Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Văn thơ:

 

Bình bài thơ "Đàn bà" của Trương Nam Chi

Tuệ Mỹ | Thứ Bảy, 17/12/2016 17:43 GMT +7

Viết về “Một nửa thế giới”, thơ nhạc mãi mãi không có điểm dừng. Ngòi bút của mỗi nghệ sỹ có cách thể hiện rất riêng về một mảng đời nào đó của phụ nữ. Nhưng để hiểu đầy đủ về họ, xin mời các bạn cùng tôi đến với bài thơ “Đàn bà” của nữ thi sỹ Trương Nam Chi.

 

ĐÀN BÀ

 

Tôi, đàn bà
Dư thừa nước mắt
Dốc thời gian đo giọt vắn dài
Thăng trầm níu lệch ban mai
Chênh chao hẹn hò quyến rủ.

 

Tôi, đàn bà
Tôn vinh tình vĩnh cửu
Ngõ thiên đường bái vọng dấu môi son
Công đường bấm đốt dại khôn
Tìm vạm vỡ nơi ngực rằm năm tháng.

 

Tôi, đàn bà
Khát khao vò đêm trắng
Đợi lập xuân 
Đo vạt hứng vui buồn
Vén thinh không cắt nghĩa cội nguồn
Nghe thiên sứ thốt thưa lời bình dị.

 

Tôi, đàn bà
Xâu chuỗi ngày hệ lụy
Bụi quê nghèo lấm phố thị hào hoa
Chầm chân trời gợi đến bao la
Tinh túy cất giọt tình mê mải.

 

Tôi, đàn bà
Quang gánh đời trễ nải
Vắt kiệt mình
Quên luận giải nông sâu
Luân hồi biết sẽ về đâu
Vay thương nhớ trả miền mây gió.


Tôi, đàn bà
Lấy không làm có
Chưa lần khóc mướn thương vay
Xếp bẽ bàng đắp mộ đắm say
Gom va vấp xây điện thờ nhẹ dạ.

 

Tôi, đàn bà
Thu vàng mơ nắng hạ
Viễn vông còn vướng bận phía hừng Đông
Cá cược đời
Vào canh bạc bất công
ôm đau khổ chắt chiu lòng nhẫn nại.

 

Tôi
Đàn bà.

(Đàn bà đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số 840).

 

Lời bình của Tuệ Mỹ:

 

Viết về “Một nửa thế giới”, thơ nhạc mãi mãi không có điểm dừng. Ngòi bút của mỗi nghệ sỹ có cách thể hiện rất riêng về một mảng đời nào đó của phụ nữ. Nhưng để hiểu đầy đủ về họ, xin mời các bạn cùng tôi đến với bài thơ “Đàn bà” của nữ thi sỹ Trương Nam Chi.

Bài thơ dài tám khổ. Trừ khổ cuối , bảy khổ thơ còn lại đều bắt đầu bằng cụm từ “Tôi, đàn bà”. Cụm từ này khiến tôi hình dung có một người đàn bà đang ngồi đối diện với chính mình và độc thoại nội tâm. Tôi nói với chính Tôi về Tôi, về những chiêm nghiệm cuộc đời, thân phận đàn bà. Đàn bà thì sao? Đàn bà “dư thừa nước mắt/dốc thời gian đo giọt vắn dài”. Vẫn còn nhớ câu nói của người xưa “nhi nữ thường tình”. Cái thường tình của nhi nữ phải chăng là mau nước mắt, dễ rơi lệ trước những buồn, vui. “Nước mắt là ngôn từ của trái tim không thể diễn tả”, “Nếu bạn chưa từng khóc, đôi mắt bạn không đẹp”, các nhà tư tưởng đã nói thế mà. “Dư thừa nước mắt” chẳng phải là đặc tính đáng yêu của đàn bà đấy sao. Vì giọt nước mắt ấy chính là tấm gương phản chiếu vẻ đẹp tâm hồn họ: Rất nhạy cảm, giàu cảm xúc, giàu tình yêu thương. Nhưng nước mắt của Tôi chỉ dành cho niềm vui giọt “vắn” còn giọt “dài” thì hào phóng cho những “thăng trầm níu lệch ban mai/chênh chao hẹn hò quyến rũ”. Với đàn bà, ánh “ban mai” của hạnh phúc không nằm trong tầm tay với mà là cả một sự “thăng trầm”, “chênh chao”  trong hành trình đi tìm hạnh phúc, tình yêu. Biết thế nhưng làm sao được khi :

Tôi, đàn bà
Tôn vinh tình vĩnh cửu
Ngõ thiên đường bái vọng dấu môi son.

