Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Đời sống:

 

Bố Đại hòa thượng và nụ cười nguyên xuân

Hình Phước Liên | Thứ Sáu, 05/02/2016 09:58 GMT +7

Ở các nước phương Đông theo Phật giáo đại thừa, hình tượng Phật Di Lặc với nụ cười rộng mở luôn là biểu tượng của mùa xuân an lạc – Xuân Di Lặc. Nhưng không phải ai cũng biết được hình tượng của đức Phật vị lai này bắt nguồn từ đâu?

Xin thưa rằng, đấy chính là Bố Đại hòa thượng, một thiền sư rất được tôn sùng ở các nước Trung Hoa, Nhật Bản và Việt Nam ta vậy!

Bố Đại hòa thượng (布袋和尚) đến và đi trong cõi đời này như một huyền thoại. Tương truyền rằng, vào đời Hậu Lương thời Ngũ Đại, ở Trường Đinh, Phụng Hóa, Minh Châu (nay là thành phố Ninh Ba, Triết Giang, Trung Quốc) có người nông dân tên là Trương Trùng Thiên (张重天), tuổi đã 50 mà vẫn còn hiếm muộn. Một sáng chớm xuân khi đi giăng lưới trở về, đến đầu cầu Nhạc Lâm Tự (岳林寺) ông phát hiện ra có một tảng băng mỏng trôi đến chân cầu, bên trên một cậu bé chừng 7, 8 tuổi, mặt tròn, đầu tròn, tay chân tròn lẵn, ăn mặc phong phanh bày cả chiếc bụng to tròn ngồi trên chiếc túi vải màu xanh đang nhìn ông cười híp cả mắt. Là người không có con, gặp được đứa bé, Trương Trùng Thiên như nhặt được vàng, bèn đưa về nhận làm con nuôi và đặt tên Khế Thử (契此), hiệu Trường Đinh Tử (长汀子). Lớn lên, Khế Thử xuất gia tại chùa Nhạc Lâm. Với chiếc túi vải trên vai, tính tình hào phóng, ưa kết thiện duyên; cùng với dung mạo khác người, nói lời khó đoán, ăn ngủ chẳng cầu và nụ cười rộng mở, ông vân du khắp chốn để hóa duyên và phổ độ chúng sinh, nên mọi người gọi ông là Bố Đại hòa thượng – hòa thượng Túi Vải.            

Một lần, trong lúc hóa duyên có người hỏi pháp hiệu của ông là gì? Bố Đại hòa thượng đọc ngay bài kệ: “Ngã hữu nhất bố đại/ Hư không vô quải ngại/ Đả khai biến thập phương/ Nhập thời quán tự tại”.(01)

Tạm dịch: “Ta có chiếc túi vải/ Trống không chẳng vướng ngại/ Mở ra khắp mười phương/ Nhận vào quán tự tại”.

Hỏi có hành lý gì không? Thì được ông lại đáp: “Nhất bát thiên gia phạn/ Cô thân vạn lý du/ Đổ nhân thanh nhản tại/ Vấn lộ bạch vân đầu.”(02)

Tạm dịch: “Chén cơm của ngàn nhà/ Một mình xuôi vạn dặm/ Nhìn người bằng mắt xanh/ Đầu mây xa hỏi lối”.

      

A3. Nguồn Internet              

                                                    

A4.  Nguồn Internet

Một lần khác, ông ở lại qua đêm tại nhà một cư sĩ. Sớm mai, khi mọi người thức giấc thì ông đã ra đi, để lại trên vách bài kệ:

“Ngô hữu nhất khu Phật/ Thế nhân giai bất thức/ Bất tố diệt bất trang/ Bất điêu diệt bất khắc/ Vô nhất khối nê thổ/ Vô nhất điểm thái sắc/ Công họa họa bất thành/ Tặc thâu thâu bất đắc/ Thể tướng bổn tự nhiên/ Thanh tịnh thường hiệu khiết/ Tuy nhiên thị nhất khu/ Phân thân thiên bách ức.”

