Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Nghiên cứu:

 

Cao Bá Quát và bài phú "Tài tử đa cùng" - Đặc sắc “Tài tử đa cùng phú”

Vũ Bình Lục | Thứ Ba, 05/04/2016 16:27 GMT +7

Cao Bá Quát (1808-1855) sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán, hiện sưu tầm dẫu chưa đầy đủ, cũng có khoảng trên nghìn bài, cả văn và thơ. Với những sáng tác bằng chữ Nôm, vẫn còn ở mức khiêm tốn, so với phần viết bằng chữ Hán. Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng không phải là không có bài đặc sắc. Chỉ với riêng bài phú “Tài tử đa cùng”, cũng đã hiện rõ chân dung một tài tử vào hàng tuyệt kỹ! 

TÀI TỬ ĐA CÙNG

1. Có một người: Khổ dạng trâm anh; nết na chương phủ
2. Hơi miệng sữa tuổi còn giọt máu; nét hào hoa chừng ná Tân Dương. Chòm tóc xanh vừa chấm ngang vai; lời khí khái hẹn hò Y, Phó.
3. Nghiên gợn sóng vẽ vời điển tịch, nét nhạn điểm lăn tăn. Bút vén mây dìu dặt văn chương, vòng thuyền khuyên lỗ chỗ.
4. Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan Khổng, chí xông pha nào quản chông gai. Cựa đuôi kình toan vượt bể Trình Chu, tài bay nhảy ngại gì lao khổ.
5. Lắc bầu rượu dốc nghiêng non nước lại, chén tiếu đàm mời mọc Trích tiên. Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào, cơn xướng hoạ thì thầm Lão Đỗ.
6. Tươi nét mặt thư sinh lồ lộ, bưng mắt trần toan đạp cửa phù đồ, rửa buồng gan du tử nhơn nhơn, giương tay Tạo rắp xoay cơn khí số.
7. Tưởng đến khi vinh hiển coi thường; song nghĩ lại trần ai đếch chỗ.
8. Lều nho nhỏ, kéo tấm tranh lướp tướp, ngày thê lương hạt nặng giọt mưa sa; Đèn cỏn con, co chiếc chiếu loi thoi, đêm tịch mịch soi chung vừng trăng tỏ.
9. Áo Trọng Do bạc phếch, giãi xuân thu cho đượm sắc cần lao; Cơm Phiếu Mẫu hẩm sì, đòi tuế nguyệt phải ngậm ngùi tân khổ.
10. Gió vàng rơi rụng để cái quyên gầy; sương tuyết hắt hiu, làm con nhạn võ.
11. Túi thanh bạch ngược xuôi miền khách địa, trăm nghìn đường chỉ nhện dệt thưa mau; Đèn toan hàn thức nhắp mái nam song, dăm ba ngọn lửa huỳnh khêu nho nhỏ.
12. Miệng châu quế rì rầm học vấn, chị chú Tô cẳn nhẳn chỉ hiềm nghèo. Vai tân sài đủng đỉnh ngâm nga, vợ anh Mãi băn khoăn từng kể khó.
13. Đói rau rừng, thấy thóc Chu mà trả; đá Thú Dương chơm chởm, xanh mắt Di nằm tót ngáy o o. Khát nước sông, trông dòng đục không vơ; phao Vị Thuỷ lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi dai ho khụ khụ.
14. Trông ra nhấp nhố sóng nhân tình; ngoảnh lại vật vờ mây thế cố.
15. Ngán nhẽ kẻ tham bề khoá lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn; Quản bao người mang cái giàm danh, áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.
16. Khéo ứng thù những đám quan trên; xin bái ngảnh cùng anh phường phố.
17. Khét mùi thế vị chẳng thà không, thơm nức phương danh nên mới khổ.
18. Tình uốn éo muốn vạch trời lên hỏi, nào kiếp Chử Đồng đâu tá, nỡ hoài chén ngọc để trần ai? Chí lăng nhăng toan vượt bể đi tu; hỏi quê tiên tử nơi mô xin lĩnh lấy vân đan làm tế độ.
19. Bài phú Dương Hùng dù nghiệm tá, thì xin tống bần quỷ ra khỏi miền Đông hải, để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài. Câu văn Hàn Dũ phỏng thiêng chăng, thì xin tống cùng thần ra đến đất Côn Lôn, để ta gánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú.
20. Nhọc nhằn cơn nhục, mát cơn vinh; cay đắng lúc cùng bù lúc phú.
21. Vậy có lời nôm dặn bảo thế gian rằng: đừng thấy người bạch diện thư sinh mà cười rằng: “đa cùng tài tử”.

