Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ
Thứ Sáu, 27/11/2020 21:35

Văn nghệ sỹ:

 

Bài ca không quên (Nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn)

Trần Thị Thắng | Thứ Bảy, 22/12/2018 21:56 GMT +7

(Vanhien.vn) Tên một bài ca của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, nó là thương hiệu của tác giả, tôi gọi như vậy, vì chính bài hát này, mỗi khi nghe Cẩm Vân, Trọng Tấn, Tạ Minh Tâm hát nó như có một câu nhắc chúng ta: Có một bài ca không bao giờ quên. Là lời đất nước tôi chẳng phút bình yên. Có một bài ca không bao giờ quên. Là lời mẹ ru con đêm đêm… 
… Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát, với quê hương, với bạn bè, với cả cuộc đời. Tôi không thể nào quên! Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát, với em yêu, với đồng đội, với cả lòng mình. Tôi không thể nào quên! Tôi không thể nào quên!..

Vợ và Phạm Minh Tuấn chụp cùng Bảo Định Giang 
ở rừng Tây Ninh 


Phạm Minh Tuấn, anh luôn nhắc mình và đồng đội không nên quên quá khứ. Xuất thân là Việt kiều sống tại Nôngpenh, nhưng nhẵng năm 1960 anh đã tham gia phong trào yêu nước. Với tuổi hai mươi, khi vào với cách mạng như diều gặp gió, anh đã có nhạc phẩm đầu tay năm 1961. Phạm Minh Tuấn được sống trong không khí Đồng khởi khi Mặt trận dân tộc Giải phóng ra đời 1960. Đến năm 1963, anh cho ra đời bài hát Qua sông, cũng là bài hát đưa Phạm Minh tuấn vào làng âm nhạc Giải phóng. Năm 1965, bài hát Qua sông đã được hát sau lời chúc tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cả nước, sau là bài hát Qua sông của phạm Minh Tuấn với lời hát và nhạc rộn ràng của không khí cách mạng. Ngay lập tức bài hát được Giải Văn học Nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu 1965. Cuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam ngày một đi đến khốc liệt trước cuộc chiến tranh Cục bộ mà Mỹ vẽ ra. Tết Mậu thân 1968, Nhân dân Sài Gòn đã làm cuộc Tổng tiến công đánh trực diện vào Mỹ ngụy. Bài ca Nữ tự vệ Sài Gòn ra đời như một thước phim quay lại không khí cả Sài Gòn vào cuộc cùng với những biệt động Sài Gòn đánh vào những điểm quan trọng mà người Mỹ vẫn gọi là “vùng bất khả xâm phạm” như: Đại sứ quan Mỹ, Đài phát thanh, Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu…Cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968 đã bẻ gẫy chiến tranh cục bộ của Mỹ.


