Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Mạn đàm:

 

Cần khôi phục tên bộ “chinh” cho vùng Tây Nguyên thay vì cồng chiêng

Nhac sĩ Dương Đình Minh Sơn | Thứ Ba, 21/01/2020 15:42 GMT +7

 

 

Bộ nhạc khí bằng đồng của các dân tộc Tây Nguyên có tên là chinh nay  áp đặt thành cồng chiêng và “vinh dự” được UNESCO cộng nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Điều “vinh dự” thì ai cũng biết, nhưng sự phản lại vinh dự ấy thì chưa đặt thành vấn đề. Đó là lời của người Tây Nguyên từng phải kêu lên: Dân tộc chúng tôi chỉ có “chinh” còn cồng chiêng là do người Kinh đưa vào áp đặt. Các cán bộ ở Hà Nội vào công tác trong đó đều nghe những câu nói ấy. Nếu UNESCO biết sự thể này thì họ sẽ rút lại sự công nhận kia.

Bởi trong Trường ca Đam San có câu: “Ngôi nhà sàn dài như một tiếng chinh ngân”...

Trường ca Đam San là bản Sử thi của một dân tộc đã ví tiếng “chinhngân như ngôi nhà sàn dài: Ngôi nhà sàn dài là biểu tượng của cội nguồn, nơi gắn bó cuộc sống trường tồn của các dân tộc: chứa đựng biết bao tình cảm, vừa thiêng liêng vừa gần gủi như  tiếng “chinh” ngân. Vậy tiếng “chinh” ngân là ngôi nhà sàn dài là bản làng xứ sở Tây Nguyên nơi gắn bó của tổ tiên với bao thế hệ người Tây Nguyên. Nay tình cảm cổ truyền sâu xa, thiêng liêng ấy bị tiêu diệt thay bằng tên cồng chiêng của người Kinh. Điều ấy sẽ hệ lụy như thế nào đối với tình cảm của các dân tộc tây Nguyên?

Khi thay đổi tên gọi của một cổ vật tâm linh là thay đổi cả nhận thức và   phương thức sử dụng, còn cho vẽ hoa văn Thần Đồng Ngọc Lũ lên mặt “chinh” để ám thị Thần Đồng (trống đồng) là loại nhạc khí! Không biết rằng trống đồng cũng bị Mã Viện áp đặt gây bao hệ lụy cho Thần Đồng loại cổ vật Biểu chương vương quyền Ấn tín báu vật truyền ngôi của thời đại Hùng Vương, cũng như “chinh” bị tiêu diệt thành cồng chiêng ấy.

Kết quả hình ảnh cho duongdinhminhsonỞ Tây Nguên có 14 dân tộc sử dụng bộ nhạc khí tâm linh bằng đồng, trong đó có hai dân tộc lớn là Giarai và Bana. Ngươi Giarai gọi chung một tên là “chinh”, người Bana gọi  “chinh chêng” (ảnh a): “chinh” loại (nhỏ) có núm còn “chêng” loại (to) không có núm –loại to không núm là cái lệnh của người Kinh.

Bộ chinh chêng của Tây Nguyên                     

Vừa rồi nữ nhạc sĩ Lin Nga Niê Kdam cho tôi biết dân tộc Sê đăng gọi Bộ nhạc khí bằng đồng ấy là “Goong cing”. Theo chúng tôi, có thể họ gọi “Goong” là tên của thanh đàn đá, còn “cing” là “chinh” chăng. Goong thanh đàn đá là cơ sở của loại nhạc cụ Krông pút và đàn T,rưng bằng tre của Tây Nguyên. Và nữ nhạc sĩ cho biết thêm, các cố đạo người Pháp khi viết về Bộ nhạc khí này họ gọi theo người Sê đăng “Goong cing”.Theo chúng tôi, trong nghiên cứu phải gọi đúng tên của cổ vật như người bản xứ thì mới hiểu được ý nghĩa của cổ vật, còn thay đổi tên thì còn gì là sưu tầm nghiên cứu nữa.

