Hotline: 04 3511 2850 | Liên hệ

Khoa học:

 

Chuyện chưa kể về một Anh hùng Liệt sĩ đang được vinh danh tại Truông Bồn: Một Nhà khoa học trẻ 26 tuổi đã được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh!

Đặng Vương Hưng | Thứ Ba, 04/07/2017 15:40 GMT +7

Trong số các liệt sĩ được vinh danh tại Khu di tích Lịch sử Truông Bồn (Nghệ An) có một Anh hùng với số phận bi tráng, bởi hi sinh trong trường hợp rất đặc biết.

Đó là một nhà khoa học trẻ đầy tài năng, gần 30 năm sau khi anh ra đi, công trình nghiên cứu quốc phòng bí mật mà anh đã có những đóng góp tích cực về giải pháp khoa học công nghệ đã được Đảng và Nhà nước ta tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh cao quý.

Chân dung Anh hùng liệt sĩ Hoàng Kim Giao thời trẻ.

Nhà khoa học trẻ ấy là thiếu uý, kỹ sư Hoàng Kim Giao (1941-1968). Vốn thông minh, học giỏi, lại chịu khó, nên mới 26 tuổi, Hoàng Kim Giao đã có hai bằng đại học, sử dụng thành thạo tiếng Trung Quốc và tiếng Nga... Nhưng chiến tranh đã cướp đi cuộc đời của nhà khoa học trẻ, khi mà bao khát vọng cống hiến của anh vẫn còn dang dở...

Gần 40 năm sau, cái chết oanh liệt của nhà khoa học trẻ đã được những người bạn cùng chiến đấu với anh làm sáng tỏ...

*

Hoàng Kim Giao sinh ngày 25-12-1941 (tuổi Tân Tỵ) tại Đồ Sơn - Hải Phòng, trong một gia đình trung lưu, có 8 anh em, Giao là con trai cả. Người cha của anh - ông Hoàng Văn Luận từng là Tham mưu trưởng Bộ chỉ huy Quân sự Hải Phòng trước khi chuyển ngành về làm Bí thư Đảng uỷ Nhà máy Cơ khí Duyên Hải. Ông cũng chính là người đã có sáng kiến phát động phong trào “Sóng Duyên Hải”, để góp vào “Gió Đại Phong - sóng Duyên Hải - cờ Ba Nhất” nổi tiếng một thời.

Trong kháng chiến chống Pháp, cậu bé Hoàng Kim Giao theo cha mẹ lên chiến khu Việt Bắc, rồi được gửi đi học tại trường thiếu sinh quân ở Quế Lâm - Trung Quốc trong 7 năm (1952 – 1959). Cậu vinh dự có tên trong danh sách 34 chiến sĩ thiếu sinh quân đầu tiên của Việt Nam, do chính Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký. (Theo truyền thống 34 chiến sĩ Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo Cao Bằng năm 1944).

Hoàng Kim Giao cùng cha mẹ và các em trong gia đình trước khi ra trận và hi sinh.

Những năm 1961 – 1965, Hoàng Kim Giao được quân đội gửi vào học ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (chuyên ngành Vật lý hạt nhân), đồng thời là học viên Trường sĩ quan Kỹ thuật của quân đội... Thông minh, học giỏi, lại chịu khó, nên mới 26 tuổi, anh đã có hai bằng đại học. Sau khi được điều về công tác tại Cục nghiên cứu Kỹ thuật, thuộc Tổng cục Hậu cần - Bộ Quốc phòng (nay là Phân viện Điện tử Viễn thông, thuộc Viện Kỹ thuật Quân sự - Bộ Quốc phòng), Hoàng Kim Giao còn tranh thủ học thêm về chuyên ngành vô tuyến điện ở Đại học Bách khoa Hà Nội. Nhận rõ khả năng phát triển của người cán bộ trẻ, quân đội đang chuẩn bị cho anh đi nghiên cứu sinh tại Liên Xô... Cũng trong thời gian này, Hoàng Kim Giao tự học các ngoại ngữ Anh, Pháp và Tây Ban Nha... Anh quyết tâm nắm vững các ngoại ngữ này. Tủ sách riêng của anh có hàng ngàn quyển, chất đầy các loại từ điển và ngoại ngữ. (Sau ngày Hoàng Kim Giao hy sinh, số sách này đã được gia đình tặng lại cho đơn vị của anh).
Nhưng đó cũng là thời điểm không quân Mỹ đánh phá ác liệt miền Bắc nước ta. Hàng triệu tấn bom đạn đã trút xuống các tuyến giao thông huyết mạch trên đất liền và cả trên biển; trong đó có nhiều loại vũ khí hiện đại nhất hồi ấy như bom từ trường và thuỷ lôi từ tính nổ chậm, để ngăn chặn các phương tiện vận tải của ta phục vụ hậu cần cho kháng chiến... Điều đó đã khiến cho giao thông đường bộ, đường thuỷ của ta gặp không ít khó khăn và thiệt hại.

