Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Tác phẩm - Tác giả:

 

Chữ quốc ngữ với nền văn hóa nước nhà

Hoàng Quốc Hải | Thứ Tư, 17/02/2016 17:07 GMT +7

Tựa đề đặt ra như là một nghịch lý. Bởi nền văn hóa của một dân tộc phải gắn bó với ngôn ngữ và chữ viết của chính dân tộc ấy như một cơ thể sống. Ấy vậy mà lịch sử chữ viết của nước ta, đặc biệt là chữ Quốc ngữ lại xuất hiện khá muộn so với sự phát triển của tiếng Việt. Và gần hai ngàn năm ta phải đi mượn chữ.

Bài viết này không khảo sát về lịch sử ra đời của chữ Quốc ngữ mà chỉ nói lên tiện ích của nó và quá trình nó thực sự trở thành Quốc ngữ.

Tuy nhiên, để chữ Quốc ngữ có được vai trò như ngày nay, đã phải trải qua một quá trình vật lộn với biết bao đóng góp trí tuệ và công sức, kể cả tiền bạc của các bậc trí thức dấn thân nhằm phổ cập chữ Quốc ngữ.

Tôi không có ý định tìm hiểu xem ai là tác giả đã sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Cố Gaspard Amiral hay cố Antoine Barbore hoặc sớm hơn nữa là cố Francisco de Pina, tất cả đều là người Bồ Đào Nha, xuất hiện vào nửa đầu thế kỷ 17.

Nhưng dấu ấn làm ta lưu ý về chữ Quốc ngữ phải lấy mốc khi nó đã tương đối hoàn thiện vào năm 1651, khi cuốn “từ điển Annam-Latinh-Bồ Đào Nha” của cố Alexandre de Rhodes được công bố. Trong lời tựa cố Alexandre de Rhodes nói có dùng tài liệu ở cuốn “ Tự vị Annam Bồđàonha” của cố Gaspard Amiral và cuốn “Tự vị Bồđàonha Annam” của cố Antoine Barbore.

Thái độ trung thực ấy nói lên rằng, việc nghiên cứu để ra một thứ chữ cho người Việt Nam, hợp với tiếng nói của Việt Nam trải qua một thời gian khá dài, và qua nhiều người trong nhóm các cha cố người Bồ Đào Nha đi tiên phong chứ không thuộc về một cá nhân nào.

Sự thật thì những thừa sai của Chúa, chỉ muốn trong tay mình có một công cụ truyền giáo hữu hiệu nhất, nên họ lao vào tìm hiểu ngôn ngữ bản địa, chứ họ không có nhu cầu trở thành nhà ngôn ngữ học. Và cũng không riêng việc nghiên cứu chữ viết cho người Annam, trong đó có cả người Nhật Bản, người Cao Ly… Nhưng thành công nhất chỉ có chữ Quốc ngữ cho người Annam ở nước Việt Nam chúng ta ngày nay.

Bây giờ chúng ta muốn tìm xem ai là người đầu tiên, ai là tác giả, ai là người có công nhất đối với chữ Quốc ngữ để tri ân. Đó là công việc của các nhà nghiên cứu lịch sử, chứ các thừa sai của Chúa thực sự không quan tâm, cho dù các cụ có còn sống tới ngày nay cũng vậy thôi. Bởi công việc họ làm là bất vụ lợi.

Nhân đây cũng xin cải chính điều mà các lý luận gia, chính trị gia, sử gia nước ta từ sau 1954 cứ lớn tiếng lên án các cha cố Bồ Đào Nha, đặc biệt là cha Alexandre de Rhodes là người nhân danh truyền giáo để dẫn đường cho quân xâm lược Pháp đánh chiếm nước ta.

Nếu tính từ cuốn từ điển của cha Alexandre de Rhodes ra đời năm 1651 ( không kể từ trước đó rất lâu các đoàn truyền giáo đã có mặt ở hai xứ (Đàng trong và Đàng ngoài), tới khi thực dân Pháp ký Hòa ước Patenôtre năm 1884 ( Giáp thân ), thực chất là Hiệp ước đầu hàng của nhà Nguyễn.

Vậy là hai sự kiện cách nhau tới 233 năm mà các lý luận gia của ta cứ nhắm mắt phang một cách mù lòa, bất chấp cả sự thật và các dấu mốc lịch sử.

