Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Cần gọi đúng tên “cồng chiêng” của người Việt

Nhạc sĩ Dương Đình Minh Sơn | Thứ Ba, 28/01/2020 08:53 GMT +7

Dân tộc Việt có bộ nhạc khí dùng trong tâm linh và vương quyền gồm 4 loại: Cồng, Chiêng, Lệnh, và Phèng la. Mỗi loại có hình dáng, chất liệu và chức năng công dụng khác nhau.

Nhưng hiện nay, các phương tiện truyền thông đại chúng đều gọi tên cái chiêng thành cái cồng và cái lệnh thành cái chiêng. Chẳng hạn tiết mục đánh “cồng” khai trương chứng khoán nhưng lại là cái “chiêng” (ảnh 1), đặc biệt nguy hại hơn là ở sách Giáo khoa phổ thông dạy cho thế hệ trẻ tương lai môn học Âm nhạc, phần nhạc cụ có hai ảnh: ảnh cái chiêng dưới ghi là cồng và ảnh cái lệnh dưới ghi là chiêng (ảnh 2), hẳn cô giáo sẽ dạy học sinh cái chiêng cồng, còn cái lệnh chiêng (1). Tại sao đến thế kỷ 20 khi văn phạm đã đạt tầm trong sáng với chữ Quốc ngữ và có máy ảnh để ghi các hiện vật rồi mà còn xẩy ra chuyện kỳ lạ khi gọi hiện vật biểu tượng văn hóa, tên cái này đổi thành tên cái khác- tức là “Lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia”; hoặc tại sao không chụp ảnh mà vẽ hình không rõ nhằm “đánh lận con đen”? Như vậy, còn gì là Bảo tồnphát huy văn hóa dân tộc nữa. Bởi lẽ vẽ cái chiêng (bên trái) bé hơn cái cồng (bên phải) là người nghiên cứu không biết gì về hình dáng của hai loại nhạc cụ ấy. Trong thực tế, loại mặt bằng không có núm, to như chiếc nón Quai thao là cái Lệnh (ảnh 4 c) còn loại nhỏ hơn cái lệnh và cả cái chiêng là cái phèng la (ảnh 4 d), chức năng của cái lệnh và cái phèng la khác nhau (xem mục Chất liệu và chức nằng của bốn loại nhạc cụ này).  

 Ảnh 1. Đánh cồng! (Thực ra là Chiêng)   Ảnh 2:  Cồng (Thực ra là Chiêng)  Chiêng (Thực ra là Lệnh)

 Chiếc cồng Cung đình Huế và chiếc cồng đình làng Thượng Lâm

Chiếc cồng Cung đình Huế (ảnh a) và chiếc cồng của đình làng (hai vua) Thượng Lâm huyện Ba Vì Hà Nội (ảnh b). Ảnh chiếc cồng Cung đình Huế có họa tiết rồng phượng biểu tượng vương quyền của nhà vua (Ảnh này chúng tôi vừa nhận được do nhà nhiếp ảnh Pháp ở Pari gửi cho qua Google trao) còn chiếc cồng của làng (hai vua) Thượng Lâm do lâu năm, ở vị trí đánh vẹt lõm vào (chỗ bên phải) ảnh của tác giả.

                                                              Ảnh 3 a.                                Ảnh 3 b

 

                 Chất liệu, chức năng của bốn loại nhạc cụ này

                          Cồng 4 a        Chiêng 4 b                             Lệnh 4c                                  Phèng la 4d

                  A. Chất liệu

Các cụ cho biết, chất liệu của cái cồng bằng gỗ, hình dáng như cái cột đình: cao koảng 1.40m phần giữa to khoảng 0,60m, hai đầu thon lại, phía trước xẻ một rãnh dọc, trong lòng khoét rỗng làm hòm cộng hưởng: tiếng cồng trầm hùng (ùng ùng) vang to bay xa (ảnh 4a). Cái chiêng bằng đồng mặt bằng có núm (ảnh 4 b). Cái Lệnh bằng đồng mặt bằng to như nón quai thao (ảnh 4c), cái lệnh cổ truyền của dân tộc ta vừa được hội Phật giáo Trúc Lâm khôi phục, và cái phèng la bằng đồng loại nhỏ (ảnh4 d).

