Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Diễn đàn văn nghệ VN:

 

Chào đón công trình "Thi học cổ điển Trung Hoa"

PGS TS Lê Thời Tân | Thứ Năm, 06/10/2016 16:57 GMT +7

Công trình Thi học cổ Điển Trung hoa :Học phái – Phạm trù – Mệnh đề như chính tác giả chủ biên GS. TSKH. Phương Lựu đã nói, là một sự “quay về làm những công việc tự thấy còn dở dang ở phương Đông” sau quãng dài hai mươi năm “chuyển sang nghiên cứu lí thuyết văn học hiện đại và hậu hiện đại phương Tây”. Người trong cuộc đều biết “quay về... công việc còn dở dang” ấy cụ thể là quay để nối lại những việc của thời kì xuất bản Tinh hoa lí luận văn học cổ điển Trung Quốc (1989), như muốn hứa hẹn một bước tiến nữa trên con đường học thuật của tác giả .
Lướt qua một lượt mục lục đủ thấy sách kết cấu mạch lạc: Phần I-Các học phái chính yếu trong Thi học cổ điển Trung hoa, Phần II-Các hệ thống khái niệm cơ bản, Phần III – Hệ thống một số mệnh đề thiết yếu.
Phần I như nhan đề đã chỉ rõ là tập trung giới thiệu thi học Nho, Đạo, Thiền như là ba học phái chính yếu trong thi học cổ điển Trung Hoa. Phối hợp quan điểm hệ thống với quan điểm lịch sử, trước lúc giới thiệu ba học phái chính đó, tác giả cũng đã dành một chương “truy nguyên” sự xuất hiện các tư tưởng mĩ học và thi học Trung Hoa thời đại Chiến Quốc.
Phần II gồm sáu chương lần lượt dẫn giải thành hệ thống các khái niệm cơ bản trong thi học cổ điển Trung Hoa. Các khái niệm thi học Trung Hoa vốn được “hoạt dụng” tản mạn dưới ngòi bút của “chư tử”. Truyền thống huấn hỗ-chú giải của Trung Hoa càng làm cho chúng trở nên bội phần phức tạp. Trong tình thế đó, không  có con mắt đối chiếu Đông Tây thì rất dễ rơi vào khảo tả rời rạc. Phát huy kinh nghiệm thi học so sánh xuyên văn hóa (Intercultural comparative poetics),tác giả đã diễn giải hàng loạt các khái niệm thi học cổ điển Trung Hoa theo nhóm các phạm trù lớn - chủ thể sáng tác, tư duy nghệ thuật, tác phẩm, thể loại, và tiếp nhận văn học. Có thể có ý kiến cho rằng có những khái niệm không thuộc hẵn vào mục nói trên như “văn khí, tại sao không xếp vào phạm trù tác phẩm (trong chương 10—Hệ thống các khái niệm cơ bản của tác phẩm văn thơ)mà lại được dẫn giải như là một khái niệm tòng thuộc phạm trù chủ thể sáng tác(trong chương tám—Hệ thống các khái niệm cơ bản  về chủ thể sáng tác) ?... Nhưng ta cũng chớ quên trước khi thực hiện sự hệ thống hóa nhóm khái niệm vào từng phạm trù như thế, tác giả cũng đã có hẳn một chương “dọn đường” ở phía trước – Chương 7: Đặc điểm của khái niệm xét từ tư duy kinh nghiệm và Hán ngữ... Đặc điểm tự tại của Hán ngữ  có quan hệ chặt với cách “khái niệm hóa” của người Trung Quốc . Một vài trích dẫn rất đích đáng đủ để cho ta thấy tác giả công trình đã sớm dự tính tới khó khăn mà mình sẽ vấp phải khi buộc phải đương đầu với với cách trình bày “hệ thống hóa”này. Như nhà nghiên cứu Hán ngữ lừng danh Cao Danh Khải khẳng đinh: “Tiếng Hán thiên về tâm lí, nhẹ về hình thức” (Hán ngữ ngữ pháp luận).còn đại sư Hán ngữ học Vương Lực thì cho rằng:“Tây ngữ là pháp trị, Hán ngữ là nhân trị” (Trung Quốc ngữ pháp lí luận).
Bạn đọc sẽ còn tiếp tục thấy rõ hơn điều trên khi đọc tới Phần III trình bày Hệ thông một số mệnh đề thiết yếu. Điều thú vị phần ba này trên thực tế chính là một sự “lặp lại” theo dàn ý 6 phạm trù tương tự phần hai.Thử điểm lại tiêu đề một số chương trong phần III nay:Chương 14—Một số mệnh đề về nhà văn; Chương 15—Một số mệnh đề về tư duy nghệ thuật; Chương 16—Một số mệnh đề về tác phẩm.v.v..Chính sự “lặp lại” có chủ đích đó là một cách tô đậm và mở rộng vấn đề. Mao Tôn Cương dùng cụm từ phạm trung cầu tỵ để bình luận lối tự sự cố tình trùng lắp nhưng