Một nhóm các kỹ sư của Cục Nghiên cứu Kỹ thuật trong đó có Hoàng Kim Giao, được giao nhiệm vụ nghiên cứu tìm giải pháp công nghệ cho công trình “Phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường bảo đảm giao thông 1967 – 1972”. Đây là một trong những công trình khoa học do Bộ Quốc phòng chủ trì, mang tính sống còn của ngành giao thông vận tải miền Bắc hồi đó, nên nó đã được tuyệt đối giữ bí mật. Mỗi nhóm nghiên cứu chỉ được biết riêng nhiệm vụ của mình. Tham gia đề tài khoa học này, có những người rất nổi tiếng như GS.TS Đàm Trung Đồn, TS. Trịnh Đông A...

Riêng với Hoàng Kim Giao, là một trong những người đầu tiên nghiên cứu về bom từ trường, anh đã say mê công việc nghiên cứu tới quên ăn, quên ngủ. Người nhà kể lại: Có lần, Giao được đơn vị cử về huyện Thuỷ Nguyên gần nhà để sửa chữa một dàn rađa bị trục trặc của một đơn vị tên lửa. Giấy công tác của đơn vị cho phép thời gian là 7 ngày, nhưng vốn thông minh lại chăm chỉ, nên chỉ 2 ngày anh đã xong nhiệm vụ. Lẽ ra, Giao có quyền được nghỉ ngơi tại nhà 5 ngày còn lại, nhưng anh chỉ rẽ qua nhà thăm bố mẹ và các em. “Nhiệm vụ chiến đấu rất khẩn trương, nhiều công việc đang chờ con, về đơn vị sớm giờ nào, đỡ cho đồng chí, đồng đội khó khăn giờ đó” – Anh nói vậy rồi vội vàng trở về đơn vị công tác ngay.

Trước ngày ra chiến trường, Giao được đơn vị cho nghỉ phép. Nhưng anh chưa hết đợt phép, thì Đài tiếng nói Việt Nam thông báo cơn bão số 7 sắp tràn về. Đó là cơn bão lớn của năm 1968 đã đổ bộ vào khu vực Hải Phòng – Hà Nội và các tỉnh lân cận. Lo ngại mưa lớn sẽ làm tắc đường, không lên được đơn vị đúng hẹn, Giao đã quyết định lấy xe đạp đi suốt đêm để trở về đơn vị. Cả gia đình ngăn sao cũng không được, người cha đành yêu cầu cậu em trai của Giao đạp xe cùng anh. Đêm ấy, họ đã gặp bão giữa đường. Mưa to, gió thổi mạnh, cả hai anh em đều ướt hết và ngã xe đạp nhiều lần.

Trong thư đề ngày 14-9-1968 gửi cho gia đình, anh viết: “Hôm ở nhà đi, con biết cậu mợ giận con nhiều, con cũng muốn ở lại nhà dù chỉ một vài giờ cũng thật là quý, thật ấm cúng. Nhưng con không muốn vì thế mà mọi người xung quanh nghĩ không đúng về con, về gia đình ta. Đến 9 giờ sáng hôm sau thì con tới đơn vị...”. Và lần đó, vừa về tới đơn vị, Giao lại lao vào làm việc ngay để chống bão, suốt đêm lặn lội lái xe, thu xếp tài liệu không ngủ... Hậu quả của sự cố gắng quá sức đó là anh đã bị cảm, sốt mê man mấy ngày liền và ốm nửa tháng trời...