Chúng ta tổ chức hội thảo này nhằm đặt đúng vị trí của sự kiện, đồng thời cũng là lời tạ lỗi muộn mằn.

Trở lại vấn đề chữ Quốc ngữ. Nếu lấy dấu mốc năm 1651 là khi in cuốn “ Từ điển Annam Latinh Bồđàonha” của cố Alexandre de Rhodes tới khi tờ Gia Định Báo in bằng chữ Quốc ngữ ra số đầu, năm 1865 do một người Pháp tên Potteaux sáng lập và ông Trương Vĩnh Ký làm chủ bút, thì giới trí thức Việt Nam đã bỏ lỡ cơ hội tới hơn 200 năm. Nghĩa là trong hơn 200 năm đó, người Việt vẫn để cho thứ chữ viết của mình yên nghỉ trong các thư viện của giáo hội La Mã.

Trương Vĩnh Ký chắc là người Việt Nam đầu tiên ấp ủ đưa thứ chữ có nguồn gốc Latinh này trở thành chữ viết của nước nhà, nên ông trau chuốt kỹ năng không chỉ về âm vị mà còn về mẹo luật ( ngữ pháp ) nữa. Nếu ta so một số văn bản mà các giáo sĩ Bồ Đào Nha viết từ thế kỷ 17 đến các bài báo đầu tiên của học giả Trương Vĩnh Ký, thì thấy Trương Vĩnh Ký đã bỏ xa những người ngoại quốc sáng tạo chữ Quốc ngữ, và ông cập nhật với đời sống không khác ngôn ngữ ngày nay là bao (đương nhiên văn ý không được sáng sủa và văn chương không được mạch lạc như ngày nay). Trích một đoạn trong “Phép giảng tám ngày” của Alexandre de Rhodes in năm 1651:

“ Phép giảng tám ngày. Ngày thứ nhít. Ta câu cũ đức Chúa blời giúp Fức cho ta biết tỏ tường đạo Chúa là nhưặng nào vì bậy ta phải hay ở thế nầy chảng có ai Fóu lâu; vì chưng kẻ đến bảy tám mươi tuổi chảng có nhẽo, vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được Fóu lâu…”

Chuyển sang cách viết ngày nay đoạn văn trên như sau: “ Phép giảng tám ngày. Ngày thứ nhất. Ta cầu cúng đức Chúa trời giúp sức cho ta biết tỏ tường đạo Chúa là nhường nào, vì vậy ta phải hay ở thế giới này chẳng có ai sống lâu; vì chưng kẻ đến bảy tám mươi tuổi chẳng có nhiều, vì vậy ta nên tìm đàng nào cho được sống lâu…” (1)

Và đây là đoạn văn viết vào cuối thế kỷ 19 của Trương Vĩnh Ký trong cuốn “Chuyến đi bắc Kỳ năm Ất hợi”( 1875 ) in năm 1881.

“… Coi rồi mới ra đi đến xem chùa Một Cột, là cái miếu cất lên trên đầu cây cột đá lớn trồng giữa ao hồ. Nguyên tích ai thiết lập ra thì người ta nói mờ ơ, không biết lấy đâu làm chắc mấy. Cứ sách Sử ký và ĐạiNam Nhứt Thống Chí thì chùa… Sử chép rằng: “Thuở xưa vua Lý Thái tông nằm chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi tòa sen dắt vua lên đài. Tỉnh dậy họp với quần thần, sợ điềm có xấu có hệ chi chăng. Thì thày chùa thày sãi tâu xin lập ra cái chùa thế ấy, đặng cho các thày tụng kinh mà cầu diên thọ cho vua, thì vua cho và dạy lập ra”. ( 2 )

Vậy là nhóm trí thức miền Nam đã tiên phong trong việc dùng chữ Quốc ngữ. Nhưng từ khi nhóm các nhà trí thức miền Bắc vào cuộc thì phong trào phổ cập chữ Quốc ngữ mới thật sự rầm rộ. Trong phong trào mang tính cách mạng về chữ Quốc ngữ này, phải kể đến ông Nguyễn Văn Vĩnh là người lính xung kích. Từ 1907 ông đã cho ra tờ “Đại Nam đồng văn nhật báo” in bằng chữ Quốc ngữ, sau 793 số thì đổi tên là “Đăng cổ tùng báo”. Ngay số đầu tiên của “Đăng cổ tùng báo” ra ngày 28 tháng 3 năm 1907 đăng bài cổ vũ chữ Quốc ngữ trên trang đầu: “ Người Annam nên viết chữ Annam”.