Do người nghiên cứu không nắm được nguyên tắc của việc sưu tầm, đã thay đổi tên của bộ nhạc khí ấy, rồi đưa vào Từ điển bách khoa Việt Nam và  định nghĩa về công chiêng Tây Nguyên và bịa ra những từ ngữ không có ở bản địa như sau:

Cồng (nhạc cụ chiêng)” …. Loại cồng có núm ở giữa gọi là chiêng có núm, loại không có núm gọi là chiêng bằng(1). Những từ gạch chân là của người viết chứ không phải của địa phương.

Còn định nghĩa về chiêng:

 “Chiêng khan (tiếng Bana khan là chiêng gió, gồm 8 ống tre)”: Nhạc cụ của người Bana, thuộc họ nhạc cụ tự thân vang khi va đập, gồm 8 ống tre có kích thước quy định (s đ.d tr. 467) ; chúng tôi thấy loại chùm 8 ống tre ấy ngày nay ở Hà Nội có treo trong các nhà hàng.

Sách Từ điển bách khoa Việt Nam mà định nghĩa: “Cồng” là (chiêng) còn “Chiêng” là (8 ống tre) . Một định nghĩa lạ kỳ không thể hiểu nổi.  

                       Thuật nghữ cồng chiêng là của người Kinh

 Sách nói về triều đình Huế của Nguyễn Đắc Xuân ghi: Một hồi cồng báo bãi chầu vang lên (2); và ngạn ngữ có câu: Lệnh ông không bằng cồng bà, hoặc Cồng làng mõ xóm; còn chiêngchiêng trống - chiêng trống treo ở đình làng và nhà thờ họ. Như vậy rõ ràng thuật ngữ cồng chiêng là của người Kinh; ngay ở người Mường cũng chỉ gọi loại chiêng không có loại cồng trong bộ nhạc khí của họ.

                     Tại sao người Tây Nguyên gọi là “chinh”

Người Tây Nguyên mua chiênglệnh của người Kinh về thửa lại âm thanh làm bộ nhạc khí của họ. Người Kinh gọi chiêng là tiếng “nôm” còn trong nghi lễ xướng tế gọi theo từ Hán Việt là “chinh” và “chinh cổ” (chiêng trống). Vậy, người Tây Nguyên sử dụng bộ nhạc khí bằng đồng ấy vào việc tâm linh ở nhà Rông cho nên họ cũng gọi “chinh” theo người Kinh.

  Bốn loại nhạc khí của người Kinh: Cồng, chiêng, lệnh phèng la như sau: Cồng bằng gỗ (ảnh 1), chiêng bằng đồng-mặt có núm (ảnh 2), lệnh bằng đồng loại to, mặt bằng (ảnh 3) phèng ta loại nhỏ (ảnh 4)-cái Lệnh giống như phèng la nhưng to hơn.

CồngLệnh là công cụ của vương quyền: Cồng của Lý trưởng, Lệnh của quan huyện: khi quan vi hành lính lệ xách lệnh đi trước đánh hai tiếng để dẹp đường; cái lệnh cổ truyền của dân tộc ta vừa được Hội Phật giáo Trúc Lâm phục chế lại (ảnh 3 ), cái chiêng của cúng tế, phèng la đi đầu dẹp đường cho đám ma (ảnh 4).  

Ảnh 1. cái cồng   Ảnh 2 . cái chiêng       Ảnh3. cái lệnh.        Ảnh 4.  Cái phèng la

 

Chiếc cồng của Cung đình Huế và chiếc cồng làng Thượng Lâm

 Chiếc cồng của Cung Đình Huế đã đươc Nguyễn Đắc Xuân nói đến trong sách Chín đời chúa mười ba  đời vua  nhưng không có hình ảnh. Qua bài viết của chúng tôi về chiếc cồng ấy, vừa rồi chúng nhận được ảnh chiếc cồng ấy do nhà nhiếp ảnh người Pháp chụp ở đầu thế kỷ 20 gửi cho qua tr web (ảnh5). Chiếc cồng (ảnh 5) ấy so với chiếc cồng ở đình hai vua làng Thượng Lâm, huyện Ba Vì TPHN (ảnh 6).là có sự tương đồng về hình dáng nhưng chiếc cồng cung đình Huế có hoa văn rồng phượng thể hiện quyền lực, còn chiếc cồng ở đình làng  Thương Lâm không có hoa văn và lâu ngày đánh vẹt .