Tôn vinh tình yêu, bái vọng nhan sắc, đó là những đặc tính không thể thiếu của đàn bà. Đối với họ, nhan sắc là thứ tài sản giàu có nhất. Họ phải dùng thứ tài sản này để đến “ngõ thiên đường”. Đúng vậy, có người con gái nào mà không từng nuôi giấc mộng vu quy? Có người phụ nữ nào mà không mơ đến tình yêu đôi lứa? Không khát khao được đặt chân đến “ngõ thiên đường”? Những khát khao đó hồn nhiên, trong sáng quá và đời quá. Và nó cũng rất tự nhiên như khát khao phồn thực vậy “khát khao vò đêm trắng/đợi lập xuân/đo vạt hứng vui buồn”. Khát khao bản năng thường thì người ta giấu kín trong lòng nhưng Tôi vẫn thản nhiên nói ra. Có sao đâu, nó trong sáng và phù hợp với quy luật tự nhiên mà. Và cũng với một giọng điệu hết sức tự nhiên, Tôi đã khẳng định giá trị đáng tự hào của giới mình “Vén thinh không cắt nghĩa cội nguồn/Nghe thiên sứ thốt thưa lời bình dị”. Cái “cội nguồn” mà Tôi muốn “cắt nghĩa” ở đây là gì? Hãy nghe nữ sỹ Xuân Quỳnh trả lời hộ ta câu hỏi đó “ Nếu ví dụ không có chúng tôi đây” thì “Ai sẽ là người sinh ra những đứa con/Để tiếp tục giống nòi”. Và “Dẫu là nguyên thủ quốc gia hay là những anh hùng/Là bác học hay là ai đi nữa/Vẫn là con của một người phụ nữ/Một người đàn bà bình thường không ai biết tuổi tên”. Cái “cội nguồn” mà Trương Nam Chi muốn nói ở đây cũng rất giống với quan niệm “Phụ nữ đưa ta vào sự giao thông với cội nguồn vĩnh cửu, nơi mà thượng đế soi mình” (Frest Renan). Thế đấy, đàn bà là “thiên sứ” làm nhiệm vụ vẻ vang “cắt nghĩa cội nguồn” mà chỉ biết “thốt thưa lời bình,dị: “Rung cảm, yêu, chịu đau khổ, hy sinh, những chữ này mãi mãi dệt nên trang đời của người phụ nữ” (Honoré de Banzac) . “Những chữ này” cũng đã được Trương Nam Chi diễn tả bằng thơ “xâu chuỗi ngày hệ lụy” của đàn bà. Ca dao thường mượn hình tượng con cò để biểu trưng cho thân phận người phụ nữ với những lận đận, gieo neo. Hình tượng ấy cũng đã đi vào trang thơ của các thế hệ nhà thơ. “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” (Trần Tế Xương), “Cái cò sung chát đào chua” (Nguyễn Duy). Trương Nam Chi thì không thế, chị có cách nói riêng của mình “Bụi quê nghèo lấm phố thị hào hoa”. Đã dấn thân vào cõi trần tục ai mà không “lấm” “bụi”. Nhưng có lẽ đàn bà phải chịu “lấm” nhiều nhất dù họ ở nơi đâu “quê nghèo” hay “phố thị”. Điều đó cũng đã khẳng định rằng dù phải đặt mình vào trong hoàn cảnh sống nào, người đàn bà cũng sáng lên những đức tính tảo tần, chịu khó, chịu khổ. Vì lẽ gì mà đàn bà tự nguyện rước khổ vào thân? Câu trả lời là đây “ Chầm chân trời gợi đến bao la/Tinh túy cất giọt tình mê mải”. “Giọt tình đó được “cất” từ “Trái tim nhỏ nằm trong lồng ngực/Giây phút nào tim chẳng đập vì anh” (Xuân Quỳnh) và được tinh lọc từ trái tim người mẹ “Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con” (Chế Lan Viên) nên đó là giọt “tinh túy” nhất. Và “giọt tình” đó cũng là lời lý giải vì sao:

Tôi, đàn bà
Quang gánh đời trễ nải
Vắt kiệt mình 
Quên luận giải nông sâu

Sống theo bản năng của trái tim sẵn sàng“vắt kiệt mình” vì chồng vì con thì cần gì phải “luận giải nông sâu”. Hi sinh vô tư vì thế sự hi sinh của họ là vô giá. Đức hi sinh cao cả! Những tấm lòng độ lượng, bao dung và vị tha đáng kính nể! Quên mình để sống đời người khác, họ không cần luận giải nông sâu nhưng họ đã luận giải vì sao họ khổ bằng thuyết luân hồi “Luân hồi biết sẽ về đâu/Vay thương nhớ trả miền mây gió”. “Về đâu”, một câu hỏi lớn không lời đáp. Về đâu nữa để thoát kiếp đàn bà trong luật đời “vay” “trả”. Đến đây âm hưởng của câu thơ như vọng về tiếng kêu thương cách mấy trăm năm trước “Đau đớn thay phận đàn bà/Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu” (Nguyễn Du)

