”, “Hành trình kiếm tìm”,”Gọi lửa”, “Gió thổi ra từ bụng”, “Đừng quên ống đựng tăm”, “Đêm tối đen áp ngày nắng sáng”, “Hồn ngài tổng thống JônXơn hát dzá hai”, “Gió thổi chẳng vướng gì”, “Người tự cứu mình”, “Mẹ tôi ngồi trong màn đếm tóc”, “Tưởng niệm”, “Tiếng chân như lá rụng”, “Gọi hồn người đang sống”, Những mũi tên mềm”, “Hoa mãn khai”, “Chiếc khánh màu bã trầu”, “Gọi những linh hồn lầm lạc”, “Lá cờ cười”, “Nàng trăng rách nát”, “Chiếc lá hình trái tim”, “Ngôi nhà quỷ núi”, “Nụ cười nàng trăng”, “Vầng trăng trên biển khổ”.

Nếu “Chín tháng”, hình tượng người mẹ xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm, thì “Đò trăng” đề cập đến vấn đề rộng lớn hơn: Đất nước, Nhân dân; là số phận của cả dân tộc, trong đó, người mẹ vẫn là hình tượng chủ đạo mang tầm vóc vĩ đại. Cuộc chiến đã quét lên từng số phận con người Việt Nam rất cụ thể, rất toàn diện. Trong “Đò trăng”, Y Phương thỏa sức phát huy công năng khái quát hóa, triết luận. Hình tượng Tổ quốc hiện lên bằng cái nhìn chiêm nghiệm và cảm xúc dồn nén“Cờ Tổ quốc trải ra bao bọc-Giọt máu hồng lại trở về tim”. Tổ quốc chính là Mẹ - Bà mẹ Việt Nam vĩ đại nhất. Với trường liên tưởng độc đáo, từ cái nhìn “Đất nước-Người Mẹ” trong “Chín tháng”, Y Phương tiếp tục phát triển tư duy đó trong “Đò trăng”. Hình tượng Người Mẹ mang hình chữ S (phần đất liền) ôm bọc lấy biển Đông: “Nước Việt đời đời làm mẹ-Đời đời miền Trung mang bầu”. Xa xót bao nhiêu khi trời biển vô tình “Sóng với bão cứ thai nhi mà đổ”. Hình ảnh Tổ quốc - Mẹ Việt Nam luôn thường trực trong tâm thức bằng liên tưởng độc đáo, trân trọng:

“Trước mặt là biển Đông

Sóng trào lên nước mắt

Sau lưng

Dãy Trường Sơn

Là mộ phần của toàn dân tộc"

Trân trọng người phụ nữ là một phẩm chất tạo nên phong cách trong văn nghiệp của Y Phương. Đó là những người mẹ, người bà, người con gái vùng cao, chính họ là nguồn cội tạo nên thế giới. Ngoài việc khai thác hình tượng người phụ nữ ở phẩm chất nhân hậu, thật thà, chất phác, anh viết về “nửa thế giới” này bằng cái nhìn trân trọng, cảm thông sâu sắc. Nỗi đau hậu chiến quét lên từng số phận, đặc biệt là người phụ nữ “Chưa hề biết hơi thở nóng” đàn ông, nên “Em ba mươi bốn năm vẫn trinh”, “Buồn buồn bò lên gáy” cứ ám ảnh, day dứt không yên. Anh đưa vào trường ca độc thoại trong đêm:

-“Giọt mồ hôi của người đàn ông

Nhỏ xuống ngực em thì làm thế nào?”

- “Em đứ đừ tan chảy”

Nếu “Hàng ria con kiến

Cắm vào môi em thì làm thế nào?”

- Em thở không ra hơi nói không thành lời

Người mềm ra như bún”

- Thế “Người đàn ông của em ở đâu?”

- “Ở trên da đùi non của em”. Nhưng “Nàng Trăng vén đùi lên-Sao chỉ thấy một con mèo đen-Nó nằm ườn ra-Tự sung sướng liếm móng vuốt của nó”. Ở vị thế đàn ông, nhà thơ hiểu đến tận cùng, đau đớn đến tận cùng với “giải pháp tình thế” khi “Em cắn nát vai giường-Vai giường hiện nguyên hình-Tình yêu em-Vành Trăng rách nát”...