Cao Bá Quát (1808-1855) sáng tác chủ yếu bằng chữ Hán, hiện sưu tầm dẫu chưa đầy đủ, cũng có khoảng trên nghìn bài, cả văn và thơ. Với những sáng tác bằng chữ Nôm, vẫn còn ở mức khiêm tốn, so với phần viết bằng chữ Hán. Tuy số lượng chưa nhiều, nhưng không phải là không có bài đặc sắc. Chỉ với riêng bài phú “Tài tử đa cùng”, cũng đã hiện rõ chân dung một tài tử vào hàng tuyệt kỹ! 

Có ý kiến cho rằng, bài phú này Cao viết khi làm quan ở Viện Hàn Lâm, sau mấy năm bị thải hồi, rồi lại được gọi vào Kinh. Nhưng tôi không tin như vậy! Căn cứ vào nội dung tác phẩm mà phán đoán, có lẽ Cao viết bài phú này trong khoảng gần bốn năm bị thải hồi, về nằm khểnh ở ngôi nhà bên sông Hồng, bên hồ Tây và hồ Trúc Bạch, cô đơn, bệnh tật, đói nghèo, đến mức “đa cùng”…

Về cấu trúc hình thức, “Tài tử đa cùng phú” được thể hiện như một bài phú cổ thể. Tác giả sử dụng nhiều điển tích lấy trong kho sách vở bên Tàu, và những câu văn biền ngẫu, đối xứng nhịp nhàng, nghiêm chỉnh. Nội dung, kể chuyện về cuộc đời “đa cùng” của một người tài tử. Người tài tử đa cùng ấy, chính là tác giả, được biểu hiện như một nhân vật trữ tình chủ thể. Giọng điệu bài phú chuyển đổi theo mạch kể chuyện, có lúc hào sảng tươi vui, có khi thâm trầm sâu lắng, buồn bã đắng cay mùi tân khổ. Đôi khi oán thán, khinh thị thói đời, lại bỗng bừng lên khí phách hùng tráng, tin tưởng, hy vọng thênh thang. Làm “dung môi” liên kết các câu văn, nhìn chung là chất tự trào êm nhẹ, có nét duyên thầm. 

Câu đầu, giới thiệu chung về nhân vật tài tử:

Có một người: Khổ dạng trâm anh, nết na chương phủ / Hơi miệng sữa tuổi còn giọt máu, nét hào hoa chừng ná Tân Dương, chòm tóc xanh còn chấm ngang vai, lời khí khái hẹn hò Y Phó…

Đấy là “tông tích”, xuất thân của chàng tài tử. Người ấy dòng dõi thế gia vọng tộc, sinh ra đã thấy biểu hiện những phẩm chất của một người tuấn tú, rồi ra sẽ theo nghiệp thi thư, sẽ nổi bật lên trong đám nho sĩ. Ngay từ lúc Tuổi còn giọt máu, đã có dấu hiệu của một tài năng lớn. Văn chương lỗi lạc, có thể sánh với những văn hào thi bá, như Lạc Tân Vương và Dương Quýnh. Tài “kinh bang tế thế”, có thể so cùng những danh thần kiệt hiệt như Y Doãn và Phó Duyệt!...

Phần tiếp đó, cụ thể hơn về tài năng của nhân vật Tài tử. 