“Đăng cổ tùng báo” thực sự là một tờ báo có tính chất báo chí rõ rệt. Từ tin trong nước, tin thế giới, các chuyện bán buôn, chuyện gia đình, thơ phú và mọi ngóc ngách trong đời sống, không mặt nào là không được bàn trên mặt báo.

Sau đó nhiều trường và hội đoàn ra đời, chủ trương giảng dạy, cổ vũ cho mọi người học chữ Quốc ngữ. Tiêu biểu là trường Đông Kinh Nghĩa Thục của các nhà nho yêu nước như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Lê Đại, Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Phan Lang, Nguyễn Văn Vĩnh…

Hội Trí Tri ngoài diễn thuyết cổ vũ cho việc học chữ Quốc ngữ còn mở trường giảng sách mỗi tuần 3 buổi vào thứ hai, thứ tư, thứ sáu…

Hội Trí Tri lại lập ra Hội dịch sách có tới 300 hội viên do ông Nguyễn Văn Vĩnh đứng đầu. Họ chọn dịch các sách hay đông tây kim cổ. Trong đó có nhiều cây bút nho học xuất sắc như các cụ Phan Kế Bính dịch Tam quốc diễn nghĩa, Gia sản một bức tranh, Mùi hương pha lẫn mùi dầu…

Cụ Nguyễn Đỗ Mục dịch Đông Chu liệt quốc, Song phượng kỳ duyên, Tái sinh duyên… Những bản dịch đó tới ngày nay vẫn là những bản dịch mẫu mực và hay nhất.

Ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch: Thơ ngụ ngôn của La Fontaime, Ba người ngự lâm pháo thủ của A. Dumas, Những kẻ khốn nạn của V. Hugo, Miếng da lừa của H. Balzac v.v… Ông Nguyễn Văn Vĩnh còn dịch Truyện Kiều của nguyễn Du sang tiếng Pháp…

Một thời gian sau trong dân chúng cả nước đã có nhiều người biết chữ Quốc ngữ. Hàng loạt các nhà in, nhà xuất bản, các báo hàng ngày, báo tuần xuất bản bằng chữ Quốc ngữ. Theo đó văn phái Tự lực văn đoàn và báo Phong Hóa, Ngày Nay cùng các trào lưu văn chương khác xuất hiện vào thập niên 30 của thế kỷ 20, thời cuộc cách mạng chữ viết của nước ta coi như đã thành công mĩ mãn.

Thật ra có được thành công này, là do trí thức cả nước gồm cựu học và tân học, đều gây sức ép phải bãi bỏ lối thi cử chữ Hán quá lạc điệu so với văn minh thời cuộc.

Việc thành công của cuộc cách mạng chữ Quốc ngữ cũng phải kể đến sự hậu thuẫn có hiệu quả của chính quyền thực dân. Đó là vào năm 1905 bãi bỏ việc thi chữ Hán ở Bắc kỳ, tiếp đó vào năm Khải Định thứ 3 (1918 ) là kỳ thi chữ Hán cuối cùng tại triều đình Huế ,thì hoàn toàn chấm dứt việc thi cử bằng chữ Hán trên cả nước. Chữ Hán chỉ còn được dạy trong trường phổ thông từ trung học đệ nhất cấp như một ngoại ngữ, và 1 tuần học sinh chỉ được học 1 giờ. Trong khi đó, chữ Quốc ngữ và chữ Pháp học sinh được học như một thứ bản ngữ.

Thực ra chính quyền thực dân buộc phải làm như vậy, một phần do sức ép của công chúng Việt Nam, nhưng phần quan trọng là nó muốn chấm dứt ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, nhằm tẩy não giới trí thức nho sĩ người Việt Nam, và đưa văn hóa Pháp vào với lớp trí thức trẻ, họ nhạy bén và ưa cái mới.

Vì sao cuộc cách mạng chữ Quốc ngữ của nước ta lại đạt thành tựu vĩ đại như vậy? Xét thấy có mấy lý do:

1/ Chữ Hán xưa học cho được thông thạo, đòi hỏi người học phải kiên nhẫn, trong thời gian tối thiểu từ 7 đến 10 năm mới tạm có trình độ tham gia khoa cử.Nhưng thứ chữ này khi đọc lên chỉ có những người có trình độ học vấn như nhau mới hiểu được nội dung, còn bà con đồng bào mình nghe mà chẳng hiểu cái chi mô. Và như vậy, trong dân chúng không phải ai cũng có hoàn cảnh theo học.