Phạm Minh Tuấn (ảnh trên) xuất phát là “lính” trong doàn Văn công Giải phóng, nhưng trong chiến tranh sự sống chết chỉ là trong gang tấc. Năm 1964, con gái đầu lòng của Phạm Minh Tuấn 6 tháng tuổi, đoàn đi biểu diễn tại Bến Tre trở về có 18 anh em bị lọt vào ổ biệt kích địch. Lúc súng nổ ran, cháu bé khóc, người mẹ nhét vú cho con. Chúng vẫn bắn rát, cháu vẫn khóc vì mẹ không còn sữa. Người mẹ đành nắm ẹp xuống. Chúng lùng sục rất lâu giặc mới tạm rời đi thì cháu đã mất. Vợ nhạc sĩ cũng là diễn viên, chị đành để xác con bên bờ mương. Giặc quay lại ruống bố tiếp và bắt ba phụ nữ trong đoàn trong đó có vợ nhà thơ Giang Nam, vợ nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn và phát thanh viên đài Giải phóng. Còn lại mười lăm nam giới chạy thoát. Chúng không khai thác gì ở ba tù nhân nữ, cả ba được thả về. Sang năm 1966, đoàn văn công của Phạm Minh Tuấn đang đóng quân ở vùng Suối Cây, Xa Mát (Tây Ninh), thì ngày 1-10- 1966, B52 dội bom, soạn giả Trần Hữu Trang, Chủ tịch Hội văn nghệ Giải phóng và một số anh em diễn viên hy sinh. Sang năm 1967, anh em về Hóc Môn biểu diễn được nửa tiếng trên sân khấu, giặc càn vào, bắn lên sân khấu. Sau đó là nhiều trẻ em và phụ nữ bị sát hại. Bà con nhanh chóng đưa đoàn vượt miệt vườn sau về lại khu căn cứ. Vậy là ở miền Nam những năm đó nhu cầu về Cải lương, kịch nói, ca hát quá lớn. Mà lực lượng văn công của ta còn mỏng, nên đoàn Văn công Giải phóng luôn là đội xung kích là vậy. Cho nên ở chiến trường ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên cũng là chiến sĩ. Với một con người trực tiếp tham gia kháng chiến chống Mỹ. Nhưng nỗi đau con gái mất đã luôn ám ảnh Phạm Minh Tuấn. Nên khi sáng tác bài ca Tiếng gọi từ lòng đất, viết về vụ thảm sát Mỹ Lai, tác gải có những lời đầy đau sót: Đây những mồ hoang lạnh buốt/ Đây những hài nhi đòi khóc. Khi bài hát đã được hát phổ biến, một lần gặp nhạc sĩ tôi có hỏi về vụ thảm sát Mỹ Lai, anh nói: Trên đất miền Nam này cả Pháp và Mỹ ngụy gây ra nhiều vụ thảm sát dã man, đối tượng là dân lành, nên bài hát là những nỗi đau thương khôn xiết của một thời. Năm 1960, lợi dụng lúc dân đói kém, Ngô Đình Diệm tẩm thuốc độc vào gạo để giết dân lành, chúng cho họ là lực lượng theo cộng sản. Năm 1961, các anh xuống Trảng Bàng (ở Tây Ninh) gặp giỗ do Pháp bỏ bom chết cả một ấp. Những làng ở Điện Bàn ( Quảng Nam), lính Nam Hàn tàn sát dân lành, bao phụ nữ trẻ em, người già chết oan uổng. Hai năm sau 1963, Mỹ thực hiện càn quyét vào Cầu Xe, xã Hưng Thuận, cũng Trảng Bàng, gặp ai giết nấy. Sang năm 1964, tại xã Tân Hào, Giồng Trôm ( Bến Tre), chúng kéo quân vào tàn sát cả làng, các em nhỏ trong trường bị trúng bom chết cả lớp. Nói đến đó nước mắt anh rưng rưng như đang nhớ về đứa con gái bé bỏng đã mất trong trận phục kích của địch. Bài ca không quên ra đời 1984 sau hòa bình hơn chục năm, lời bài hát vẫn luôn day dứt: Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát, với quê hương, với bạn bè, với cả cuộc đời. Tôi không thể nào quên! Bài ca tôi đã hát, bài ca tôi đã hát, với em yêu, với đồng đội, với cả lòng mình. Tôi không thể nào quên! Tôi không thể nào quên!
Trong sáng tác của Phạm Minh Tuấn bài ca Đất nước là bài điểm và đỉnh ở nhiều chương trình ca nhạc đại lễ và được nhiều ca sĩ hàng đầu thể hiện thành công. Đây là bài thơ của Tạ Hữu Yên in trên báo Sài Gòn Giải phóng. Có bài thơ trước mặt anh đã bắt tay vào sáng tác, nhưng chưa thành công nên bỏ dở. Sang kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam 1985, Phạm Minh Tuấn viết bài Đất nước với một cảm thụ tinh tế. Câu thơ (THY): Đất nước tôi thong thả đàn bầu/ Đất nước tôi thanh thản “giọt” đàn bầu. Chỉ từ “ giọt’ Phạm Minh Tuấn nâng bài hát lên. Hay câu: Các anh về nhà mẹ ba gian (THY)/ Các anh “không”về “lòng mẹ lặng yên”. Những từ thêm vào bớt đi của Phạm Minh Tuấn làm bài hát lắng sâu hơn. Để nâng bài hát lên, câu kết Phạm Minh Tuấn đã đưa vào một khung tranh rất đẹp mà chặt chẽ lại gợi cảm: Đất nước tôi sáng ngời một thuở/ như trăng vào cửa sổ đòi thơ. Với bài ca Đất nước được đánh giá là bài hát có khúc thức mà mở rộng chính vì vậy bài hát mang thủ pháp riêng nên không thể lẫn vào những ca khúc khác.
Phạm Minh Tuấn là một nhạc sĩ được đào tạo trong cách mạng, có sáng tác trong cách mạng ở miền Nam, trở ra miền Bắc học trường Âm nhạc tại trường Âm nhạc Việt Nam. Sau thống nhất anh về học tập và làm việc tại Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh (1976-1996). Nhưng là người có năng khiếu âm nhạc. Ngay sau khi tham gia vào đoàn văn công, anh đã có nhiều sáng tác. Bài Qua sông đã được hát sâu rộng trong quần chúng nhân dân, trong cán bộ, bộ đội. Sau khi đi học âm nhạc miền Bắc và Viện Âm nhạc thành phố, những nhạc phẩm của anh đã sắc sảo về nghệ thuật, nhất là bài Khát vọng viết vào năm 1985 (ý thơ của Đặng Viết Lợi). Phạm Minh Tuấn đã gói gém được nhiều kỹ thuật, thể hiện được đỉnh cao của thủ pháp cổ điển và kinh điển nhưng đậm nét dân tộc không nệ cổ. Sau này anh còn giảng dậy Âm nhạc. Ở môi trường này đã cho Phạm Minh Tuấn một loạt những tác phẩm dài hơi, những ca khúc của anh lên đến cả 100. Anh viết khí nhạc, Pre’lude cho piano, Giao hưởng thơ, nhạc phim, kịch nói, cải lương. Ngoài sáng tác, Phạm Minh Tuấn cũng là con người của công việc, anh đã từng là Phó giám đốc Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh (1970-1996); Phó giám đốc Sở Văn hóa Thông tin thành phố Hồ Chí Minh (1996- 2004); Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ khóa 4; Phó Tổng thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa 5 (1989-2000). Phạm Minh Tuấn là nhạc sĩ, là chiến sĩ giải phóng suốt từ 1960 đến nay, nên nhạc của anh đậm rõ ba nét: Khát vọng mùa xuân; Tình yêu và nỗi nhớ và đặc biệt là Ký ức về đồng đội luôn trở lại trong con người Phạm Minh Tuấn, đã thành thương hiệu cho tác giả với ca từ: Bài ca tôi không quên tôi không quên, đất rừng xứ lạ. Bài ca tôi không quên tôi không quên, bước dồn đường khuya đói lả. Gạo cầm cầm hơi một điếu thuốc cũng chia đôi.
Năm 2001, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn được giải Nhà nước về Văn học Nghệ thuật. Nhìn lại những sáng tác của anh với nhiều bài hát sống cùng năm tháng, thì Phạm Minh Tuấn xứng đáng được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh trong những năm tới
Ảnh 1- Vợ và Phạm Minh Tuấn chụp cùng Bảo Định Giang 
ở rừng Tây Ninh 
2- nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn ngày nay

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}