Tôi, đàn bà
Lấy không làm có
Chưa lần khóc mướn thương vay

Cái “có” mà người đàn bà làm nên phải chăng là đã “cắt nghĩa cội nguồn”. Phải chăng là cái tổ ấm gia đình, nơi nương tựa duy nhất của con người mà người đàn ông dù “là ai đi nữa” cũng không thể xây dựng được nếu không có bàn tay đàn bà. Cái tổ ấm đó được “làm có” bởi trái tim chất chứa tình yêu, đức hi sinh và lòng vị tha thì làm sao

“Khóc mướn thương vay được”.
Xếp bẽ bàng đắp mộ đắm say
Gom va vấp xây điện thờ nhẹ dạ

Trong bao điều mà đàn bà say đắm thì có lẽ tình yêu đôi lứa là điều họ “đắm say” mãnh liệt nhất dù phải trả giá đắt bằng sự “bẽ bàng”. Và “va vấp” cũng là cái giá mà họ phải trả cho “nhẹ dạ” cả tin không hề rẻ chút nào. Hai câu thơ đặt song hành, đối sánh nhau vừa biểu thị mối quan hệ nhân quả giữa “đắm say” và “nhẹ dạ”, vừa bổ sung cho những hệ lụy của đàn bà. Điều đó hoàn toàn thuyết phục người đọc. Nhưng về mặt chữ nghĩa ở hai câu thơ này ,theo tôi, có lẽ cần xem lại . “Đắm say” là đặc tính đáng yêu của đàn bà thì tại sao gọi “mộ” (mộ đắm say) và ngược lại “nhẹ dạ” là điểm yếu của họ mà nói “điện thờ” ( điện thờ nhẹ dạ). Lẽ nào “đắm say” cần phải vùi chôn còn “nhẹ dạ” lại được tôn thờ?

Tôi, đàn bà
Thu vàng mơ nắng hạ
Viễn vông còn vướng bận phía hừng Đông.

Mộng mơ, lãng mạn còn là đặc tính đáng yêu của đàn bà. Mơ có được một bờ vai của người đàn ông để tựa. Mơ có ngày cất bước vu quy. Mơ được sống trong hạnh phúc tình yêu chồng vợ…Đó là những ước mơ đẹp được thắp lên từ “phía hừng Đông”. Nhưng đâu phải ai cũng có thể biến ước mơ kia thành hiện thực. Có người đã lặng thầm “Đếm mùa đi bằng khô héo bờ môi/Vết chân chim chôn tuổi xuân vào mái tóc” (Nguyễn Minh) mà chưa hề được một lần mặc áo cô dâu. Cũng có người vừa vui bước lên xe hoa nhưng lại buồn ngay vì giấc mơ hạnh phúc gia đình tan vỡ. Nữ thi sỹ Thái Thuận Minh cũng đã nói lên nỗi chua xót này : “Đàn bà có chồng rồi/Còn được yêu nữa hay thôi?/Khi ngày tất bật việc cơ quan/ Em lại vội vàng đón đưa con sáng, tối/ Giấu nũng nịu/Yêu thương/Hờn dỗi/Vào xô nước lau nhà vắt kiệt tháng ngày qua” hoặc “anh nhàu nhĩ chiếu chăn rồi mình em lẻ bóng/Tự vuốt ve mình nước mắt ứa mềm môi”. Đó còn là nỗi đau “Bước một lỡ làng, bước hai dang dở/(…) Đau gì hơn vượt cạn một mình” (Nguyễn Ngọc Hưng). Đó là chưa kể nỗi đau bị bạo hành về tinh thần hoặc thể xác. Có phải vì thế mà Trương Nam Chi cho đó là ước mơ “ viễn vông”?