Tạm dịch: “Ta mang hình vóc Phật/ Thế gian đều chẳng biết/ Không tạc, chẳng điểm trang/ Không đẽo cũng không khắc/ Không một khối đất bùn/ Không chút màu tô vẽ/ Người vẽ, vẽ không xong/ Kẻ trộm, trộm không được/ Bản tướng vốn tự nhiên/ Thanh tịnh thường trong sạch/ Vì chỉ là một thân/ Nên phân thành muôn ức.”

Những câu kệ của ông rất nhiều, nhưng được lưu truyền rộng rãi nhất vẫn phải kể đến bài Sáp ương ca (03). Bố Đại hòa thượng xuất thân từ nhà nông, nên việc cày cấy với ông vốn là chuyện thường ngày. Một hôm, trong thôn có 4 gia đình cùng lúc đến nhờ ông giúp họ cấy lúa cho kịp thời vụ. Ông vui vẻ nhận lời và giúp họ cấy xong ruộng lúa. Đến tối, cả bốn gia đình đều mời ông đến nhà họ ăn cơm. Ông lại phân thân đến dự tất cả. Lúc ấy, mọi người mới biết rằng ông có pháp lực vô biên. Có người hỏi ông nghĩ gì khi cấy lúa, ông đã tùy hứng ngâm lên bài thơ: “Thủ niết thanh miêu chủng phước điền/ Đê đầu tiện kiến thủy trung thiên/ Lục căn thanh tịnh phương thành đạo/ Hậu thối nguyên lai thị hướng tiền.”

Tạm dịch: “Tách nhánh mạ non cấy phước điền/ Cúi đầu là thấy “thủy trung thiên”/ Lục căn thanh tịnh mới thành đạo/ Lùi bước chính là đã tiến lên.”

Bài thơ mô tả việc cấy lúa rất cụ thể và dễ hiểu, như: tách mạ, cấy lúa, tư thế khom lưng, cúi đầu, bước giật lùi… nhưng lại hàm chứa một triết lý rất sâu xa  qua cách dùng Thiền ngữ thật độc đáo. Câu đầu “Thủ niết thanh miêu chủng phước điền”, gợi đến sự tích “Phật Tổ niêm hoa” và nụ cười của Ma Ha Ca Diếp; phước điền theo nghĩa đen là ruộng tốt, nhưng trong ngữ cảnh này lại còn có nghĩa là Phước điền y – tức áo cà sa của nhà Phật. Câu hai, rõ ràng mô tả động tác cấy lúa, nhưng người nông dân này đang ở trong tâm thế tận hưởng hạnh phúc từ công việc của mình. Vậy nên khi cúi đầu cấy lúa đã cảm nhận được cả cái đẹp của “trời xanh trong ngấn nước”, cái khoảnh khắc “an trú trong hiện tại” ấy thật là trong trẻo và đầy ý vị của Thiền. Câu ba “Lục căn thanh tịnh phương thành đạo” thì quả là cách chơi chữ rất hay. Người nghe có thể hiểu là, phải làm sạch bộ rễ thì mạ mới phát triển thành cây lúa (vì đạo(稻) là cây lúa); ở góc độ khác, người nghe lại hiểu là, khi lục căn (gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) thanh tịnh thì mới có thể tu tập thành Đạo được. (Trong ngữ cảnh này chữ Đạo (道) là con đường dẫn đến chánh quả). Câu bốn “Hậu thối nguyên lai thị hướng tiền”, cũng là mô tả động thái cấy lúa, vì cấy lúa thì phải đi giật lùi mới được. Câu tả thực ấy lại hàm chứa triết lý phong phú, đồng thời ngầm chỉ ra phương pháp tu tập của nhà Phật.

Vì sự dung dị mà thâm sâu ấy, nên bài thơ đã được xem một trong những áng thơ Thiền hay nhất và trở thành bài dân ca phổ biến rộng rãi cho đến tận ngày nay.

Tương truyền rằng, trước khi viên tịch, Bố Đại hòa thượng đã ngồi trên tảng đá bằng ở hành lang phía đông Chùa Nhạc Lâm, Minh Châu – nơi ông đã xuất gia – rồi đọc lên câu kệ: “Di Lặc chân Di Lặc/ Phân thân thiên vạn ức/ Thời thời thị thời nhân/ Thời nhân tự bất thức.” (04)

Tạm dịch: “Di Lặc, chân Di Lặc/ Phân thân trăm ngàn ức/ luôn luôn bảo người đời/ Người đời tự chẳng biết.”