              Chiếc cồng của Cung Đình Huế              Chiếc cồng ở đình hai vua     

Qua hình dáng của hai chiếc cồng này chứng minh người sưu tầm văn hóa cổ truyền ở Tây Nguyên gọi cái chiêng là cồng và cái lệnh là chiêng rồi đưa vào Sách Từ điển bách khoa Việt Nam là sai trái.

       Những hệ lụy của thuật ngữ cồng chiêng ở người Kinh và người Mường

1.Thuật ngữ cồng chiêng sai trái đã gây bao hệ lụy cho giới nghiên cứu. Từ năm 1980 trở đi đã có 4 cuộc Hội thảo mà không tìm được đáp số.. Cố G S nhac sĩ Tô Vũ đã phải thốt lên: “Cồng chiêng là những thuật ngữ đẳng lập hay là loại nhạc khí đồng loại, cồng hay chiêng, loại nào có núm” (3).

2. Sách giáo khoa phổ thông môn học nhạc cụ, có 2 ảnh: chiếc có núm ghi chữ cồng; chiếc không có núm ghi chữ chiêng. Vậy, cô giáo dạy học sinh: cồng có núm và chiêng không có núm (4).

Chiếc cồng của người Kinh (ảnh 5) cao khoảng 1,40m, giữa bụng to khoảng 0,60m, hai đầu thon lại có đường rãnh ở giữa, trong lòng khoét rỗng làm thùng cộng hưởng. Tiếng kêu “trầm hùng, ùng ùng” nên gọi là cồng chăng. Tiếng Lệnh và tiếng Cồng là hiệu lệnh của quan huyện và Lý trưởng chế độ phong kiến cho nên bị dẹp bỏ từ năm1945.

Chúng tôi sưu tầm được chiếc cồng bằng gỗ còn lưu giữ được ở ngôi đình làng người Kinh-làng Trung Lương, phường Quyết thắng TP Kontum (ảnh 1). Tuy chiếc cồng ấy về hình dáng và kỹ thuật không giống như chiếc cồng của miền xuôi. Vì vào thời đó ở Tây Nguyên không có dụng cụ để khoét hòm cộng hưởng, còn kỹ thuật tạo dáng một chiếc cồng thì phải loại thợ  giỏi, cho nên họ làm chiếc cồng như cái mõ cao to mà thôi.

 Ngày xưa chiếc cồng loại nhỏ còn gọi “mõ cá” đặt ở các “điếm canh” của các làng. Các bô lão ở làng Bạch Mai kể cho chúng tôi nghe về tiếng “mõ cá” ở các điếm canh của làng, làm yên giấc ngủ cho dân làng trong những đêm trường.

Lời kết. Văn hóa là gương mặt của một dân tộc, cho biết ta từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Vì thế, chúng tôi là người nghiên cứu văn hóa cổ truyền không thể vị nể mà làm thinh, bởi một thuật ngữ “cồng chiêng” đã gây hệ lụy cho ba dân tộc: Tây Nguyên, người Mường và người Kinh. Cho nên chúng tôi đề nghị các cấp có thẩm quyền có kế hoạch khôi phục lại thuật ngữ “chinh” cho bộ nhạc khí bằng đồng của vùng Tây Nguyên, bỏ tên “cồng” cho người Mường và gọi đúng tên “cồng chiêng” cho người Kinh. Chúng tôi cầu mong những nhà nghiên cứu văn hóa cổ truyền dân tộc ủng hộ ý kiến nay.

_________

  1. Từ điển bách khoa Việt Nam N x b Từ điển bách khoa Việt Nam 1995 tr  467 và tr 600.

  2. Nguyễn Đắc Xuân,Chín đời chúa mười ba đời vua, Nxb Thuận Hóa,2008,tr 24

  3-4. Kiều Trung Sơn Cồng chiêng có núm hay không có núm, Tạp chí Văn hóa    Nghệ thuật, số  3 2011 tr 68.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}