Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nhân vật:

 

Cao Bá Quát - Nhân vật lịch sử nổi tiếng thời nhà Nguyễn

Vương Quốc Hoa | Thứ Hai, 09/01/2017 00:07 GMT +7

Cao Bá Quát quaaa đời khi mới 45 tuổi. Cái chết và cuộc đời của Cao Bá Quát lúc bấy giờ có tiếng vang lớn trong cả nước, nhất là ở miền Bắc, cái chết của Cao Bá Quát đã để lại niềm thương tiếc cho nhân dân thời bấy giờ và cho đến tận ngày hôm nay.

Cao Bá Quát sinh năm Kỷ Tỵ 1809, và mất năm Ất Mão 1855, tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường và Mẫn Hiên, người làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (ngày nay thuộc huyện Gia Lâm, Hà Nội), thân phụ là Cao Bá Nhạ, một nhà nho không đỗ đạt gì nhưng có tiếng, ông muốn các con của mình sau này sẽ là những bậc hiền thần, nên đã đặt tên cho hai người con sinh đôi của mình là Cao Bá Đạt và Cao Bá Quát.

Về sau này, người anh trai sinh đôi của Cao Bá Quát là Cao Bá Đạt đỗ cử nhân, làm tri huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa, làm việc thanh liêm, mẫn cán, được dân chúng kính mến, Cao Bá Đạt cũng nổi tiếng có tài văn chương. Còn Cao Bá Quát, ngay từ ngày nhỏ đã nổi tiếng thông minh, học giỏi. Năm Tân Mão 1831, lúc đó Cao Bá Quát 22 tuổi, thi Hương đậu Á nguyên, nhưng khi Bộ duyệt lại, không biết do lỗi gì bị đánh tụt xuống cử nhân đội bảng, và hai lần đi thi hội đều bị đánh hỏng, từ đó Cao Bá Quát buồn không đi thi cử nữa mà đi ngao du non nước.

Đến năm Tân Sửu 1841, dưới thời Vua Thiệu Trị, quan đầu tỉnh Bắc Ninh biết tài của Cao Bá Quát, đề cử ông với triều đình, ông được triệu vào kinh sung chức Hành tẩu Bộ Lễ. Tháng 8 năm đó, ông được cử lám sơ khảo trường thi Hương ở Thừa Thiên, ông và bạn đồng sự là Phan Nhạ thấy thấy vài mươi quyển của sỹ tử khá mà vô ý bị phạm húy, bèn lấy bút son hòa muội đèn chữa hộ, nhằm cứu vớt người tài, nhưng sụ việc bị phát giac, ông và đồng sự bị bắt giam, và bị khép vào tội chết. Sau đó Cao Bá Quát được chính vua Thiệu Trị giảm cho tội chết và ông chỉ bị kết án ba năm tù.

Năm Giáp Thìn 1844, khi đó sứ bộ là Đào Trí Phú sang Tân Ba Gia (Indonesia) công cán, Cao Bá Quát được tha, cho đi theo sứ bộ để lập công chuộc tội. Xong việc trở về, Cao Bá Quát được phục chức cũ, rồi thăng làm chủ sự.

Năm 1847 (năm đầu đời vua Tự Đức), Cao Bá Quát lại được triệu vào kinh đô Phú Xuân (Huế), làm ở Viện hàn lâm. Ông được giao việc sưu tầm, sáp xếp thơ văn cho vua Tự Đức dùng, thời gian này Cao Bá Quát giao lưu với nhiều quan lại yêu thích thơ văn như Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Hàm Ninh, Đinh Nhật Thân v.v…

Ngoài ra Cao Bá Quát cũng tham dự một số hoạt động văn hóa cung đình do vua Tự Đức chủ trì, trong thời gian này có khá nhiều giai thoại về Cao Bá Quát với vua Tự Đức và các quan chức trong triều, trong đó Cao Bá Quát được mô tả như là đem tài thơ văn để châm biếm những năng kém cỏi của một số đồng liêu, có người cho rằng, chính sự căm tức của một số quan lại, là lý do để các quan trong triều đẩy Cao bá Quát đi xa.