2/ Nhiều bậc học rộng và có tâm huyết đã  sáng tạo ra một thữ chữ Nôm, để diễn tả tiếng nói của người mình. Nhưng muốn đọc được chữ Nôm lại phải thông thạo chữ Hán. Vả lại, nó không có một qui tắc ngữ pháp nào làm chuẩn mực. Và dường như nó trái qui luật, bởi phải dùng ngoại ngữ để học tiếng mẹ đẻ. Vì thế, hơn ngàn năm Bắc thuộc, chữ nho vẫn là một thứ ngoại ngữ mà giới thống trị và nho sĩ nước nhà tạm mượn, để dùng trong văn thư hành chính và ghi chép lại văn chương và văn hóa của nước mình.

3/ Chữ Quốc ngữ ghi lại được đúng âm chuẩn của người Việt, đọc lên từ người có học đến người mù chữ đều hiểu được nghĩa của nó.

4/ Chữ Quốc ngữ học rất dễ. Người thông minh chỉ sau vài giờ là biết cách đọc tiếng Việt. Và nếu học liên tục, có nhẽ chỉ sau 1 tuần lễ là thoát nạn mù chữ. Người có chỉ số thông minh trung bình, học liên tục 4 tuần lễ là đọc, viết thông thạo. Người chậm hiểu, phải học 12 tuần lễ mới đọc thông viết thạo.

Khó có một thứ ngôn ngữ văn tự nào trên thế giới lại dễ học đến như vậy.

Chữ Quốc ngữ cấu tạo theo hệ Latinh, cho dù người ngoại quốc chưa học, vẫn có thể theo qui tắc ngữ âm mà ghép vần thành từ ngữ được.

5/ Không chỉ các trí thức theo phái tân học dấy lên phong trào cả nước học chữ Quốc ngữ mà các bậc đại nho trong phái cựu học như Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Trọng Thuật v.v… Người thì dịch sách Tầu, sách Tây ra tiếng Việt ( chữ Quốc ngữ), người thì sáng tác bằng chữ Quốc ngữ. Chính Nguyễn Trọng Thuật đã viết tiểu thuyết “Quả dưa đỏ” và được giải thưởng văn chương do Hội Khai Trí Tiến Đức trao năm 1925. Tới thập niên 30 của thế kỷ 20, với sự ra đời của văn phái Tự Lực văn đoàn cùng các văn phái khác, thì Quốc ngữ đã đẩy chữ nho xuống hàng thứ yếu và giành thế thượng phong trên mặt trận ngôn ngữ văn tự.

Lần đầu tiên trong lịch sử Bốn ngàn năm, nước ta có chữ- một thứ chữ mà bất cứ ai muốn học cũng có thể học. Và nó dễ học một cách lạ lùng. Ông Nguyễn Văn Vĩnh, một trong những người tâm huyết nhất trong việc phổ cập chữ Quốc ngữ. Ông mở báo, lập nhà in, in sách báo, tài liệu học chữ Quốc ngữ phát không cho các thầy đồ để các thầy dạy trẻ bằng chữ Quốc ngữ. Chính ông Vĩnh đã say sưa thốt lên: “ Nước ta sau này hay hay dở là ở như chữ Quốc ngữ”.

Suốt hai ngàn năm ông cha ta đã nhiều lần tìm cách thoát Trung, tức là thoát khỏi ách đô hộ của phương Bắc. Cuộc thoát Trung đầu tiên là khởi nghĩa giành chính quyền năm 43 của Hai Bà Trưng. Tiếp đến thời kỳ độc lập tự chủ do Ngô Quyền mở ra từ nửa đầu thế kỷ thứ 10. Tiếp đến Đinh, Lê, Lý. Trần, Lê, Nguyễn vẫn kiên trì đường lối thoát Trung. Nhưng mới chỉ thoát khỏi sự chiếm đóng chứ chưa thoát được về văn hóa. Vẫn lệ thuộc vào văn tự của họ, đương nhiên từ văn tự nó sẽ lan tỏa qua tư tưởng và từ đó nó vẫn chi phối nhân sinh quan của người Việt.

Chỉ đến cuộc cách mạng chữ viết vào đầu thế kỷ 20 thắng lợi, mới giúp ta có cơ sở thoát Trung một cách cơ bản về văn hóa thật là ngoạn mục.