Từ lý thuyết đến thực hành là cả vấn đề cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công của mỗi đề tài khoa học. Trong điều kiện chiến tranh còn nhiều thiếu thốn, cuối tháng 9-1968, mặc dù chưa hoàn toàn bình phục sau trận ốm vì gặp mưa bão, Hoàng Kim Giao vẫn xung phong dẫn một đoàn công tác đặc biệt trực tiếp vào chiến trường khu 4, để thực hành nghiên cứu cách tháo gỡ các loại bom từ trường mới nhất của địch vừa ném xuống chiến trường, thu chiến lợi phẩm về nghiên cứu; đồng thời, huấn luyện hướng dẫn cho bộ đội và thanh niên xung phong các đơn vị địa phương phá bom từ trường nổ chậm. Đoàn gồm 6 người, do thiếu uý Hoàng Kim Giao làm trưởng đoàn, và hạ sĩ Lưu Tuấn Kiệt (hiện là nhà thơ, sống và làm việc tại tỉnh Hưng Yên) làm phó đoàn. Ngoài ra còn có các chiến sĩ: Cư, Tước, Thái và Tín. Sau đó, ngoài đoàn công tác của Hoàng Kim Giao, còn có đoàn công tác khác của đồng chí Thái Quang Sa cũng lên đường vào Quân khu 4 và mặt trận 559 (đọc Những trang hồi ký về Viện Kỹ thuật Quân sự, xuất bản năm 1995, trang 179, 341…).

Từ Hà Nội, đoàn công tác đặc biệt của anh Giao được bố trí nhờ xe của một vị tướng đi đường tắt để vào miền Trung. Tới Tân Kỳ (Nghệ An), thì hết đường ô tô. Theo yêu cầu gấp rút của chiến trường, để cơ động nhanh và an toàn, đoàn công tác đã được Bộ Tư lệnh 500 “ưu tiên đặc cách” cấp tạm thời mỗi người một chiếc… xe đạp “Vĩnh Cửu” của Trung Quốc – một phương tiện cá nhân rất quý hiếm hồi đó. Nhưng gay go nhất là phó đoàn Lưu Tuấn Kiệt lại không biết đi xe đạp! Anh em phải cấp tốc tập xe đạp cho Kiệt. Sau hơn một giờ, anh này ngồi lên đạp được, dù chưa vững, nhưng đoàn vẫn phải lên đường ngay. Những ngày đầu, Kiệt được ưu tiên đi xe không (không phải thồ hàng), vậy mà anh vẫn ngã lên ngã xuống, có lần còn đâm cả người và xe xuống hố bom đầy nước, làm cả bọc lương khô của đoàn bị ngâm nước. Anh em tiếc rẻ, phải động viên nhau ăn lương “khổ” trừ bữa.

Vừa hành quân, vừa phá bom từ trường theo yêu cầu của các đơn vị và nhân dân địa phương dọc đường đi, nên phải mất cả tháng trời, đoàn công tác đặc biệt mới vào tới Hà Tĩnh…

Hồi đó, khu 4 được mệnh danh là “tuyến lửa”, với những “nút” giao thông quan trọng, đã tạo nên những trọng điểm đánh phá ác liệt nhất của không quân Mỹ. Những cái tên như: Đồng Lộc, Ô Dước, Truông Bồn, Khe Tang, Khe Ve... đã hằn sâu trong ký ức về bom đạn của những người đã đi qua đó trong chiến tranh dù chỉ một lần. Cả một vùng mênh mông đỏ ối màu đất mới và khói bụi. Không còn khoảng trống nào nguyên vẹn, đến cỏ cũng không kịp mọc, vậy mà con người vẫn phải bám trụ và chiến đấu.

Trong lá thư cuối cùng gửi về cho cha mẹ trước khi hy sinh, Hoàng Kim Giao viết có đoạn:

“Từ 29-9 con bắt đầu đi vào khu 4. Hiện giờ con đang ở Hà Tĩnh và sắp tới con sẽ đi vào Quảng Bình và sâu hơn chút nữa...

Cùng đi với con còn có 5 đồng chí chiến sĩ nữa. Đi để thu thập chiến lợi phẩm và phá bom nổ chậm. Một tháng qua con đã phải đi khá nhiều đường đất vất vả và cả đói nữa, nhưng cũng có nhiều điều đáng mừng. Con được đi tới những vùng ác liệt nhất của chiến trường khu 4. Ở đây, có những quãng chỉ 2 km mà địch đã trút xuống 5.000 quả bom! Ở đây, có những đội thanh niên xung phong cùng với mặt đường phải chịu từng ấy bom đạn và trong đội ngũ kiên cường đó những chiến sĩ phá bom là những người được yêu quý nhất. Có những lúc chúng con phải phá bom trên sông, trước mặt bao cảnh thương vong vì bom đạn giặc, con vẫn dẫn đầu anh em bơi lội trên sông, phá thông luồng lạch, tạo một niềm tin vững chắc cho các chiến sĩ giao thông.