Đọc xong thì hóa. Ấy là ngày mùng 03 tháng 3 năm thứ 2 đời Lương Trinh Minh (916).

Từ đấy, người đời mới hay Bố Đại hòa thượng chính là hóa thân của Di Lặc Bồ Tát. Ít lâu sau ở nơi khác, có người thấy ông xách túi vân du khắp chốn. Về sau, người đời mới theo hình dáng của Bố Đại hòa thượng mà họa hình, tạc tượng thành Đức Di Lặc để thờ phụng trong nhà. Có cứ liệu cho rằng, toàn thân xá lợi của ông hiện vẫn còn bảo tồn nguyện vẹn tại đại điện của Nhạc Lâm Tự.

Ngày nay, đến thăm Nhạc Lâm Tự, có thể thấy ngay ở cổng chùa bức tượng Đức Di Lặc với nụ cười nguyên xuân như đang hoan hĩ đón chào du khách. Beeb dưới bức tượng là bài kệ nói lên tấm lòng bao dung, hoan hĩ của Người:

“Nhãn tiền đô thị hữu duyên nhân, tương kiến tương thân, chẩm bất mãn khang hoan hĩ/ Thế thượng tận đa nan nại sự, tự tác tự thụ, hà phương đại đỗ bao dung/ Đại đỗ bao dung, liễu khước nhân gian đa thiểu sự/ Mãn khang hoan hĩ, tiếu khai thiên hạ cổ kim sầu/ Đại đỗ bao dung, nhẫn thế gian nan nhẫn chi sự/ Tiếu khẩu thường khai, tiếu thiên hạ khả tiếu chi nhân.” (05)

Tạm dịch: “Trước mắt đều là khách hữu duyên, gặp nhau thân nhau, sao chẳng ngập lòng hoan hĩ/ Trên đời biết bao điều khó xử, tự làm tự nhận, ngại gì  đại đỗ bao dung/ Đại đỗ bao dung, hiểu hết bao nhiêu điều nhân thế/ Ngập lòng hoan hĩ, cười vang xua sạch cổ kim sầu/ Đại đỗ bao dung, nhịn những điều thế gian khó nhịn/ Miệng cười luôn nở, cười những kẻ thiên hạ nên cười.”

Ngày nay, hình tượng của Bố Đại hòa thượng đã được đồng nhất cùng Di Lặc Bồ Tát, là vị Phật được mọi người, mọi nhà sùng kính nhất. Ở Nhật Bản, hình tượng của ông với nụ cười nguyên xuân đã đi vào truyền thuyết dân gian và trở thành niềm cảm hứng vô tận của văn học, nghệ thuật – nhất là hội họa.

Cả cuộc đời và hành trạng của Người chỉ để lại cho đời trọn vẹn một nụ cười. Nụ cười ấy cũng chính là thông tin, là niềm tin và là kinh điển của Người mang đến cho đời. Nụ cười ấy sâu thẳm, tạo thành khúc hoan ca trong tâm khảm của mỗi con người, nó như nguyên xuân trẻ mãi.

(Theo Chanyu - baidu.com.cn)

----------------------------------------------------

Chú thích:

01) Nguyên văn bài kệ:

“我有一布袋,虚空无挂碍. 打开遍十方,入时观自在.”

02) Nguyên văn bài kệ:

“一钵千家饭,孤身万里游. 睹人青眼在,问路白云头.”

03) Nguyên văn bài thơ Sáp ương ca (插秧歌) tức Bài ca cấy lúa:

“手捏青苗种福田,低头便见水中天,六根清净方成稻(道),后退原来是向前.”

04) Nguyên văn bài kệ:

   “弥勒真弥勒,分身千百亿,时时示时人,时人自不识.”

05) Đại đỗ bao dung (大肚包容): Nghĩa là “Bụng lớn thì rộng lượng”. Cũng là đặc điểm hình thể của Bố Đại hòa thượng và Di Lặc Bồ Tát. Xin được giữ nguyên từ Hán.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}