vẫn tránh được nhàm lặp trong Tam Quốc: “Tam Quốc có cái diệu giống cây khác cành, giống cành khác lá, giống lá khác hoa, giống hoa khác quả. Người làm văn lấy việc khéo tránh (trùng lắp) làm hay, mà cũng lấy việc biết phạm (điều đó) làm giỏi. Không phạm vào mà tìm cách tránh nó thì làm sao mà thấy khéo tránh ra sao. Chỉ chủ động phạm trước để tránh sau mới thấy được cái tài tránh.” (Độc Tam Quốc Chí pháp). Ta hoàn toàn có thể mượn “mệnh đề” phạm trung cầu tỵ vừa dẫn của Mao Tôn Cương để khen cách tác giả công trình Thi học cổ điển Trung hoa dùng sự “lặp lại” trong dàn ý giữa hai phần hai và phần ba nhằm mục đích khắc họa các luận điểm trong công trình của mình. Đến đây, độc giả hẳn đã có thể thấy rõ chính sự  tường minh trong thao tác quy loại “Học phái” “Phạm trù” “Mệnh đề” là cách làm hữu hiệu giúp ích cho tác giả trình bày hệ thống hóa một đề tài lớn – Thi học cổ điển Trung Hoa.
Và đây cũng là lúc ta phải nêu câu hỏi – vậy thì xuất phát từ một tầm nhìn như thế nào mà tác giả đã có thể “thỉnh mời” đồng thời ba học phái khác biệt Nho, Đạo, Thiền cùng “dự bữa tiệc” Thi học Trung Hoa nói chung đó? Tại sao tác giả lại không trình bày theo cách cứ mỗi học phái kèm theo một hệ thống phạm trù và mệnh đề riêng? Câu trả lời có thể tìm thấy ở hai chương giữa sách: Chương 5 - Xu hướng tam giáo hợp lưu trong thi học cổ điển Trung Hoa  và Chương 6 -  Từ mô thức tư duy Thiên nhân Hợp nhất đến Chuyển cảm luận - hạt nhân trong hệ thống thi học cổ điển Trung Hoa. Có thể nói hai chương này chính là bản lề nối chuyển hai nửa trước và sau của cuốn sách. Chính “bản lề” này cho phép một cách đọc khác đối với sách này – cách đọc-từ-giữa-ra. Nói cụ thể hơn, Chương 5 là một sự khép lại cần phải có cho Phần một, trong lúc Chương 6 chính là một sự khai mở cần thiết cho Phần hai Phần ba. Chính dẫn giải “hợp lưu” tam giaó, cùng “hợp nhất” thiên nhân ,đã tạo nền tảng nhận thức luận cho toàn bộ trình bày của sách này. Khỏi phải nói, cống hiến học thuật lớn lao của sách này nằm ở hai chương “bản lề” đó. Đó chính là việc nêu luận điểm cho rằng điều chính yếu trong thi học Trung Hoa là “chuyển cảm chứ không phải phản ánh hoặc biểu hiện thuần túy”.
 Nói chung, Thi Học Cổ Điển Trung Hoa (Học phái – Phạm trù – Mệnh đề) bộc lộ một hùng tâm tráng khí tổng luận và hệ thống hóa lí luận văn học nghệ thuật và mĩ học cổ-trung đại Trung Hoa. Một sự tổng luận phản phất ý thức “Văn-Triết-Mỹ bất phân”. Dĩ nhiên, từ khóa hàng đầu của bảng thuật ngữ nền tảng giúp đọc hiểu công trình này ắt hẳn phải từ “Thi học”. Từ này như ta thấy không từng được cắt nghĩa hay giới thuyết trực diện. Độc giả có thể cho đó là một cách dùng “mặc định”. Hoặc cũng có thể nói đó là một dụng ý của tác giả - dụng ý muốn cho độc giả tự “lấp đầy” nội hàm khái niệm đó sau khi đọc toàn sách. “Mặc định” hay “chủ tâm” – bất kể trường hợp nào đi nữa thì thuật ngữ “thi học”đã từng chính thức đi vào vốn ngữ vựng nghiên cứu lí luận phê bình Việt Nam.Thật ra ngay từ năm 2002 tác giả đã xuất bản cuốn sách nhan đề Từ văn học so sánh đến Thi học so sánh). Như thế thuật ngữ Thi học đã được chào đón như là một cách nói đồng nghĩa của “lí luận văn học” nhưng ít nhiều cũng có thể gợi băn khoăn về việc sẽ đồng hành thế nào với cụm từ thi pháp học đã phổ biến lâu nay?
Riêng cá nhân chúng tôi sau khi đọc một lượt sách này nhận thấy đây là thành tựu lớn, xứng đáng được xem là tập đại thành trong lịch trình nghiên cứu lí luận văn học Trung Quốc của các tác giả. Hy vọng sách sẽ là tài liệu tham khảo hàng đầu của các nhà nghiên cứu văn học cổ Trung Quốc nói riêng, văn hóa Trung Hoa nói chung.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}