Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Truyền thống & phát triển:

 

Bảo vệ văn hóa và diệt giặc dốt thể hiện qua sắc lệnh 1945

Từ Khôi | Thứ Tư, 29/01/2020 23:40 GMT +7

Năm 2020, là năm chẵn của nhiều sự kiện đặc biệt: 90 năm thành lập Đảng, 75 năm Quốc khánh, 45 năm thống nhất đất nước. Bài viết này đề cập đến một số chính sách và hoạt động văn hóa, giáo dục tiêu biểu sau khi Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được khai sinh năm 1945.

Sắc lệnh 65 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký.

Trong danh sách các bộ trưởng trong Chính phủ lâm thời được đăng trên các báo ngày 28/8/1945 và ra mắt trước toàn dân ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, chúng ta thấy chưa xuất hiện Bộ Văn hóa. Lĩnh vực văn hóa ở thời điểm đó đứng chung trong Bộ Quốc gia Giáo dục. Vì vậy, các sắc lệnh liên quan đến văn hóa và giáo dục đều do Bộ Quốc gia Giáo dục đệ trình Chính phủ và khi Chính phủ ra sắc lệnh thì thi hành.

Trong bối cảnh Chính phủ phải lo toan bao nhiêu công việc hệ trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ non trẻ, nhưng chỉ 6 ngày sau Quốc khánh, ngày 8/9/1945, một số sắc lệnh đã được ban hành. Các sắc lệnh này do Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Vũ Đình Hòe đề nghị và Chính phủ lâm thời ra sắc lệnh. Sắc lệnh số 13 quy định: “Trường Viễn Đông Bác Cổ, các nhà bảo tàng, các thư viện công (trừ những thư viện phụ thuộc các công sở), các Học viện (như Viện Hải học) từ nay sẽ sát nhập vào Bộ Quốc gia Giáo dục do ông Bộ trưởng Giáo dục điều khiển”. Sắc lệnh số 21 cử ông Ngô Đình Nhu là Giám đốc Nha lưu trữ công văn và Thư viện toàn quốc. Tại bản sắc lệnh số 17 đã “Đặt ra một Bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam” và cử ông Nguyễn Công Mỹ làm giám đốc Bình dân học vụ. Sắc lệnh 19 quy định cụ thể: “Trong thời hạn 6 tháng, làng nào và đô thị nào cũng phải có ít nhất một lớp học dạy được ít nhất ba mươi người”. Còn Bản sắc lệnh số 18 bãi bỏ ngạch học quan do Pháp đặt ra. Những viên học quan đến tuổi nghỉ hưu thì được nghỉ hưu. Những học quan hạnh kiểm xấu sẽ bị thải hồi, còn ai hạnh kiểm tốt, đủ năng lực sẽ được bổ dụng theo năng lực.

Sắc lệnh số 13.

Cũng theo lời đề nghị của Bộ Trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục, Sắc lệnh số 20 ngày 8/9/1945 quy định: “Khoản I: Trong khi đợi được nền tiểu học cưỡng bách, việc học chữ Quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người. Khoản II: Hạn trong một năm, toàn thể dân chúng Việt Nam trên tám tuổi phải biết đọc và biết viết chữ Quốc ngữ. Quá hạn đó, một người dân Việt Nam trên tám tuổi mà không biết đọc biết viết chữ Quốc ngữ sẽ bị phạt tiền. Khoản III: Các khoản chi phí sẽ chia cho hàng quỹ các tỉnh và hàng ngũ xã phải chịu”. Để phát triển nền giáo dục, Sắc lệnh 43 ngày 10/10/1945 còn cho phép: “Khoản I: Nay thiết lập cho trường đại học Việt Nam một quỹ tự trị. Khoản II: Quỹ đó thâu gồm các tiền trợ cấp của chính phủ, ủy ban nhân dân hay của các địa phương, và có tư cách pháp nhân tư cách để thâu nhận những động sản hoặc bất động sản của tư nhân quên cho. Khoản III: Việc quản trị quỹ đó do một Hội đồng quản trị gồm có ông Giám đốc đại học vụ làm Chủ tịch, ông Đổng lý Quốc gia Giáo dục, ông Phó Giám đốc đại học vụ, các ông Giám đốc các trường đại học và mỗi trường một đại biểu giáo sư cùng một đại biểu của sinh viên và ba vị thân hào trong nước”.

Tại Sắc lệnh số 44 ngày 10/10/1945 đã thiết lập một Hội đồng học chính, có nhiệm vụ: nghiên cứu chương trình cải cách các nền học của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, thực hành và sửa đổi khi cần thiết để phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế, xã hội. Còn sắc lệnh số 45 thiết lập một ban đại học Văn khoa tại Hà Nội với mục đích đào tạo “giáo sư văn khoa ban trung học” và nâng cao nền văn học Việt Nam xứng đáng với một nước độc lập, và để theo kịp các nước tiên tiến trên hoàn cầu.

Sắc lệnh số 20.

Trước tình hình một số nơi đập phá di tích, cho là tàn dư phong kiến, tàn dư của cai trị Pháp nên ngày 20/9/1945, Chính phủ lâm thời có sắc lệnh số 35 “xét vì quyền tự do tín ngưỡng là một nguyên tắc của chính thể dân chủ cộng hòa” đã lệnh “Đền chùa, lăng tẩm nhà thờ, tất cả các nơi có tính cách tôn giáo, bất cứ nơi nào, nhân dân đều phải tôn trọng không được xâm phạm”. Và việc bảo vệ này không giao chung chung cho Bộ Quốc gia Giáo dục mà giao trực tiếp cho Bộ Tư pháp và Bộ Nội vụ thi hành bảo vệ. Tiếp sau đó, ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 65 khẳng định việc bảo tồn cổ tích “là công việc rất quan trọng và cần thiết cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”. Theo đó, Đông Phương Bác cổ Học viện có nhiệm vụ bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam, thay thế cho Pháp quốc Viễn Đông Bác cổ Học viện bị bãi bỏ. Đồng thời, giữ nguyên các quy định về bảo tồn cổ tích đã có trước đây là cấm phá hủy những đình, chùa, đền, miếu hoặc những nơi thờ tự khác, những cung điện, lăng mộ, văn bằng, bi ký, chiếu sắc, sách vở, có tính cách tôn giáo hay không, nhưng có ích cho lịch sử mà chưa được bảo tồn... Sắc lệnh 65 này giao cho các Bộ: Nội vụ, Quốc phòng, Tài chính, Tư pháp, Giáo dục thi hành. Ý từ ý nghĩa của Sắc lệnh số 65, vào ngày 24/2/2005, Thủ tướng chính phủ đã chọn ngày 23/11 hàng năm là Ngày Di sản văn hóa Việt Nam.

Trong các bản sắc lệnh kể trên, các bản sắc lệnh số 43, 44, 45 và 65 do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh ký còn các bản sắc lệnh liên quan đến văn hóa, giáo dục khác do Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp ký thay.

Như vậy, vấn đề về văn hóa và giáo dục đã được đặt ra ngay từ những ngày đầu trong các sắc lệnh liên quan đến thể chế chính trị. Các sắc lệnh này những cụ thể hóa đường lối bảo vệ văn hóa và diệt giặc dốt theo tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời ngay từ những ngày đầu thành lập nước.

 

 

Nguồn: langvietonline.vn

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}