Trước hết, là tài văn chương thơ phú. Ngay từ khi còn trẻ, tài hoa đã hiển lộ, phi phàm: Nghiên gợn sóng vẽ vời điển tịch, nét nhạn điểm lăn tăn, bút vén mây dìu dặt văn chương, vòng thuyền khuyên lỗ chỗ…Những Nghiên gợn sóng, những Bút vén mây, rồi những vẽ vời, dìu dặt…đủ thấy một tài hoa tung tẩy, vung bút như có thần linh trợ giúp. Văn đã hay, mà chữ lại tốt. Những nét nhạn điểm lăn tăn, sống động. Những nét khuyên, nét chấm, như phượng múa, rồng bay, điểm tô cho văn phong tung hứng, tình ý sâu xa ý vị, thật hiếm có trong đời. Theo nghiệp thi thư, tài tử ấy đã quyết định đường bay cho chính mình, rồi Nghiêng cánh nhạn tếch mái rừng Nhan Khổng, chí xông pha nào quản chông gai / Tựa đuôi kình toan vượt bể Trình Chu, tài bay nhảy ngại gì lao khổ!

Đường bay ấy, rõ là đường bay của kẻ sĩ, quyết nghiêng cánh nhạn nhẹ nhàng đáp xuống rừng Nho mênh mông bát ngát và sang trọng. Nơi rừng Nho thiêng liêng ấy, có những bậc thầy nổi tiếng, như Khổng Tử, lại có những học trò nổi tiếng của Khổng Khâu như Nhan Hồi…Chưa đủ! lại còn Cựa đuôi kình toan vượt bể Trình Chu, tài bay nhảy ngại gì lao khổ! Trình Di và Chu Hy, những bậc danh Nho đời Tống bên Tàu. Thế là chàng Tài tử này muốn thâu tóm cả mấy trường phái Nho gia, từ Khổng giáo thời Xuân Thu, đến hạt nhân tiêu biểu của Tống Nho là hai vị Trình, Chu nổi tiếng. Những động từ Nghiêng cánh nhạn (Chim nhạn), Cựa đuôi kình (cá kình), khi nhẹ nhàng, khi mạnh mẽ, diễn đạt một cách sinh động niềm hứng khởi vô biên của người tuổi trẻ, tài năng thiên bẩm, khát vọng lớn lao, ý chí ngoan cường, thật là sảng khoái, thú vị vô cùng!

Trong bụng đã no đầy sách vở, lại thêm chí giang hồ giao du bốn biển, tài thơ phú càng có dịp phô phang:

Lắc bầu rượu dốc nghiêng non nước lại, chén tiếu đàm mời mọc Trích tiên / Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào, cơn xướng hoạ thì thầm Lão Đỗ. 

Hình dung như chàng tài tử bỗng vụt lên cao lớn phi thường, có quyền năng phi phàm. Chàng có thể Lắc bầu rượu (cái cụ thể, nhỏ bé) mà Dốc nghiêng non nước lại (cái trừu tượng, lớn lao) ; có thể Hóng túi thơ (cái cụ thể ) mà Nong hết gió trăng vào ( cái trừu tượng), say sưa cười nói mời mọc Trích tiên (Lý Bạch), rồi thì thầm xướng hoạ cùng Lão Đỗ (Đỗ Phủ)…Câu văn biền ngẫu nhịp nhàng, cân đối, lại được tác giả sử dụng thủ pháp khoa trương, để nâng cánh cho hơi văn, tạo dáng cho tâm hồn khoáng đạt của mình bay lên cùng với các vì sao…Thật là vô cùng khoái chá!

Chưa hết! Chàng thư sinh phóng đãng còn tươi nét mặt, mà bưng mắt trần chơi trò ú tim, toan đạp toang cửa Phật, rồi nhơn nhơn du tử, muốn mượn cả tay Tạo Hoá để xoay lại cái trật tự thông thường là khí số mà Ông Xanh chủ trương sắp đặt! Thật liều lĩnh quá chừng, ngạo nghễ quá chừng! Thảo nào mà trời xanh ghen ghét! Nên chi:

Tưởng đến khi vinh hiển coi thường ; song nghĩ lại trần ai đếch chỗ!

Tài hoa đến thế, nghênh ngang như thế, tưởng rằng vinh hiển vào tay mình là lẽ đương nhiên, ai ngờ sự đời không phải vậy. Trời đã đánh ghen, thì kẻ tài tử ngạo mạn kia phải bị trừng phạt, phải bị đày xuống trần gian mà làm kẻ tội đồ, thậm chí Đếch có chỗ mà nương thân! Thế là từ tột đỉnh thăng hoa của niềm tin, của niềm kiêu hãnh, bỗng dưng rơi tõm xuống vực sâu cay đắng và thất vọng..