Viết trường ca “Chín tháng”, Y Phương kể đã thấm bao nước mắt “Cứ mỗi khi viết chạm đến miền thiêng Tổ quốc, Nhân dân, trong đó có số phận người phụ nữ, tôi thường xúc động”. Anh đưa vào cuộc “đối thoại” giữa một kẻ hèn nhát quay lưng lại dân tộc với một “bóng ma” : “Sao ngốc nghếch ngây thơ đến vậy-Hãy cứ đi rồi sẽ biết đấy là đâu”. Điểm tựa là tình yêu đất nước “Đến tận cùng là dòng huyết chảy” đã giúp người trai Tày bộc lộ quan điểm của mình với kẻ đảo ngũ “Tôi phải sống để trở về với mẹ”:

-Ừ! Hãy sống đi

Như những loài không Tổ quốc

Tổ quốc là gì khi tôi đã chết

Không nói nữa hỡi tên hèn nhát.

Hãy cút đi và biến khỏi mặt đất này

Chỉ thương mẹ

Mẹ ơi con thương mẹ

Với người mẹ, có nỗi đau nào hơn “Nỗi đau mất con” khiến thời gian ngưng đọng “Ngày như sáp ong”, “Người như chì nướng”, nhưng người mẹ đã phải cố vượt lên khỏi tình nhà vì những điều hệ trọng, lớn lao cho Tổ quốc “Mẹ nhủ lòng mình phải vững-Vững như tường nhà” (Chín tháng). Đến “Đò trăng”, tác giả thể hiện cách nhìn ấm áp, nhân văn, nhưng mở rộng lòng với bất cứ người mẹ nào khi “lá xanh rụng” cho “lá vàng” tan nát bời bời: “Bà mẹ không đủ sức gào lên thành tiếng-Cơn đau lên cùng cực-Đôi tay mẹ lỏng lẻo -Bầu vú tong teo áp theo vào hàng rào”. Vượt qua nỗi đau riêng, người mẹ thắt lòng nỗi nhớ con, nhưng chỉ biết sống với những kỷ vật con “Mẹ đừng lần tìm trong rương chiếc áo cũ-Những chiếc áo từ ngày xửa ngày xưa-Ngày con mang đi học” để “choàng chiếc áo hong hơi con” cho vợi nhớ. Đứa con vẫn trọn vẹn trong tấm lòng mẹ, nên hàng ngày mẹ vẫn phần cơm canh chờ đợi “Bát đũa để dành nằm ngoan trong lòng mẹ”. Đứa con nào cũng của một bà mẹ dứt ruột sinh ra, nhưng trường ca Y Phương đã chạm lòng trắc ẩn đến bà mẹ có con đi lính Ngụy “Mẹ các người đau một -Tôi đau hai -Đau ba -Đau trăm -Đau vô vàn -Đau nỗi đau của mẹ -Có con lính ngụy”. Khi đối diện với nỗi cô đơn, với “cái chết luôn rất thật”, “Hễ đến ngày thương binh liệt sỹ” là mẹ lại “đóng cửa-Ngồi trong nhà một mình -Lặng lẽ lau tấm hình-Con tôi dường như…khóc-Nước mắt ngấm sang tôi …ướt” .

Với cái nhìn mở lòng nhân văn ấy, trong “Hành trình tìm kiếm”, Y Phương ý thức hơn ai hết bản sắc văn hóa dân tộc, miết mải đưa tinh thần ấy trong cảm xúc lấy không khí đêm mo gọi hồn hát Then. Mở đầu, tác giả miêu tả không khí đoàn ngựa nhà trời đi qua cửa nhà trời để tìm kiếm những linh hồn lưu lạc. Tác giả khéo léo chuyển đêm Then là Đêm gọi hồn các chiến sĩ. Đoàn người đông đúc, bận rộn gồm có Pháp sư, âm binh, người cưỡi ngựa, người cưỡi lừa, người đi giày, người đi chân đất, người gồng gánh, người bưng bê lễ vật...