                  B. Chức năng công dụng

CồngLệnh là công cụ của vương quyền. Cồng của Lý trưởng, Lệnh của Quan huyện. Tiếng cồng là hiệu lệnh của Lý trưởng; ngạn ngữ có câu Cồng làng mõ xóm (chiếc cồng bằng gỗ tiếng vang cả làng cũng nghe, còn cái mõ tre chỉ vang lên trong một xóm). Cái Lệnh khi quan huyện vi hành, lính lệ xách lệnh đi trước đánh hai tiếng để dẹp đường; ngạn ngữ có câu: Kêu như lệnh vỡ là  tiếng lệnh rè rè như tiếng phèng la (do pha chế của hợp kim), hoặc Lệnh ông không bằng cồng bà (với ý ẩn dụ trong gia đình): Cái chiêng của nghi lễ cúng tế còn cái phèng la đi đầu dẹp đường cho đám ma thì hiện nay vẫn còn dùng. Nhưng loại cồng lệnh công cụ của phong kiến bị tiêu hủy năm 1945 cho nên ít người biết về hai thứ nhạc cụ ấy, chỉ còn lại tên của nó ghi trong sử sách. Sách nói về triều đình Huế của Nguyễn Đắc Xuân ghi: Một hồi cồng báo bãi chầu vang lên (2). Cái Lệnh cổ truyền của dân tộc đã được Hội Phật Giáo Trúc Lâm khôi phục

Người Tây Nguyên gọi chinh hoặc chinh chêng                 

Người Tây Nguyên mua chiênglệnh của người Kinh (Việt) về thửa lại âm thanh làm bộ nhạc khí của họ. Người Kinh gọi chiêng là tiếng “nôm” còn trong nghi lễ xướng tế gọi theo từ Hán Việt là “chinh” và “chinh cổ” (chiêng trống). Vậy, người Tây Nguyên sử dụng bộ nhạc khí bằng đồng ấy vào việc tâm linh ở nhà Rông cho nên họ cũng gọi “chinh” theo người Kinh, hoặc là chinh chêng. Trong Trường ca Đam san có câu ví: Ngôi nhà sàn dài như tiếng chinh ngân,

Cho nên người Giarai và Êđê gọi là “chinh”, người Bana gọi là “chinh chêng, chinh loại (nhỏ) có núm, còn chêng loại (to) không có núm (ảnh a) và người Sêđăng gọi là “goong cing-cing cũng là chinh. Cho thấy trong các tên gọi ấy đều có chung một từ “chinh” (ảnh 5). tất cả không thấy có tên cồng chiêng. Vậy thuật ngữ cồng chiêng Tây Nguyên ở đâu ra?

                      Ảnh 5. Bộ chinh chêng của Tây Nguyên

                 Thuật ngữ cồng chiêng sai, hệ lụy ba dân tộc

Ở người Kinh.Thuật ngữ cồng chiêng sai đã hệ lụy cho giới nghiên cứu, từ năm 1980 trở đi đã có 4 cuộc Hội thảo mà không tìm được đáp số, cho nên cố GS nhac sĩ Tô Vũ đã phải thốt lên: “cồng chiêng là những thuật ngữ đẳng lập hay  đồng loại, cồng- chiêng loại nào có núm”(3).? hoặc ở sách giáo khoa phổ thông đã dẫn ở trên.

Ở người Mường, bộ nhạc khí của họ chỉ có chiêng, nếu khán giả để ý ở Truyền hình về chương trình văn hóa Mường, phóng viên cứ nói cồng chiêng còn nghệ nhân chí nói chiêng Mường. Một sự lệch pha quá đáng ở một hiện tượng văn hóa cổ truyền của dân tộc đã diễn ra từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20, mặc dù từ thời điểm ấy trở đi đã có 4 cuộc Hội thảo và năm 2016 có cuộc Hội thảo do Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số tổ chức, nhưng vẫn không tìm ra được manh mối.