Đoạn văn tiếp đó, tả sự cùng cực của chàng tài tử đa cùng. 

Trước hết là sự cùng cực của nghèo đói. Nơi ở của chàng Nho sinh tài tử kia, chỉ là chiếc Lều nho nhỏ thôi. Lều, chứ không phải nhà. Lều nho nhỏ, lại lợp bằng tấm tranh lướp tướp, hứng chịu những ngày dài dằng dặc thê lương, với ào ạt mưa sa, với dập dồn những cơn gió thốc. Đèn đóm thì có đấy, nhưng chỉ là chiếc đèn cỏn con, dăm ba ngọn lửa huỳnh (đom đóm) thôi. Hàn sĩ co chiếc chiếu loi thoi mà ngồi đọc sách, rồi soi chung vầng trăng tỏ cùng thiên hạ…Sự ở là thế, đến sự mặc thì cũng chả hơn gì. Quanh năm, chỉ khoác chiếc áo Trọng Do (Tử Lộ, học trò Khổng Tử) bạc phếch, xác xơ, giãi dầu cùng mưa nắng cần lao. Sự ăn, cũng chỉ là cơm Phiếu Mẫu hẩm sì, chắp vá, cậy nhờ, khiến Nho sinh tài tử phải trải qua năm tháng ngậm ngùi tân khổ, xiết bao cay đắng! Quả là đói rách cơ hàn đã đến cùng cực rồi. Chịu đựng đã quá nhiều, chất chứa đã quá cao, gánh gồng đã quá nặng, nên chi thân xác hao gầy, gió trăng rơi rụng, sương tuyết hắt hiu, đành ngậm ngùi làm con nhạn vò võ cô đơn…

Nhưng chả lẽ cứ co ro ngồi ôm mộng hão, chịu cảnh cơ hàn mãi hay sao? Thế là chàng tài tử cũng “xách nón đeo bầu”, Túi thanh bạch ngược xuôi miền khách địa, trăm nghìn đường chỉ nhện dệt thưa mau. Vẫn là cảnh cực khổ rét mướt (Đèn toan hàn), đôi khi chỉ có dăm ba ngọn lửa huỳnh khêu nho nhỏ, tức thứ ánh sáng nhập nhoà của mấy con đom đóm cho vào trong lọ, học trò nghèo ngày xưa dùng nó để học. Ấy thế mà Miệng châu quế rì rầm học vấn, ra sức dồn nén chữ nghĩa thánh hiền vào trong bụng. Người nhà đôi khi cũng chán nản, như thể Chị chú Tô cẳn nhẳn chỉ hiềm nghèo, như thể Vợ anh Mãi băn khoăn từng kể khó! Mượn tích Tô Tần khi chưa thành đạt, về nhà chị dâu không thổi cơm cho ăn, rồi vợ Chu Mãi Thần thấy chồng nghèo, bỏ đi lấy chồng khác…, để kể cái cùng khốn của tài tử, cũng là để tự răn mình. Lại lấy tích Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn thóc nhà Chu, bỏ vào núi Thú Dương để giữ khí tiết, mà Xanh mắt Di nằm tót ngáy o o…Rồi còn ví mình như Lã Vọng ngồi câu thời bên sông Vị Thuỷ, đến bạc cả đầu mới ra giúp nhà Chu làm nên nghiệp lớn…Kẻ sĩ bền lòng, luôn là bài học sâu sắc cho những ai quyết tiến thủ theo đường công danh…

Vậy mà Trông ra nhấp nhố sóng nhân tình, ngoảnh lại vật vờ mây thế cố! Tác giả cho rằng cuộc đời như biển lớn, Trông ra, thấy sóng nhân tình nhấp nhố (chứ không phải nhấp nhô). Nhấp nhố, gợi sợ nhốn nháo, có ý mỉa mai chua chát. Tình người là thế. Ngoảnh lại, kìa thế cố, những biến cố của cuộc đời, như vật vờ mây nổi…sao chẳng ngậm ngùi?