Có những lúc chúng con phải phá bom mở đường ở các trọng điểm đánh phá trên bộ, dưới làn bom đạn dày đặc của máy bay giặc Mỹ. Bị sức ép nhiều lần, anh em thương vong gần hết, nhưng con của cậu mợ vẫn vững vàng tổ chức các đồng chí đảng viên gan dạ nhất phá sạch bom đạn giặc, cho xe thông đúng 12 giờ sau lệnh ngừng bắn. Anh em lái xe trên tuyến đường này đã dành cho chúng con những phần thưởng rất đáng quý.

Dù đứng giữa bãi bom của địch, hay dưới làn mưa đạn máy bay, con của cậu mợ vẫn vững vàng tiến lên phía trước. Cậu mợ ạ, ở đây chuyện sống chết đặt ra không phải từng ngày, mà từng giờ một. Có đồng chí vừa thăm con, nửa tiếng sau đã bị hy sinh. Có lúc con đã phải động viên sự hy sinh của từng người. Những lúc đó, như mọi người, con cũng nghĩ tới chuyện sống chết. Con nghĩ nếu con hy sinh thì trước mắt sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, không đầy đủ trách nhiệm với các đồng chí cùng đi. Cậu mợ và các em con sẽ thương nhớ con nhiều. Sức khoẻ của cậu mợ cũng mau bị giảm sút. Tuy vậy không phải lúc nào con cũng được cân nhắc tới chuyện sống chết. Bởi con nghĩ rằng cần phải sống, nhưng không thể từ bỏ hay trốn tránh những hy sinh cần thiết! Và lúc đó con lại vững vàng tự tin đứng giữa bãi bom...

Lệnh ngừng bắn đã tạo cho chúng con thuận lợi lớn trong công tác, nhưng những hy sinh của các chiến sĩ phá bom vẫn còn tiếp tục. Mỗi khi đứng trước những quả bom nổ chậm, hay chờ tiếng bộc phá nổ, con thường nghĩ tới cậu mợ, tới các em ở xa...

Cậu mợ và các em có biết con sẽ thế nào không, nếu quả bom nổ?
Những lúc đứng giữa cảnh chết chóc hoang tàn đó, con nghĩ nhiều đến hạnh phúc gia đình, nghĩ tới ngày sum họp, nghĩ tới những ngày hoà bình và con luôn ước mơ ngày về gặp mặt cậu mợ và các em con. Con luôn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ để Tết có thể về nhà với gia đình, ngày ấy nhất định sẽ tới...”.

Nhưng Hoàng Kim Giao đã không bao giờ trở về nữa. Đoàn công tác đặc biệt của anh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hướng dẫn cho các đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong phá và tháo gỡ được hàng ngàn quả bom nguy hiểm. Riêng Hoàng Kim Giao cũng đã trực tiếp hàng trăm lần đối mặt với tử thần. Anh đã sử dụng các thiết bị kỹ thuật như xe chuyên dụng phóng từ, khung dây PK, và cả những phương pháp cổ điển thô sơ nhất… phá được 72 quả bom nổ chậm, trong đó có 40 quả bom từ trường. Nhưng định mệnh nghiệt ngã đã đến với nhà khoa học trẻ vào ngày cuối cùng của năm 1968. Anh hy sinh khi bao dự định, ước mơ về các công trình nghiên cứu khoa học còn dang dở...

(Còn nữa)

Chia sẻ 04/7/2017
Đ-V-H

Bình luận ({{total}})

{{item.Body}}

{{item.Title}} - {{item.CreatedDate}} | Trả lời

{{sitem.Title}} - {{sitem.CreatedDate}}

Viết bình luận

Bạn đọc vui lòng gõ chữ có dấu, góp ý có tính văn hóa, xây dựng và chịu trách nhiệm về ý kiến của mình. Nội dung góp ý của bạn đọc được đăng tải là do Ban Biên tập tôn trọng dư luận xã hội, nhưng đó không phải là quan điểm của Tạp chí điện tử Văn hiến Việt Nam.

Nội dung

Họ tên

Email

Điện thoại

 

{{item.Title}}
  • Bình luận mới
  • Bài đọc nhiều
{{item.Title}}