Đó là do không xác định nguyên nhân của sự sai trái ấy do đâu. Là thuật ngữ cồng chiêng không có trong tên gọi bản địa của bộ nhạc khí bằng đồng của vùng Tây Nguyên. Nhưng các Tham luận của Hội thảo cứ bám vào tên cồng chiêng và dùng thuật ngữ ấy để dẫn hết bộ cồng chiêng của vùng này đến bộ cồng chiêng của vùng kia của Tây Nguyên kể cả cồng chiêng Mường, như thế là mặc nhiên công nhận thuật ngữ cồng chiêng ấy rồi; trong khi bài của Lê Thanh Bảo chỉ gọi chiêng Mương(4). Với nội dung của Hội thảo và các bài viết như thế thì hàng chục cuộc Hội thảo hàng trăm bài viết cũng không tìm được manh mối, nếu không nói tên gọi bản địa bộ nhạc cụ bằng đồng của người Tây Nguyên. Vì thế, sách Cồng chiêng Mường của Kiều Trung Sơn- Đề tài của Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam (Nxb Lao Động 2011) Chương I. Điểm I. Về thuật ngữ “cồng chiêng”: từ trang 15 đến trang 35 đã dẫn hàng mấy chục định nghĩa của những nhà nghiên cứu mà cứ lẩn quẩn là cồng chiêng cái nào có núm. Theo chúng tôi đó là do không biết cồng bằng gỗ và chiêng bằng đồng.        

Tóm lại. Sự hệ lụy của thuật ngữ cồng chiêng nặng nhất là ở định nghĩa cồng chiêng trong Từ điển bách khoa Việt Nam. Đó là: “Cồng” (nhạc cụ chiêng) và “Chiêng” (khan 8 ống nứa)(5). Một hiện hành như thế đã diễn ra hàng chục năm, đến (1995) đưa vào Từ điển bách khoa Việt Nam mà các nhà nghiên cứu văn hóa âm nhạc dân tộc không ai lên tiếng, chỉ Kiều Trung Sơn có 2 bài viết nhưng mới liệt kê các hiện tượng mà không nói rõ sự sai trái, còn chúng tôi có 4 bài viết đã dẫn rõ từng điểm sai và phê phán sự sai trái ấy. Nhưng những bài viết ấy cũng chỉ để đọc và biết thế! Phải chăng đã có sự che chắn?

Đến đây, chúng tôi nhớ học giã Trung Quốc Hàn Dũ (768-824) từng làm quan ở Vân Nam nhận xét về người nước ta có hai câu:

Việt tục bất hiếu cổ

Di truyền thất kỳ chân

Đó là do thời nhân dân ta trong đêm trường bị đô hộ, nền văn hóa cổ truyền của dân tộc không rõ thứ nào của ta thứ nào của phương Bắc. Cho nên một số biểu tượng văn hóa nào đó do các nghệ nhân sáng tạo tùy tiện, đơn cử như hiện nay là đôi Đũa bông trên Bát cơm cúng người quá cố thì một bông (ảnh 6a) ý nghĩa biểu tượng cây Nêu, nhưng nghệ nhân đã làm ra ba bông (ảnh 6b), hoặc trong lễ tang thì mầu trắng và mầu đen xen kẽ và tục vái lạy thì như lạy Phật ở chùa, trong khi đó văn hóa bác học thì làm ngơ “Di truyền thất kỳ chân”!

    Ảnh 6a. 1 tầng bông                                           Ảnh 6b. 3 tầng bông

Kết luận

Văn hóa là gương mặt của một dân tộc, cho biết ta từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Nhưng nếu nền văn hóa cổ truyền ấy cứ bị thay đổi dần thì sẽ thay đổi bản sắc và sẽ dẫn đến xóa sổ thì còn gì để nói nữa. Việc chúng tôi đưa ra bài khảo cứu này là vì nền văn hóa cổ truyền của dân tộc, chứ không nhằm chê bai ai. Đó là nhờ vận mệnh của dân tộc, của đất nước may ra sẽ có kỳ quyết định sự việc này đem lại cái đúng.

Chú thích.

  1. Âm nhạc và Mỹ thuật tập 8 Nxb Giáo dục quý 1 -2019 tr 31.

  2. Nguyễn Đắc Xuân,Chín đời chúa mười ba đời vua, Nxb Thuận Hóa 2008,tr 24

  3. Kiều Trung Sơn Cồng chiêng có núm hay không có núm, Tạp chí Văn hóa    Nghệ thuật, số  3 -2011 tr 68.

  4. Các bài đăng ở Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 1-1994 tr 30- 35 của các tác giả: Tô Vũ, Tô Ngọc Thanh, Bùi Thiện, Thanh Bảo

  5. Từ điển bách khoa Việt Nam N x b Từ điển bách khoa Việt Nam 1995 tr 467 và tr 600.

 

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}