“Người làng xã ta đang ở chỗ nào

Để đón rước linh hồn người thân về quê yên nghỉ

Pháp sư cùng âm binh rầm rập tiến vào

Tìm hướng Đông có chín ngàn chín vạn người tử trận

Tìm hướng Nam có ba ngàn ba vạn người tử trận

Tìm hướng Tây có bảy ngàn bảy vạn người tử trận

Tìm hướng Bắc có năm ngàn năm vạn người tử trận”

(Đò trăng)

Điều làm Y Phương trăn trở, trái tim nghệ sĩ hối thúc, nỗi day dứt không yên khi anh mạnh dạn đưa ra một vấn đề lớn trong trường ca “Đò trăng”, đó là tinh thần hòa hợp dân tộc. 40 năm đã trôi qua kể từ ngày 30/4/1975, nhưng câu chuyện hòa hợp dân tộc vẫn còn day dứt trong tâm thức của không ít người, thậm chí có lúc, có nơi còn nặng nề, gay gắt và đầy định kiến. Anh cho rằng đã đến lúc chúng ta không thể né tránh việc này. Đó là sự thực chúng ta phải nhìn thẳng. Quy luật chiến tranh rất khắc nghiệt, có máu đổ, xương rơi, mất mát từ cả hai phía. Có bao sự khắc nghiệt để lại những vết hằn khó lành với những hậu quả nặng nề. Vì thế, chúng ta phải dám nhìn vào sự thật, cùng chia sẻ những hoàn cảnh đó. Hòa hợp dân tộc gắn với những biến cố chiến tranh. Chiến tranh đã lùi xa 40 năm, hơn lúc nào hết, chúng ta cần ứng xử đúng là để quy tụ nhân tâm; xóa đi hận thù, xóa đi những rào cản từ quá khứ chiến tranh. Thực ra câu chuyện hòa hợp dân tộc không phải bây giờ mới được đề cập mà ngay từ trước năm 1975, Đảng và Nhà nước ta đã đặt vấn đề lớn nhất sau chiến tranh cần phải làm, đó là hòa hợp dân tộc và sau 1975 chúng ta đã tích cực thực hiện. Đến năm 2004, Bộ Chính trị khóa IX đã có Nghị quyết 36 về Việt Kiều, trong đó xác định “Công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài cần thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai…”[3]. Trường ca “Đò trăng” vì thế đã hé mở một góc nhìn về tinh thần đoàn kết, sự hòa hợp dân tộc của người Việt Nam cùng máu đỏ, da vàng. Với quan niệm trên nền văn hóa dân tộc Tày của mình “Chẳng ai nhìn thấy gáy của mình”, thế nên, “Đò trăng” mở lòng đến nếu ai “có một thời lầm lỡ-Cầm súng Mỹ-Nhằm bắn vào người bà con đằng mình”, thì “Nay hóa rồi-Xin đừng lưu lạc-Hãy trở về quê cha đất tổ-Lòng đồng bào rộng mở như trời”… Sự khẳng định của Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn “Không có sự đoàn kết, hòa hợp dân tộc, Việt Nam sẽ mất đi một sức mạnh vô cùng to lớn”[4] chính là nỗi trăn trở của Y Phương bấy lâu.

Điểm tựa vững chãi trong hai trường ca của anh là nguồn văn hóa dân gian phong phú. Anh đã vịn văn hóa vùng Tày một cách nhuần nhuyễn, uyển chuyển như máu thịt, như hơi thở nên người đọc khó thấy những “mối nối” của bức tranh thổ cẩm trong những sản phẩm sáng tạo như chính nhà thơ đã thừa nhận “Tất cả nó nhuyễn vào người rồi, bảo lấy từ đâu thì khó lắm”. Từ lời ăn tiếng nói hàng ngày; từ những câu thành ngữ, tục ngữ, dân ca; từ cách nói ví von, so sánh, ẩn dụ… của người dân miền núi, biệt tài của nhà thơ là biết khai thác, thâu lượm nguồn thô của “quặng” để chế biến, thổi hồn cho ngôn từ sinh động, tươi mới, quậy cựa, tung tẩy đầy hồn vía. Anh vận dụng khéo léo bản sắc văn hóa dân tộc để tạo nên những bài thơ theo cách tư duy và xây dựng hình tượng của người Tày giàu liên tưởng.