Tới đây có thể kết luận: thực dân phương Bắc với mưu toan dai dẳng suốt hai ngàn năm nhằm:

Đồng hóa nước ta về bờ cõi.
Đồng hóa dân tộc ta về phong tục.
Đồng hóa dân tộc ta về huyết thống.
Đồng hóa dân tộc ta về ngôn ngữ, văn tự.

Tất thẩy chúng đều thất bại.

Vẫn là: “Sông núi nước Nam vua Nam ở”. Và “Núi sông bờ cõi đã riêng, phong tục Bắc- Nam cũng khác”. Nếu coi đây là hai bản tuyên ngôn độc lập của nước ta, thì tuyên ngôn độc lập 2 tháng 9 năm 1945 là tuyên ngôn độc lập lần thứ ba.Thật là một quá trình dựng nước gian nan.

Tới nay, các đế quốc xâm chiếm nước ta, đều trở thành bè bạn với ta,trừ đế quốc phương Bắc chưa bao giờ nguôi khát vọng đối với đất đai sông núi, biển đảo và cả văn hóa đối với dân tộc ta.

Chữ Quốc ngữ đã trở thành một trong những vũ khí sắc bén nhất trong công cuộc giữ nước và xây dựng đất nước.

Chữ Quốc ngữ tới nay đã dùng thống nhất trên mọi miền đất nước, trên đủ mọi lĩnh vực từ luật pháp, văn chương, khoa học nhân văn và khoa học tự nhiên. Điều đó tự nó nói lên nó là một thứ ngôn ngữ mạnh. Cùng với chữ viết thống nhất, ta lại có tiếng nói thống nhất suốt từ đầu nước đến cuối nước, cũng là một sức mạnh tiềm ẩn để giữ nước.

Hơn hết, lịch sử dân tộc Việt Nam trải Bốn ngàn năm, tất thẩy đều được ghi chép bằng chữ Quốc ngữ. Kho sách Hán Nôm đồ sộ lưu chép từ Lý _Trần tới gần đây gồm trên 5 vạn bản, đang lần lượt được dịch sang chữ Quốc ngữ.

Vậy đó, chữ Quốc ngữ đã trở thành một tài sản khổng lồ nằm trong hương hỏa của nền văn hóa dân tộc.

Nếu như các nhà ngôn ngữ Việt Nam lại xây dựng được một hệ ngữ pháp thật sự chuẩn mực và khoa học, chắc chắn sức lan tỏa của tiếng Việt không chỉ bó gọn trong biên giới quốc gia.

Bình Định không chỉ là một trong những cái nôi đầu tiên gieo mầm cho sự phát sinh và phát triển chữ Quốc ngữ, mà còn là một trong những địa danh văn hóa nổi tiếng của đất nước. Trên địa bàn này đã diễn ra không biết bao nhiêu sự kiện lịch sử và biến cố lịch sử quan trọng trải hơn10 thế kỷ . Tôi đề nghị lãnh đạo tỉnh Bình Định thay mặt cả nước ( trước khi vấn đề này trở thành nhận thức mang tầm cỡ quốc gia) lập một ngôi đền khiêm tốn, trong đó có hình ảnh của tất cả các nhà truyền giáo đã có công sáng tạo ra chữ Quốc ngữ. Và ta nên chọn lấy một ngày để hằng năm làm lễ tưởng niệm những người đã khai sinh ra Chữ Quốc Ngữ.

Thiết tưởng, đó là sự tạ lỗi muộn mằn, sau nhiều thập niên ta đã vu buộc cho các nhà truyền giáo thế kỷ 17, những thứ tội mà không bao giờ thuộc về họ. Nếu không làm điều này, người Việt Nam ta sẽ mang tiếng vong ân bội nghĩa. Và mỗi chúng ta khi sử dụng chữ viết này, một khi đã biết rõ nguồn gốc nhưng lại giả vờ quên, cũng khiến lương tâm ta khó yên ổn.

 

                                       Hà Nội ngày 20.12.2015

                                                       HQH

-----------------------------------------

( 1,2 ): Trích trang 50,58 tác phẩm Chữ Quốc Ngữ và cuộc cách mạng chữ viết đầu thế kỷ 20 của cố nhà văn Hoàng Tiến.(Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước- Ký hiệu kx 06-17) công bố năm 1994.

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}