Hai câu tiếp đó, cụ thể hoá hình ảnh cái Sóng nhân tình, cái Mây thế cố ở trên. Đó là những điều trông thấy, hàng ngày ở chốn cửa son. Bọn quan văn, những kẻ tham bề khoá lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn, cam phận sống cuộc đời công hầu vào luồn ra cúi, chỉ bo bo tìm cái lợi nhỏ, khư khư ôm lấy, tự trói mình vào áo cơm, thật nhục nhã, yếu hèn. Nhìn họ, mà thêm ngao ngán!

Còn như bọn võ quan, những người mang cái giàm danh, áo giới lân trùm dưới cơ phu (da thịt) mà cả đời Mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ, cũng chả hơn gì. Bọn họ, chung quy cũng chỉ là những kẻ Khéo ứng thù những đám quan trên, nịnh hót xu phụ, nhưng lại lạt lẽo vênh vang với những người cùng phố cùng phường, là những dân thường “thấp bé nhẹ cân”…. Chỉ một vài nét vẽ, tác giả đã dựng lên chân tướng của phần lớn những kẻ làm quan, bất tài, chỉ vì cơm áo mà cam phận khom lưng uốn gối. Giọng văn pha chút mỉa mai, châm biếm nhẹ nhàng, mà sâu sắc.

Còn như ta đây, dẫu là Tài tử đa cùng, nhưng Khét mùi thế vị chẳng thà không, lại vì muốn giữ tiết tháo, giữ danh thơm, cho nên mới khổ thế này!

Vậy nên, vì cái Tình uốn éo, vì những vô lý bất minh kia mà muốn vạch trời lên hỏi. Hỏi rằng Nào kiếp Chử Đồng (Chử đồng Tử) đâu tá, nỡ hoài chén ngọc để trần ai? Chử Đồng Tử, cùng vợ là công chúa Tiên Dung, bỏ cuộc sống trần gian mà bay về trời, thành tiên cả. Tác giả mượn tích này, có ý nói rằng tài tử như ta, mà đành bỏ phí. Không có đất có thời, thì đành toan vượt bể đi tu, tìm đến cõi tiên, đem thuốc tiên mà cứu giúp loài người! 

Còn như bài phú Đuổi cái nghèo (Phú trục bần) của Dương Hùng xưa kia, nếu còn thiêng, còn nghiệm, thì xin Tống bần quỷ, tức đuổi cái nghèo ra đến miền Đông Hải, thật xa giúp ta, để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài. Nghĩa là để ta đem hết tài năng, làm một cuộc đổi đời, khiến nhà nhà giàu có yên vui!

Còn nữa, ví phỏng câu văn Hàn Dũ có thiêng, thì xin tống cùng thần ra đến đất Côn Lôn, để ta gánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú! Hàn Dũ, văn nhân nổi tiếng đời Đường, có bài phú Tống cùng, tức Tống tiễn cái nghèo. Nghĩa là ta cũng muốn tống tiễn tất cả những quỷ nghèo, những ma cùng, để những người áo xanh (thanh khâm) có cơ hội đổi đời, cũng được xênh xang mặc áo gấm (cẩm tú) như ai ! Tóm lại, ta muốn đem tài trí của mình, quyết làm một cuộc cách mạng long trời lở đất, xác định lại tất cả các giá trị, xác định lại trật tự của sự công bằng. Những động từ “quyết xoay”, “quyết ném”, mạnh mẽ, thể hiện ý chí và nghị lực của chàng tài tử. Hơi văn hào sảng, thể hiện niềm tin tưởng sáng tươi. 

Có thể nói, Tài tử đa cùng phú chính là đỉnh cao của thiên tài Cao Bá Quát, về khả năng điều khiển ngôn ngữ dân tộc, được ghi bằng chữ Nôm. Chữ Nôm, đa nghĩa đa thanh, rất giàu âm sắc, như một phương tiện hữu hiệu, để chuyển hoá những vỉa mạch tâm tư, những lấp lánh sắc màu tâm hồn con người thời đại, tế vi, hoàn hảo. Ở đây. Cũng thấy rõ tầm tư tưởng lớn lao, phẩm chất tâm hồn và khát vọng mãnh liệt của một tài năng lớn, luôn bị ruồng rẫy, ghét ghen, bị xô đẩy đến bước đường cùng, muốn bay lên thoát vòng ô trọc, mà chưa thể bay lên với chín tầng mây trắng!

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}