Y Phương có biệt tài đưa vào trường ca một cách tự nhiên những từ ngữ thường ngày của người Tày, Nùng. Anh tạo nên một phong cách khi sáng tạo những từ láy độc đáo. Dựa trên từ tiếng Tày "Mươi móc", anh đưa vào câu thơ “Mây móc hì hà ùa vào nhà”. Anh sử dụng nhiều từ tượng thanh hiệu quả: cách nói nhỏ của người Tày “Mẹ nhằm nhì nói”; “Tai rằm rì nghe suối”; hoặc miêu tả kiểu cười “Phì phà cười như lửa”, "Gió phù phì phú phí", “Gió nhí nhách thổi ra từ bụng”, “Tay lủm loảm mò tìm”… Thêm đó, anh sử dụng thành công nhiều từ láy tượng hình: “Mắt nhằm nhì nhìn núi”, “Ngón tay mẹ long leng giọt nước”, “Mưng mứng khóc”… Cách so sánh độc đáo “đêm như mực Tàu”, “Để da thịt mọc muôn bách thảo” (Chín tháng). Anh đưa câu nói quen thuộc người Tày "Ón tồng sìn chí" (Đừng như chì nướng) trường ca “Ngày như sáp ong”, “Người như chì nướng” (Chín tháng). Người Tày coi trọng coi trai gọi là "Hòn vàng" dựa trên tiếng Tày “Bjoóc kim” (có nghĩa là hoa vàng)…

Tác giả sử dụng dấu chấm câu ngay trong một dòng thơ:

-Bỗng cụ ông chem chép. Tiếc. Tiếc quá

-Ôi chao. Người đông. Người nhiều. Người dài. Người líu tíu. Người lang tang

-Chợ đây ư. Sao không người bán. Không thấy kẻ mua

-Lại cười rồi. Rúc rích cười. Khúc khước cười. Lẳng lặng tủm tỉm cười

-Sao mà lâu. Sao mà êm. Sung sướng ngọt ngào

-Này. Những người lớn lơ mơ kia ơi

-Nhìn kìa. Khăn trắng ai vẫy. Nón vàng ai lắc

-Đường xa. Lội qua chín con đèo mười hai con dốc

-Hay là .Ta. Ngủ thăm nhau

- Sinh ra khan. Khắp. Cọi mãnh liệt

(Chín tháng)

Văn hóa dân tộc được anh đưa vào trường ca nhuần nhị, tăng sức biểu cảm, đó là “Mẹ hoa cầm quạt phất”, “Mẹ Hoa nói: Con là một hạt người”; còn Bố trời lại bảo “Con là một hạt đất”. Nét phong tục tập quán người Tày, Nùng còn thể hiện thông qua nghi lễ cúng tổ tiên, nghi lễ mừng cháu nhỏ đầy tháng: "Ngày đầy tháng-Ba mâm hương bày ra-Bày mâm đèn đặt tới-Cỗ bàn lao xao khói... Cờ phướn tung bay đón-Mời bố trời đặt tên..." (Chín tháng).

Khi nói về nghệ thuật viết trường ca, Y Phương cho biết “Tôi tuân thủ thi pháp “ức dương” và vận dụng thói quen nghe nhạc giao hưởng để viết “Đò trăng”. Nghĩa là có lúc ta khai mở, nén xuống, bung ra… như nén lò xo, như đập quả bóng. Bóng đập xuống càng mạnh ắt nẩy lên; lò xo bị nén xuống càng lớn sức bung càng mạnh. Trường ca không chấp nhận đơn tuyến bình đồ. Nó phải phức hợp đa thanh như bản giao hưởng có chia chương đoạn, có kịch tính, có đối thoại, độc thoại, có dấu lặng, ngắt nghỉ, trào dâng…”.

Y Phương đã để lại dấu ấn riêng, với những đóng góp quan trọng cho thơ ca Việt Nam hiện đại. Với phong cách thơ vừa dân tộc, vừa hiện đại, anh đã kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống của quê hương, của dân tộc Tày với truyền thống văn hóa dân tộc. Trường ca Y Phương hồn nhiên, lắng đọng, nhiều suy ngẫm, trăn trở, mang tính dự báo. Trường ca đã làm đầy, làm phong phú sự nghiệp của Y Phương trên hành trình tìm kiếm đầy sáng tạo.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}