 Chính vì vậy, vào năm Tân Hợi 1851, Cao Bá Quát phải rời kinh đô đi nhận chức Giáo Thụ ở phủ Quốc Oai (ngày nay thuộc  huyện Quốc Oai, Hà Nội). Ở đây Cao bá Quát lại phải chịu đựng sự hách dịch của Tổng đốc Sơn Tây là Nguyễn Bá Nghi, sau đó  Cao bá Quát từ chức Giáo thụ trở về quê, sự việc trên diễn ra vào năm 1853, trong năm đó ở miền Bắc có nạn dịch châu chấu, mất mùa, đói kém, dân tình miền Bắc khổ cực, quan lại triều đình còn ra sức bóc lột nhân dân. Quá bất bình với triều đình, Cao Bá Quát bí mật tập hợp lực lượng chuẩn bị khởi nghĩa ở Hà Nội, nhưng việc bị bại lộ, ông bị triều đình truy nã.

Lúc bấy giờ một dòng dõi của nhà Lê là Lê Duy Cự khởi binh chống lại triều đình, Cao Bá Quát liền đi theo Lê Duy Cự và làm quân sư cho Lê Duy Cự và tự mình xưng là Quốc sư. Khi tế cờ ra quân, chính Cao Bá Quát đã viết lá cờ đại hai câu: Bình Dương, Bồ Bản vô Nghiêu, Thuấn, Mục Dã, Minh Điều Hữu Vũ Thang” nghia là: “Đất Bình Dương đều có vua Nghiêu, vua Thuấn, nên đất Mục Dã và Minh Điều phải có những người chống lại như vua Vũ, vua Thang”.

Nghĩa quân đánh chiếm được một số phủ huyện như Ứng Hòa, Thanh Oai, nhưng sau một số trận thua ở làng Đồng Dương (ngày nay là Thanh Oai Hà Nội) và làng Quyển Sơn (ngày nay thuộc Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, Cao Bá Quát cho đánh phủ Quốc Oai rồi, rồi rút sang vùng Vĩnh Tường đóng căn cứ ở Mỹ Lương. Triều đình đem quân ra đàn áp, trong một trận chiến đấu, Cao Bá Quát bị tên bắn trúng và chết trong đám loạn quân. Vua Tự Đức hạ lệnh chém đầu Cao Bá Quát, và bêu đầu ở khắp mọi nơi ở các tỉnh phía Bắc để làm gương răn đe kẻ khác, rồi bổ ra ném xuống sông. Vua Tự Đức còn hạ lệnh giết sạch cả nhà Cao Bá Quát, và chu di tam tộc.

Cao Bá Quát chết khi đó mới 45 tuổi, cái chết và cuộc đời của Cao Bá Quát lúc bấy giờ có tiếng vang lớn trong cả nước, nhất là ở miền Bắc, cái chết của Cao Bá Quát đã để lại niềm thương tiếc cho nhân dân thời bấy giờ và cho đến tận ngày hôm nay.

Về sự nghiệp văn học, Cao Bá Quát đã để lại cho đời bộ sách Chu thần thi tập, thơ văn của ông dù viết bằng chữ Hán hay chữ Quốc âm đều có giá trị về nghệ thuật. Những bài ca trú của Cao Bá Quát cũng rất xuất sắc, đặc biệt là bài phú “Tài tử đa tình”, chỉ riêng một bài này thôi, cũng đủ nêu cao tên tuổi của Cao Bá Quát với nền văn học nước ta. Các tác phẩm văn học của Cao Bá Quát sau này được sưu tầm và khắc in là Cao Chu Thần văn tập, có giá trị văn chương, học thuật cao của tiến trình lịch sử văn học cận đại Việt Nam.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}