Còn nhớ câu nói của người xưa “Con gái mười hai bến nước trong nhờ, đục chịu”. Không biết số phận mình rơi vào bến đục hay trong nhưng đàn bà vẫn sẵn sàng “cá cược đời/Vào canh bạc bất công” để rồi “ôm đau khổ chắt chiu lòng nhẫn nại”. Hóa ra “lòng nhẫn nại” là cái túi đựng mọi “đau khổ” và giữa chúng có tỉ lệ thuận. Đau khổ càng nhiều thì cái túi nhẫn nại càng không đáy. Nhẫn nại chịu đựng khổ đau, quả là đau xót! Cũng là phận người mà sao chỉ có đàn bà chịu mọi “bất công” của tạo hóa? Cũng là phận người mà tại sao đàn bà phải đánh đổi cả cuộc đời thậm chí cả tính mệnh để săn tìm hạnh phúc?

Kết thúc bài thơ :

Tôi
Đàn bà…

Cụm từ “Tôi, đàn bà” được tách làm đôi để đứng riêng biệt thành hai câu thơ. Lúc này, trong tôi hình dung: Người đàn bà đã đứng dậy, không đối diện với chính mình nữa mà nhìn thẳng về cõi đời, cõi người để tiếp tục bước, tiếp tục dấn thân. Kiếp Tôi là thế. Khổ lụy nhưng khát sống. Vì Tôi đã ý thức được giá trị của giới mình “Nếu ví dụ không có chúng tôi đây/Liệu cuộc sống có còn là cuộc sống/Ai sẽ mang lại cho các anh vui, buồn,hạnh phúc” (Xuân Quỳnh) và ai sẽ “cắt nghĩa cội nguồn”? Sang câu thơ thứ hai, sau từ “Đàn bà” có đặt dấu chấm lửng (…). Với dấu câu này, nhà thơ đã tạo ra một không gian mở cho người đọc tự do tưởng tượng. Có thể có người sẽ liên tưởng thêm nhũng hệ lụy đàn bà mà tác giả bài thơ chưa kể hết. Cũng có thể có độc giả liên tưởng như thế này:

-Phụ nữ cao quý thay! Họ đã bện và dệt những đóa hồng thần tiên trong đời sống phàm tục của chúng ta (Schiller).
-Dù ta đặt người phụ nữ vào vị trí nào, họ cũng làm đẹp cho xã hội, cũng là kho báu của cuộc đời (Mark Tvvain).
Bản thân tôi thích sự liên tưởng sau hơn vì đó là cách đối xử “có hậu” đối với kiếp đàn bà vốn nhiều bất hạnh. Bài thơ đã khép nhưng lại mở ra cho người đọc nhiều liên tưởng mênh mang. Một kết thúc đặc sắc!

Trong cõi thơ viết về đàn bà, nhiều tác giả chỉ nghiêng về một khía cạnh trong đề tài này. Riêng bài thơ “Đàn bà” của Trương Nam Chi như một bản tổng hợp về cuộc đời của họ có cả niềm vui lẫn nỗi buồn, tự hào xen xót tủi. Tuy nhiều cung bậc cảm xúc như vậy nhưng cung trầm vẫn chiếm lĩnh nhiều hơn. Có lẽ đó là lúc người đàn bà đang cúi xuống nhìn lại phận mình, nhìn lại những “va vấp”, “bẽ bàng”, “đau khổ”…Tuy trầm nhưng không bi thiết. Một thái độ trầm tĩnh, mặc nhiên chấp nhận phận mình mà không cần một sự thương hại nào đã toát lên từ giọng điệu của bài thơ. Với thể thơ tự do có nhiều câu thơ ngắn và cực ngắn (có câu thơ chỉ có một từ) chắc hẳn nhà thơ cũng không ngoài mục đích thể hiện thái độ ấy.

Làm thơ cốt để tỏ lòng. Trương Nam Chi đã thành công trong việc chinh phục trái tim người đọc, nhất là người cùng giới về tiếng lòng của mình đã gửi gắm qua bài thơ. Là một nhà thơ nữ lại viết về đàn bà thì thiết tưởng không còn gì chân thật hơn. Chân thật mà không trần trụi vì điều đó được nói bằng thơ. Được nói bằng âm điệu ngân rung nhiều cung bậc cảm xúc, bằng hình tượng thơ đẹp, giàu sức gợi. Được nói bằng ngôn ngữ thơ dung dị mà sâu sắc, đời thường mà lung linh. Đó là thứ ngôn ngữ được sinh ra từ tâm trạng đàn bà nên dễ chạm đến tim người đọc nhất là phụ nữ. 

Nằm trong cõi thơ viết về phụ nữ, bài thơ “Đàn bà” đã để lại dấu ấn riêng về một hồn thơ dồi dào nội lực, tinh tế và sâu sắc cùng với cách thể hiện mới, lạ của cây bút nữ Trương Nam Chi.

Bình Định, 9/12/2016 - TM

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}